TỔng kết một năm phòng ngừa sai sót thuốc của ismp ismp horsham, Pennsylvania ds. Cki. Trương Thị Tuyết Hương



tải về 135.19 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu10.08.2016
Kích135.19 Kb.
TỔNG KẾT MỘT NĂM PHÒNG NGỪA SAI SÓT THUỐC CỦA ISMP

ISMP Horsham, Pennsylvania

DS.CKI. Trương Thị Tuyết Hương

Phòng ngừa sai sót là một trong những phần quan trọng của chăm sóc dược và được xem như nhiệm vụ trọng tâm của mỗi khoa Dược,cũng như của mỗi bệnh viện, thông tin thuốc kỳ này xin được trích dịch tổng kết công tác phòng ngừa sai sót thuốc năm 2014 cùng những khuyến nghị của ISMP (viện thực hành an toàn thuốc của Mỹ). Để ngăn ngừa sai sót thuốc đạt được hiệu quả cao nhất, chúng ta cần phải đặt vấn đề này lên ưu tiên hàng đầu.

Bước đầu tiên để xây dựng chương trình phòng ngừa sai sót thuốc là xây dựng đội ngũ đa ngành để nâng cao việc sử dụng thuốc. Đội ngũ đó phải có đủ thời gian và phương tiện để đánh giá an toàn thuốc và áp dụng những thay đổi đó ở mức độ hệ thống để những sai sót từ khâu kê đơn đến điều trị cho bệnh nhân không thể xảy ra hoặc khó xảy ra. Đội ngũ này phải hiểu được qui trình sử dụng thuốc và nắm bắt cơ hội để nâng cao việc sử dụng thuốc an toàn.

Mục tiêu của đội bao gồm:



  • Cải thiện tính an toàn để giảm thiểu sai sót thuốc.

  • Tăng khả năng phát hiện và báo cáo sai sót thuốc và những tình huống sử dụng thuốc nguy hại có thể xảy ra.

  • Tìm hiểu và hiểu được căn nguyên chính của các sai sót thuốc.

  • Đào tạo cho các bác sĩ về nguyên nhân hệ thống của sai sót và cách phòng tránh.

  • Khuyến cáo các cách thức để thúc đẩy việc áp dụng chúng ở mức độ cơ sở và hệ thống để phòng ngừa sai sót thuốc.

  • Ứng phó trước với những tình huống nguy hại có thể trước khi sai sót có thể xảy ra; và

  • Học từ sai sót đã xảy ra từ các cơ sở khác thông qua Cảnh báo An toàn thuốc của ISMP! Và các lỗi về thuốc đã được biết hay chỉ rõ, và chủ động tìm những giải pháp để phòng ngừa.

Kết quả khả quan phụ thuộc vào sự hiểu biết về qui trình sử dụng thuốc qua nhiều mặt.

Thông tin trong bảng này tóm tắt tất cả các phương pháp phòng ngừa lỗi nghiêm trọng được khuyến nghị trong Cảnh báo về an toàn thuốc của ISMP! năm 2013. Lỗi trong bảng này là những lỗi đã hoặc có thể xảy ra được báo cáo đến ISMP. Mỗi bảng có 4 cột. Cột thứ nhất liệt kê thuốc, thiết bị hoặc các vấn đề liên quan khác. Cột thứ 2 miêu tả lỗi cụ thể hoặc các vấn đề liên quan. Cột thứ 3 chứa các thông tin về các khuyến cáo của ISMP chủ động chỉ rõ và phòng ngừa sai sót xảy ra. Cột thứ 4 liệt kê các công nghệ có thể hữu ích để ngăn ngừa lỗi về thuốc. Công nghệ là những công cụ mạnh mẽ trong việc phòng ngừa thuốc nhưng chỉ khi nó được sử dụng hợp lý trong một hệ thống sử dụng thuốc được xây dựng tốt.



Các điểm chính được tổng kết về các công nghệ được nên ra trong bảng 1, cùng với các tiêu chí mà ISMP cảm thấy nên thêm vào.

Các công nghệ sử dụng cho các bảng dưới 

1. Hệ thống máy tính đầu vào đơn cho người kê đơn (CPOE): Hệ thống CPOE được tích hợp đầy đủ bao gồm khả năng xây dựng các báo động về an toàn thuốc (ví dụ: các thuốc nhìn giống nhau) và các qui tắc của các quyết định lâm sàng. Thêm vào đó, hệ thống CPOE nên tương tác trực tiếp với hệ thống phòng thí nghiệm và khoa dược, ,liệt kê ra các tương tác giữa các thuốc và giữa thuốc - bệnh lý, và khả năng sàng lọc lâm sàng đơn thuốc

2. Hệ thống chăm sóc điểm bằng mã vạch (BPOC): Hệ thống này được thiết kế để ngăn ngừa các sai sót tại thời điểm dùng thuốc. Hệ thống BPOC xác nhận và lưu giữ lại tất cả các thuốc được dùng cho bệnh nhân thông qua máy quét mã vạch phù hợp với thuốc của bệnh nhân bằng cách quét mã vạch trên thuốc và mã vạch trên vòng đeo tay của bệnh nhân.

3. Các ống bơm truyền "thông minh": hệ thống truyền cho phép người sử dụng nhập nhiều qui trình sử dụng của nhiều thuốc truyền với giới hạn liều cho phép. Nếu liều được lập trình ngoài giới hạn cho phép hay các thông số lâm sàng. hệ thống bơm sẽ tạm dừng hoặc báo động cho các bác sĩ rằng liều ngoài giới hạn khuyến cáo. Một số hệ thống bơm còn tích hợp thêm giám sát bệnh nhân và các thông số khác như tuổi và tình trạng lâm sàng.

4. Tủ pha chế tự động (ADC): là hệ thống pha chế chính xác. ADC nên được tích hợp với hệ thống thông tin của trung tâm y tế và tương tác trực tiếp với hệ thống khoa dược. Thêm vào đó, ADC phải có sử dụng công nghệ mã vạch cho quá trình lưu trữ để ngăn ngừa sai sót về thuốc

5. Hệ thống đầu vào cho khoa Dược mạnh mẽ: Hệ thống vào đơn này được tích hợp đầy đủ với hệ thống CPOE. Hệ thống khoa Dược phải có khả năng cảnh báo về an toàn thuốc như tương tác trực tiếp với hệ thống thông tin của cơ sở y tế như hệ thống phòng thí nghiệm. Thêm vào đó, hệ thống này được sử dụng để hệ thống hóa các hồ sơ về thuốc đã được sử dụng bởi các y tá trong quá trình họ tiêm truyền hay sử dụng thuốc cho bệnh nhân.



Bảng 1: Các vấn đề an toàn liên quan đến ghi nhãn, đóng gói và đặt tên

Tựa đề

Vấn đề/Điểm thảo luận

Khuyến cáo

Công nghệ

Ghi nhãn dịch huyền phù acetaminophen

  • Từ "Trẻ em" ở trên nhãn của bình đựng đơn vị thuốc của 325 và 650mg Acetaminophen dịch huyền phù, có nghĩa là tổng liều trong ly phù hợp cho trẻ em.

  • Phụ thuộc vào tuổi và cân nặng của trẻ, 325 hoặc 650mg có thể quá liều so với trẻ.

  • Đối với trẻ em, quầy thuốc nên phân phát liều cụ thể của dịch huyền phù acetaminophen trong ống dạng uống cho bệnh nhân.

  • Ly đơn vi liều chỉ nên được phát nếu liều cho trẻ chính xác với tổng liều ở trong ly (325 hoặc 650mg)

1,2

Liều ban đầu của ED không “ngăn ngừa trẻ em”

  • EDs hay các bác sĩ thường cho bệnh nhân về nhà với mẫu thuốc hay các liều ban đầu trong bì đựng thuốc không “ngăn ngừa trẻ em”.

  • Nếu thuốc được phân phát trong túi nhựa hoặc bao bì, trẻ em có thể dễ dàng mở chúng.

  • Các vấn đề an toàn khác với mẫu thuốc và liều ban đầu bao gồm có rất ít hoặc không có ghi nhãn chỉ dẫn sử dụng và không thể giám sát số lô và hạn sử dụng.

  • Các cở sở phân phát mẫu thuốc hoặc liều ban đầu nên đánh giá thực hành của họ và thay đổi qui trình của họ nếu cần để đảm bảo an toàn cho bệnh nhân và trẻ em.

  • Với sự gia tăng về số lượng các quầy thuốc hoạt động 24/24, không cần thiết phải sử dụng các mẫu thuốc hay liều ban đầu.




Thay đổi trong ghi nhãn heparin

  • Vào tháng năm 2013, nhãn của lọ thuốc heparin phải ghi rõ tổng đơn vị trong lọ chứa cũng như đơn vị mỗi ml, hơn là chỉ ghi mỗi đơn vị mỗi ml như trước đây

  • Nhãn cũ chỉ ghi đơn vị mỗi ml có thể dẫn đến quá liều do nhầm lẫn rằng đơn vị mỗi ml là tổng đơn vị trong lọ.

  • Nếu có cả 2 lọ heparin với nhãn mới và cũ , nguy cơ nhầm lẫn đơn vị mỗi ml và tổng đơn vị của lọ càng cao hơn.

  • Để giảm thiểu nguy cơ nhầm lẫn, bệnh viện nên thực hiện chuyển đổi hoàn toàn sang lọ heparin nhãn mới, thậm chí là bỏ đi các lọ heparin nhãn cũ.

  • Một giải pháp thay thế là các dược sĩ có thể dán nhãn thêm ghi rõ tổng đơn vị trong lọ vào lọ heparin nhãn cũ

  • Nếu có đủ chỗ, dược sĩ hay các y tá nên ghi rõ lượng thuốc giống như cách chúng được ghi trên nhãn lọ (ví dụ 10,000 units/10ml [1,000 units/ml]).

1,2,5

Vacin cúm – luôn luôn lắc đều

  • Một dược sĩ được chứng nhận về tiêm chủng nói rằng ông ấy không biết rằng tất cả các vacin cúm cần được lắc đều trước khi sử dụng.

  • Hộp đựng vacin có ghi rõ “lắc đều”, nhưng lọ hay ống của vacin cúm ISMP kiểm tra đều không có nhãn này.

  • Các vacin cúm dạng tiêm đều ở dạng nhũ tương, ngoại trừ FLUBLOK (Protein Sciences) là dạng dung dịch.

  • Tất cả các vacin cúm dạng tiêm bao gồm Flublok phải được lắc đều trước khi sử dụng, bất kể chúng được đóng gói dưới dạng lọ đơn hay đa liều, hoặc ở dạng ống tiêm.

  • Đây là một nhắc nhở cho những chuyên gia sức khỏe và các nhân viên văn phòng người chịu trách nhiệm tiêm vacin cúm




Các sản phẩm có dung tích lớn làm tăng nguy cơ sai sót

Một lọ 50ml lindocaine được rút khỏi tủ ADC thay vì lọ 50ml 50% Dextrose.

  • Giới hạn các lọ lindocaine ở dạng 10ml hoặc 20ml để phân biệt với các thuốc khác ở chai đựng 50ml, như Natri bicarbonate, 50% Dextrose, và manitol.

  • Giải pháp này còn giúp giảm nguy cơ gây hại trong trường hợp nhầm lẫn giữa các lọ nếu cả lọ được dùng.

  • Giảm dung tích lọ cũng làm hạn chế nguy cơ bị nhiễm bẩn dung dịch, vì chúng được dùng nhiều lần.

2,4













Bảng 2: Các vấn đề về an toàn liên quan đến đọc đơn thuốc

Tựa đề

Vấn đề/Điểm thảo luận

Khuyến cáo

Công nghệ

Nhầm lẫn về hàm lượng bào chế cũ

  • Nguy cơ khi sử dụng hàm lượng bào chế như “gr” (grains) đối với một số thuốc như sắt sulfat và phenoobarbital.

  • Grains có thể bị nhầm lẫn với “g” (grams)

  • Xem xét việc mua các sản phẩm từ nhà sản xuất không sử dụng kiểu hàm lượng bào chế này trên nhãn để giảm thiểu nguy cơ nhầm lẫn.

  • Nếu không thể, phải đảm bảo rằng tất cả các nhãn được dán ở quầy thuốc cho những sản phẩm này không có hàm lượng bào chế




Doxorubicin liposome dạng tiêm

  • Những lo ngại về độ an toàn ở mảng miêu tả sản phẩm đối với một số sản phẩm Doxorubicin liposome tên generic được FDA phê duyệt vào tháng 2 năm 2013.

  • Liệt kê của sản phẩm này không phản ánh đúng với hệ thống thông tin về thuốc hay hệ thống máy tính.

  • Nhầm lẫn giữa thuốc này với các sản phẩm cũ có thể dẫn đến tử vong.

  • Kiểm tra để chắc chắn rằng thuốc được liệt kê đúng với tên “Doxorubicin HCl liposome dạng tiêm” trong hệ thống máy tính.

  • ISMP gợi ý nên sử dụng HCl thay vì hydrochlorid để chèn vào chỗ liposome gần Doxorubicin, sẽ giúp dễ đọc hơn.

  • Cụm từ “pegylated” hoặc “peg-” (thỉnh thoảng đứng trước liposome), không cần thiết.

  • Để làm nổi bật liposome, một số bệnh viện còn đánh dấu sao nó (*liposome*)

1,5

Bảo vệ những bệnh nhân có nguy cơ

  • Sai sót khi dùng thuốc xảy ra ở các cơ sở chăm sóc lâu dài thường bắt đầu ở các bệnh viện.

  • Các nghiên cứu chỉ ra rằng có sự không đồng nhất lớn giữa thuốc trong tổng kết xuất viện và tờ chuyển, dẫn đến tỉ lệ lsai sót >21% trong quá trình chuyển từ bệnh viện sang các cơ sở chăm sóc lâu dài, cụ thể đối với các thuốc như warfarin, insulin, opioid và các thuốc tim mạch.

  • Ví dụ, thông tin không cần thiết bao gồm hàm lượng của insulin (100 đơn vị/ml) mà quên kèm theo liều thực tế insulin trong tờ chuyển làm cho các y tá tại các trung tâm chăm sóc lâu dài nhầm lẫn rằng đó là liều của bệnh nhân mới, và cuối cùng dẫn đến cái chết của bệnh nhân.

  • Lập ra danh sách những thuốc thường không cần phải tiếp tục sử dụng sau khi xuất/ chuyển viện, và kiểm tra lại trong quá trình đáng giá thuốc khi xuất viện để xác định lại.

  • Đòi hỏi người kê đơn xác nhận tổng kết xuất viện, và thống nhất đơn chuyển viện với tổng kết xuất viện để hỗ trợ việc so sánh và đồng nhất.

  • Dược sĩ xem xét các thuốc đã được kê đơn đối với những bệnh nhân chuyển viện sang các cơ sở chăm sóc lâu dài, và đưa ra lý do về sự khác biệt giữa thuốc xuất viện với thuốc đã được dùng tại bệnh viện.

  • Chuẩn hóa các giấy tờ liên quan đến đơn chuyển viện.




Chức năng tìm kiếm dẫn đến chọn thuốc sai

  • Một bác sĩ kê đơn đánh “aceta” để nhập vào đơn điện tử acetaminophen đã chọn nhầm acetaZOLAMIDE từ công cụ tìm kiếm. May mắn là khác biệt về liều và số lần dùng đã giúp cho việc nhận diện ra sai sót ngay sau đó.

  • Một số cặp tên thuốc có thể dẫn đến những kiểu sai sót như thế: hydroxychloroquine/ hydroxyurea; MUCOMYST (acetylcystein)/ MUCINEX (guaifenesin); valACYclovir/ valGANciclovir; penicillAMINE/ penicillin.

  • Sử dụng chữ in hoa để phân biệt các thuốc có tên gần giống nhau.

  • Đòi hỏi phải gõ nhiều chữ cái hơn khi tìm kiếm thuốc trong dữ liệu điện tử (một vài hệ thống đòi hỏi phải đánh một số lượng chữ cái nhất định trước khi danh sách hiện ra).

  • Đòi hỏi đánh vào mục đích sử dụng của thuốc đối với những thuốc có tên tương tự hoặc cảnh báo cho dược sĩ về chỉ định đúng với tình trạng bệnh lý của bệnh nhân với chỉ định thuốc.

1,5

Bảng 3: Các vấn đề liên quan đến thông tin thuốc, thông tin bệnh nhân và đào tạo nhân viên

Tựa đề

Vấn đề/Điểm thảo luận

Khuyến cáo

Công nghệ

Trường hợp chết người ở bệnh nhân sử dụng thuốc chủ động để kiểm soát đau do không giám sát kĩ

  • Một bệnh nhân phẫu thuật chưa từng dùng opioid bắt đầu sử dụng morphine chủ động để kiểm soát đau với liều theo nhu cầu là 3mg, 10 phút khóa, và với tốc độ nền là 1mg/h.

  • Vào buổi tối đó, bệnh nhân được phát hiện suy hô hấp và chết.

  • Lỗ hổng trong việc giám sát bệnh nhân, bao gồm thất bại trong việc sử dụng máy đo oxy dựa vào mạch, mặc dầu trong phòng bệnh nhân có đầy đủ các trang thiết bị, là nguyên nhân quan trọng nhất. Cùng với lý do là không nhận biết được dấu hiệu tiến triển của suy hô hấp sắp xảy ra.

  • Đánh giá vật lý cơ bản, dấu hiệu sinh tồn, và các thông số khác đóng vai trò cực kì quan trọng khi theo dõi bệnh nhân đang dùng thuốc chủ động để kiểm soát cơn đau.

  • Mức độ đau của bệnh nhân, tình trạng hô hấp, và an thần phải được đánh giá liên tục.

  • An thần thường diễn ra trước khi xảy ra suy hô hấp trầm trọng, vì vậy nhận biết sớm an thần quá mức và có các biện pháp can thiệp là cấp thiết.

  • Đánh giá hô hấp nên bao gồm đánh giá tần số, độ sâu, chất lượng hô hấp, dạng hô hấp, và âm thở.

  • Kĩ thuật máy thở có giám sát liên tục được khuyến cáo đối với những bệnh nhân có nguy co suy hô hấp, và nên được xem xét sử dụng cho tất cả bệnh nhân đang dùng thuốc chủ động để kiểm soát đau




Sử dụng thuốc dùng ở tử cung

  • Một số qui trình thực hiện ở tử cung đòi hỏi tiêm thuốc trực tiếp vào thai nhi.

  • Bởi vì thai nhi không có ghi nhận về thuốc, những thuốc cho em bé tỉnh thoảng được ghi trong hồ sơ của mẹ.

  • Để chuẩn bị cho việc truyền thuốc vào tử cung cho thai nhi, thuốc đối kháng thần kinh cơ được dùng cho thai nhi.

  • Thuốc được viết trong hồ sơ của mẹ được tiêm IV cho mẹ dẫn đến ngừng hô hấp.

  • Mẹ chết và con cũng chịu những tổn thương thần kinh lâu dài.

  • Lập ra qui trình kê đơn thuốc cho thai nhi (ví dụ như hồ sơ tạm thời, hồ sơ cho bé sử dụng nhân thân mẹ) nếu hồ sơ y tế cho bé không thể thực hiện được.

  • Tránh kê đơn thuốc cho thai nhi trên hồ sơ của mẹ.

  • Xây dựng thuốc dành cho thai nhi.

  • Quá trình chuẩn bị thuốc ở khoa dược và ghi nhãn nên ghi rõ là thuốc được dùng cho thai nhi.

  • Dành thời gian cho quá trình xác nhận thông tin trước khi tiêm thuốc cho thai nhi.

1,5

Cập nhật thông tin khi thiếu thuốc

  • Một y tá sử dụng sai lượng thuốc naloxone dựa trên thẻ thông tin trên xe đẩy, lọ với hàm lượng 0.4mg/ml (2ml) được sử dụng

  • Do không có thuốc, naloxone 1mg/ml (2ml) được lưu trữ trong xe đẩy, nhưng thẻ thông tin không cập nhật sự thay đổi này.

  • Ghi nhớ cập nhật tất cả các nguồn thông tin hoặc các kĩ thuật hiện có khi bắt buộc sử dụng hàm lượng thay thế hoặc thuốc thay thế khi thiếu thuốc.

1,3,4

Bảng 4: Những lo ngại liên quan đến kiểm soát nhiễm khuẩn

Tựa đề

Vấn đề/Điểm thảo luận

Khuyến cáo

Công nghệ

Nhiễm khuẩn chéo đối với các lọ insulin

  • Một y tá tại một nhà tù sơ suất tiêm nhầm ống tiêm insulin rỗng cho một tù nhân bị viêm gan C trước khi nó được làm đầy. Sau khi nhận ra, cô ấy sử dụng chính ống tiêm và kim tiêm đó để rút insulin từ lọ ra.

  • Lọ đó sau đó được dùng để chuẩn bị liều cho những bệnh nhân khác, và hơn 70 bệnh nhân nữa bị nhiễm viêm gan C

  • Sử dụng lọ insulin 3ml, số lượng bệnh nhân bị nhiễm sẽ ít hơn nếu lọ đó bị nhiễm bẩn.

  • Nếu có thể, kho dược nên chuẩn bị liều insulin cho mỗi bệnh nhân từ đó sẽ làm giảm đáng kể nguy cơ nhiễm chéo.




Thiết bị bút tiêm đa liều

  • Nhiều bệnh nhân bị nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C bởi vì bút tiêm insulin được tái sử dụng cho nhiều hơn 1 bệnh nhân sau khi chỉ thay kim tiêm.

  • Nghiên cứu chỉ ra rằng nhiễm khuẩn do dòng máu chảy ngược vào bút tiêm sau khi tiêm có khả năng xả ra.

  • Các cảnh báo liên tiếp được đưa ra từ FDA, CDC và ISMP đã không có tác dụng nhiều trong việc giảm thiểu các sai sót này.

  • Cách tốt nhất để làm giảm nguy cơ liên quan đến nhiễm khuẩn chéo là không sử dụng bút tiêm insulin ở bệnh viện.

  • Các cơ sở Bộ cựu chiến binh đã nghiêm cấm việc sử dụng bút tiêm đa liều insulin ở các cơ sở y tế, và ISMP hối thúc các cơ sở y tế khác làm như vậy.




Thực hành pha chế vô trùng

  • Một khảo sát của ISMP cho thấy đến 29% các kĩ thuật viên khoa Dược báo cáo về nhiễm khuẩn của các sản phẩm pha chế vô trùng xảy ra ở cơ sở của họ trong năm ngoái.

  • Khảo sát cũng cho thấy chỉ 50% dược sĩ tự tin khi cho rằng nhiễm khuẩn không xảy ra.

  • Một báo cáo được ủy nhiệm ở Massachusetts về pha chế vô trùng khuyến cáo nên có các cuộc giám sát chặt chẽ và cấp phép cho các khoa dược pha chế và yêu cầu hiệp hội dược xem xét lại hoạt động pha chế ở bệnh viện và các địa điểm khác như phòng khám.

  • Các bệnh viện nên sử dụng “Các hành động từ hội nghị ISMP về an toàn trong bào chế và pha chế vô trùng: Hướng dẫn về pha chế an toàn các sản phẩm vô trùng” như là nguồn tài liệu để xác định cơ hội cho các cải tiến về thực hành bào chế ở bệnh viện.




Chuyển đổi từ dạng bút tiêm insulin sang lọ

  • Các nhân viên y tế quen với việc sử dụng bút tiêm insulin có thể thiếu hiểu biết về rút liều insulin từ lọ.

  • Thiết kế U-100 trên lọ insulin đã bị hiểu nhầm là 100 đơn vị mỗi lọ, dẫn đến quá liều.

  • Các lọ insulin thường giống nhau do đó dễ dẫn đến nhầm lẫn.

  • Trước khi chuyển từ bút tiêm insulin, nên tiến hành FMEA để chủ động nhận biết được các vấn đề có thể phát sinh và đào tạo lại cho các nhân viên liên quan đến các qui trình đong liều, các kĩ thuật tiêm, và sử dụng ống tiêm insulin.

  • Nếu có thể, khoa Dược nên chuẩn bị, ghi nhãn và phân phát insulin nền của mỗi bệnh nhân cụ thể hàng ngày.

  • Nên có các ống tiêm insulin với các kích cỡ đa dạng (1,0.5, 0.3ml) đơn vị bất cứ khi nào insulin được sử dụng và trong bộ dụng cụ chữa trị bệnh cao kali máu.




Bảng 5: Các thiết bị y tế và các vật dụng khác

Tựa đề

Vấn đề/Điểm thảo luận

Khuyến cáo

Công nghệ

Đánh giá kiểm tra kép độc lập

  • Những người ít tìm ra lỗi nên được xem xét lại giá trị của kiểm tra kép độc lập.

  • Việc áp dụng nó tạo ra lo lắng đối với các nhân viên bận rộn và việc sử dụng quá đà nó đối với những thuốc đòi hỏi cảnh giác cao mặc dầu nó là một phương pháp giảm thiểu nguy cơ kém, cụ thể nếu nó chỉ đóng vai trò an toàn sẵn có.

  • Không đồng nhất trong việc sử dụng, sự khác nhau về hiệu quả và cách làm bề ngoài đã cho thấy phương pháp này ít hiệu quả hơn dự đoán.

  • Tuy nhiên, các nghiên cứu cho thấy phương pháp này có thể phát hiện đến 95% lỗi, vì vậy tiến hành phương pháp này rất đáng bỏ công sức và thời gian nếu làm đúng cách.

  • Kiểm tra kép là phương pháp hiệu quả nhất khi tiến hành độc lập, nghiêm túc và khi sử dụng đối với các công tác có nguy cơ lỗi cao hoặc các thuốc đòi hỏi cảnh giác cao.

  • Đánh giá lại các qui trình đòi hỏi phải có kiểm tra kép, theo dõi thực hành chúng, đáng giá bao lâu kiểm tra được tiến hành đúng cách và sau đó xem xét lại để nâng cao tính hiệu quả.

  • Tránh phụ thuộc chủ yếu vào phương pháp này như là một phương pháp an toàn. Càng ít kiểm tra kép ở những bước quan trọng nhất trong quá trình sử dụng thuốc sẽ đem lại hiệu quả hơn.







Danh sách thuốc đòi hỏi cảnh giác cao và các phương pháp giảm thiểu nguy cơ

  • Mặc dù nhiều bệnh viện đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu của Hiệp hội, một vài bệnh viện không có danh sách các thuốc cần cảnh giác cao hợp lý và cũng không có qui trình đủ mạnh để quản lý các thuốc trong danh sách đó.

  • Thay vào đó, việc xây dựng danh sách các thuốc cần cảnh giác cao một cách hời hợt và không được nhiều bác sĩ biết đến, và phụ thuộc và các phương pháp giảm thiểu nguy cơ tác dụng thấp để ngăn ngừa lỗi.

  • Một danh sách các thuốc cần cảnh giác cao trở nên vô dụng nếu không được cập nhật, được biết đến bởi tất cả các nhân viên lâm sàng, và được kết hợp với các phương pháp giảm thiểu nguy cơ mạnh hơn là sự nhận thức, phương pháp kiểm tra kép, đào tạo nhân viên và cảnh báo “cẩn thận”.

  • Cập nhật thường xuyên danh sách các thuốc cần cảnh giác cao của bệnh viện và áp dụng các phương pháp giảm thiểu rủi ro chỉ ra những nguyên nhân của các lỗi đó, đã được xác định thông qua các tìm kiếm y văn, thông tin từ ISMP, phân tích các báo cáo nội bộ, và FMEA.

  • Trải dài các phương pháp giảm thiểu rủi ro ở nhiều bước của các quá trình sử dụng thuốc nếu có thể.

  • Kết hợp giữa các phương pháp giảm thiểu nguy cơ tác dụng thấp như đào tạo nhân viên, và sử dụng các nhắc nhở của các phương pháp giảm thiểu nguy cơ tác dụng cao như các chức năng bắt buộc, tối ưu hóa khả năng tiếp cận thông tin, giới hạn sử dụng, chuẩn hóa, và đơn giản hóa.







Các ống bơm truyền

  • Một y tá cần tiêm Ciprofloxacin nhưng không thể tìm thấy thuốc trong hệ thống danh sách của máy bơm thông minh.

  • May mắn thay, cô ấy đã không bỏ qua chức năng kiểm tra liều của hệ thống và tiêm thuốc.

  • Theo dõi sau đó cho thấy hệ thống bơm đó được mang từ cơ sở khác trong quá trình vận chuyển bệnh nhân.

  • 2 hệ thống bơm nhìn rất giống nhau, chỉ có tên công ty ở phần phía trên màn hình là khác nhau.

  • Xây dựng qui trình nêu rõ các để sử dụng các ống bơm truyền (hoặc các thiết bị khác) trong quá trình chuyển bệnh.

  • Xem xét việc dán thêm các nhãn phụ lớn với tên của bệnh viện mình lên tất cả hệ thống ông bơm đang hiện có.

  • Nếu đang sử dụng bơm bên ngoài, chúng nên được xóa danh sách cũ bởi các kĩ sư y sinh và cài danh sách đặc trưng của bệnh viện vào.

3

Bảng 6: Mục tiêu về thực hành tốt nhất về tính an toàn sử dụng thuốc trong bệnh viện của ISMP năm 2014-2015.

Tựa đề

Vấn đề/Điểm thảo luận

Khuyến cáo

Công nghệ

Acid acetic “băng”

  • Đã xảy ra nguy hại cho bệnh nhân khi chất hóa học độc hại bị nhầm lẫn với các sản phẩm uống, hoặc dạng rất đậm đặc của một hóa chất nào đó sử dụng sai trong điều trị bệnh nhân.

  • Tai nạn bôi các sản phẩm dùng ngoài ở dạng “băng” (bằng hoặc lớn hơn 99.5%) acid acetid đã liên tục gây hại cho bệnh nhân bao gồm: cảm giác rất đau, tổn hại mô nghiêm trọng, bỏng độ 3, và một trường hợp là cụt 2 chân.

  • Thường thì trong những trường hợp này, các chất này được mua một cách khách quan hoặc được sử dụng ở dạng pha loãng nhiều lần của acid acetic như dấm, hoặc các sản phẩm thương mại khác 0.25% acid acetic.

  • Mục đích của thực hành tốt nhất là ngăn ngừa các nguy cơ gây hại do việc sử dụng acid acetic “băng” trực tiếp lên bệnh nhân. Loại bỏ hoàn toàn việc sử dụng acid acetic “băng” ở bệnh viện.

  • Loại bỏ một cách an toàn sản phẩm này khỏi tất cả các khu vực lâm sàng của bệnh viện (bao gồm khoa Dược, các khu khám, và khoa phòng) và thay bằng dấm (dung dịch 5%) hoặc dạng pha loãng thương mại acid acetic 0.25% để rửa hoặc 2% dùng co mắt.




Liều Methotrexate

  • Từ những năm 1996, và gần đây năm 2013, các lỗi nghiêm chết người đã được báo cáo cho ISMP về liều tử vong hàng ngày của methotrexate dạng uống (liều sử dụng hàng tuần).

  • Lỗi kê đơn xảy ra khi các bác sĩ người đã quen với việc kê quá nhiều thuốc sử dụng hàng ngày, do đó sơ sót kê thuốc này sử dụng hàng ngày thay vì hàng tuần.

  • Lỗi phân phát xảy ra cũng theo cách tương tự, khi các kĩ thuật viên khoa Dược và các dược sĩ sai sót trong việc chọn/thông qua liều hàng ngày thay vì hàng tuần trong quá trình nhập hoặc xác nhận.

  • Mục tiêu của thực hành tốt là để ngăn ngừa những lỗi liên quan đến sơ sót trong sử dụng liều hàng ngày của thuốc methotrexate dạng uống, ở cả bệnh nhân nội trú và xuất viện.

  • Sử dụng liều hàng tuần mặc định cho methotrexate dạng uống.

  • Nếu mặc định hàng tuần bị vượt qua, đòi hỏi phải có xác nhận về chỉ định của các chuyên gia ung thư.

  • Dược sĩ đào tạo cho bệnh nhân về tất cả các đơn methotrexate dạng uống hàng tuần.

  • Đảm bảo bệnh nhân nhận được các tờ thông tin hướng dẫn bao gồm các chỉ dẫn về lịch dùng liều hàng tuần.

  • Để bệnh nhân lặp lại hướng dẫn để chắc chắn bệnh nhân hiểu được lịch dùng liều hàng tuần và thuốc không được sử dụng để kiểm soát triệu chứng.

1,5

Các vật dụng chia liều dạng uống

  • ISMP đã nhận được hơn 50 báo cáo nhầm lẫn giữa ml và các cách thức đo đạc tại nhà như giọt và muỗng đầy dẫn đến các tai nạn phải nhập viện.

  • Việc sử dụng hệ thống bào chế cũng gây ra nhầm lẫn giữa drams và ml và các đo đạc khác như ounces và muỗng cà phê.

  • Các nhầm lẫn được báo cáo lần đầu bởi ISMP vào năm 2000 và tiếp tục nhận báo cáo về các lỗi dùng thuốc do nhầm lẫn giữa các đơn vị đo đạc.

  • Mục đích của thực hành tốt hướng tới sử dụng các vật dụng đong liều các thuốc dạng lỏng (đặc biệt là ống tiêm dạng uống, tách, hoặc dạng giọt) chỉ dùng thang ml.

  • Mua các vật dụng đong liều chất lỏng (ống tiêm dạng uống, tách, hoặc dạng giọt) chỉ dùng thang ml.

  • Thêm vào đó, nếu bệnh nhân xuất viện với các thuốc dạng chất lỏng nên cung cấp cho họ (hoặc đơn của họ) ống tiêm dạng uống để đảm bảo họ đong liều với thang ml.




Pha chế dung dịch uống

  • ISMP tiếp tục nhận được các báo cáo về những bệnh nhân được tiêm IV bằng các thuốc dung dịch lỏng dạng uống, và đôi khi dẫn đến nguy hiểm.

  • Vấn đề này xảy ra thường khi các chất lỏng được pha chế lập tức hoặc được phân phát ở dạng ống tiêm tĩnh mạch có kết nối với dây truyền.

  • Các nguy hại cũng có thể xảy ra khi chất lỏng trong viên con nhộng (niMODipine) được lấy ra để sử dụng với mục đích uống qua đường mũi-dạ dày hoặc các ống khác thay bằng ống tiêm tĩnh mạch và rồi được sử dụng tiêm IV.

  • Đầu ống tiêm dạng uống được thiết kế sao cho không thích hợp với dây dẫn tĩnh mạch để ngăn ngừa sai sót khi gắn chúng vào dây dẫn.

  • Mục đích của thực hành tốt là để ngăn ngừa việc không cố ý sử dụng các thuốc dạng uống qua đường IV.

  • Đảm bảo rằng các dung dịch dạng uống không có ở dạng thương mại với đúng liều đơn vị, phải được phân phát tại khoa Dược ở dạng ống tiêm dạng uống.

  • Sử dụng các ống tiêm dạng uống có dán nhãn “Chỉ sử dụng để uống”

  • Sử dụng các ống tiêm dạng uống không thể gắn vào các dây dẫn tĩnh mạch sử dụng trong bệnh viện.

  • Thêm vào đó, chỉ sử dụng nhãn kèm “chỉ sử dụng để uống” nếu nó không che các thông tin quan trọng bởi vì chữ in trên ống tiêm dạng uống rất nhỏ.







Vincristine trong túi nhỏ

  • Kết quả từ tự đánh giá an toàn thuốc quốc tế của ISMP 2012 khoa Ung thư cho thấy chỉ 54% bệnh viện ở Mỹ phát thuốc Vincristine trong túi nhỏ để ngăn ngừa nhầm lẫn với tiêm tủy sống.

  • Đến này, có 120 trường hợp đã xuất bản về các tai nạn tiêm nhầm tủy sống đối với vinCRIStine khi thuốc được phát ở dạng ống tiêm, và không trường hợp nhầm lẫn nảo đối với dạng túi nhỏ.

  • Khi vinca alkaloid được tiêm vào tủy sống, hệ thống thần kinh trung ương sẽ bị phá hủy.

  • Mặc dầu đã có những cảnh báo liên tiếp từ các trung tâm trong nước và quốc tế, trường hợp tử vong do lỗi tương tự vẫn tiếp tục xảy ra.

  • Mục tiêu của thực hành tốt là đảm bảo vinca alkaloid chỉ được tiêm theo đường IV. Phát vica alkaloid ở dạng túi nhỏ với dung dịch thích hợp , và không bao giờ phát hoặc tiêm thuốc này ở dạng ống tiêm.

  • Pha loãng thuốc ở túi nhỏ để làm dung tích quá lớn để có thể tiêm tủy sống (ví dụ 25ml đối với bệnh nhân nhi và 50ml đối với người lớn).

  • Nghiêm cấm sử dụng vinca alkaloid IV ở các khu vực có sử dụng/lưu trữ thuốc tiêm tủy sống.

  • Xác nhận bất cứ thuốc tiêm tủy sống nào trước khi phát IV vinca alkaloid.

1,5

NGUỒN:

  1. Institute for Safe Medication Practices. ISMP Medication Safety Alert! Acute Care Edition newsletters 2014.www.ismp.org/​newsletters/​default.asp. Accessed April 4, 2015.

  2. Pharmacy practice News. Medication Errors: A year in review. [updated April 3 2015; cited April 4 2015]. Available from: http://pharmacypracticenews.com/ViewArticle.aspx?d=Special+Edition+%2f+Educational+Reviews&d_id=63&i=November+2014&i_id=1118&a_id=28615.





Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương