Tông huấn "Lời Chúa" của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI


Sách Thánh và hội nhập văn hóa



tải về 0.68 Mb.
trang11/11
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.68 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Sách Thánh và hội nhập văn hóa

113.Mầu nhiệm nhập thể cho ta thấy dù Thiên Chúa luôn thông đạt trong một lịch sử cụ thể, tiếp nhận qui tắc văn văn hóa dính kết trong đó, nhưng cùng một lời có thể và phải được chuyển giao trong nhiều nền văn hóa khác nhau, biến đổi các nền văn hóa này ngay từ bên trong, nhờ điều được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI gọi là phúc âm hóa các nền văn hóa (364). Như chính đức tin Kitô Giáo, lời Chúa có một đặc điểm liên văn hóa sâu sắc; nó có khả năng gặp gỡ nhiều nền văn hóa khác nhau và ngược lại, giúp các nền văn hóa này gặp gỡ nhau (365).

Ở đây, ta cũng có thể đánh giá được sự quan trọng của việc hội nhập văn hóa của Tin Mừng (366). Giáo Hội hoàn toàn xác tín rằng lời Chúa cố hữu vẫn có khả năng nói với mọi con người nhân bản trong chính ngữ cảnh văn hóa riêng của họ: “xác tín này phát sinh từ chính Sách Thánh, là Sách ngay từ Cuốn Sáng Thế, đã tiếp nhận một quan điểm phổ quát (xem St 1:27-28), sau đó vẫn duy trì quan điểm này trong lời chúc phúc hứa ban cho mọi dân tộc qua Ápraham và con cháu ông (xem St 12:3; 18:18), và củng cố nó một cách dứt khoát khi mở rộng việc công bố Tin Mừng đến ‘mọi dân tộc’” (367). Vì lý do này, không nên lẫn lộn việc hội nhập văn hóa với diễn trình thích ứng hời hợt bên ngoài, càng không nên lẫn lộn nó với chủ nghĩa chiết trung bừa bãi chỉ nhằm làm loãng tính độc đáo của Tin Mừng để được người ta chấp nhận dễ dàng hơn (368). Mẫu mực hội nhập văn hóa chân chính chính là việc nhập thể của Ngôi Lời: “Hội nhập văn hóa sẽ thực sự phản ảnh được việc nhập thể của Ngôi Lời khi một nền văn hóa, nhờ được Tin Mừng biến đổi và tái sinh, đem lại được từ truyền thống sống động của mình các phát biểu độc đáo về lối sống, lối cử hành và lối suy tư Kitô Giáo” (369), dùng làm chất men ngay trong nền văn hóa địa phương, nâng cao semina Verbi (hạt giống lời Chúa) và mọi yều tố tích cực hiện diện trong nền văn hóa ấy, do đó, mở cửa nền văn hóa ấy cho các giá trị của Tin Mừng bước vào (370).

Phiên Dịch Thánh Kinh và làm nó được nhiều người sử dụng hơn

114. Việc hội nhập văn hóa lời Chúa là một phần cấu thành ra sứ mệnh của Giáo Hội trong thế giới, và giây phút có tính quyết định trong diễn trình ấy chính là việc phổ biến Sách Thánh qua công trình phiên dịch nó sang các ngôn ngữ khác nhau. Ở đây, ta nên luôn luôn nhớ rằng công việc phiên dịch Sách Thánh đã từng được đảm nhiệm “từ thời Cựu Ước khi bản văn Hípri của Sách Thánh được phiên dịch bằng lời sang tiếng Aram (xem Nh 8:8, 12) và sau đó bằng chữ viết sang tiếng Hy Lạp. Dĩ nhiên, một bản dịch luôn luôn hơn một bản sao chép đơn thuần từ nguyên bản. Việc chuyển dịch từ ngôn ngữ này sang một ngôn ngữ khác nhất thiết bao gồm một thay đổi ngữ cảnh văn hóa: các ý niệm không còn y hệt (identical) và các biểu tượng sẽ có một ý nghĩa khác, vì chúng xuất hiện trong bối cảnh truyền thống tư duy và lối sống khác” (371).

Tại Thượng Hội Đồng, người ta thấy rõ: một số Giáo Hội địa phương vẫn còn thiếu một bản dịch đầy đủ bộ Thánh Kinh sang ngôn ngữ riêng của họ. Biết bao người ngày nay đang đói khát lời Chúa, ấy thế mà họ vẫn chưa có “cơ hội rộng rãi sử dụng Sách Thánh” (372) như Công Đồng Vatican II ước muốn! Vì lý do này, Thượng Hội Đồng cho rằng việc quan trọng hơn cả là huấn luyện các nhà chuyên môn để họ dấn thân vào việc phiên dịch Sách Thánh sang các ngôn ngữ khác nhau (373). Tôi muốn khuyến khích việc đầu tư tài nguyện vào lãnh vực này. Cách riêng, tôi muốn khuyến cáo việc hỗ trợ công trình của Liên Hội Thánh Kinh Công Giáo nhằm mục tiêu gia tăng hơn nữa con số các bản dịch Sách Thánh và việc truyền bá chúng (374). Vì chính bản chất của một công trình như thế, nó cần được tiến hành với sự hợp tác hết sức có thể với các Hiệp Hội Thánh Kinh khác nhau.

Lời Chúa vượt trên mọi giới hạn văn hóa

115. Trong các phiên thảo luận của mình về mối tương quan giữa lời Chúa và các nền văn hóa, Cuộc Họp của Thượng Hội Đồng cảm thấy cần phải tái khẳng định một điều mà các Kitô hữu ban đầu từng cảm nghiệm ngay từ ngày Lễ Ngũ Tuần (Cv 2:1-2). Lời Chúa có khả năng đi vào và tìm ra biểu thức trong nhiều nền văn hóa và ngôn ngữ khác nhau, ấy thế nhưng cùng một lời nói ấy đã thắng vượt các giới hạn của các nền văn hóa cá biệt để tạo ra sự hiệp thông giữa nhiều dân tộc khác nhau. Lời Chúa kêu mời ta tiến về một hiệp thông mỗi lúc một bao quát hơn. “Ta vượt thoát các giới hạn trong chính cảm nghiệm của ta để bước vào thực tại thực sự phổ quát. Bước vào hiệp thông với lời Chúa, là ta bước vào hiệp thông của Giáo hội, một hiệp thông sống lời Chúa… Nó có nghĩa đi quá bên kia các giới hạn của nền văn hóa cá thể mà bước vào tính phổ quát vốn nối kết tất cả, hợp nhất tất cả, làm tất cả chúng ta nên anh chị em” (375). Việc công bố công trình của Chúa như thế luôn đòi hỏi ở ta trước tiên một cuộc xuất hành mới, để ta để lại phía sau chính các tiêu chuẩn và trí tưởng tượng hữu hạn của mình và dành chỗ cho Chúa Kitô hiện diện.



Lời Chúa và đối thoại liên tôn

Giá trị của đối thoại liên tôn

116. Giáo Hội coi phần chủ yếu trong việc công bố lời Chúa là hệ ở việc gặp gỡ, đối thoại và hợp tác với mọi người thiện chí, nhất là với tín hữu của các truyền thống tôn giáo khác nhau của nhân loại. Điều này phải diễn ra mà không có những hình thức như duy chiết trung và duy tương đối, mà là theo những đường hướng mà Tuyên Ngôn Nostra Aetate của Công Đồng Vatican II đã đưa ra và sau đó được huấn quyền của nhiều vị Giáo Hoàng khai triển (376). Ngày nay, nhịp độ hoàn cầu hóa mau chóng đã làm cho người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác nhau có thể tiếp xúc với nhau một cách gần gũi hơn. Điều này cho thấy một cơ hội đầy quan phòng để chứng tỏ việc tính tôn giáo chân thực có thể cổ vũ dễ dàng xiết bao các liên hệ huynh đệ phổ quát. Trong các xã hội thế tục hóa của ta hiện nay, điều rất quan trọng là các tôn giáo cần có khả năng cổ vũ được một não trạng biết coi Đấng Toàn Năng là nền tảng của mọi điều thiện, là nguồn bất tận của đời sống luân lý, và là thành lũy của cảm thức sâu xa về tình anh em phổ quát.

Thí dụ, trong truyền thống Do Thái và Kitô Giáo, người ta thấy một chứng tá cảm động về tình yêu của Thiên Chúa dành cho mọi dân tộc: trong giao ước với Nôê, Người liên kết họ trong một cái ôm hôn vĩ đại được biểu tượng bằng “vòng cung (cầu vồng) trên mây” (St 9:13, 14, 16) và, theo lời các tiên tri, Người muốn tụ tập họ thành một gia đình duy nhất (xem Is 2:2 và tiếp theo; 42:6; 66:18-21; Gr 4:2; Tv 47). Chứng cớ của sự liên kết chặt chẽ giữa mối liên hệ với Thiên Chúa và nền đạo đức học yêu thương mọi người đều được tìm thấy trong nhiều truyền thống tôn giáo lớn.

Đối thoại giữa Kitô hữu và người Hồi Giáo

117. Trong số các tôn giáo khác nhau, Giáo Hội cũng nhìn người Hồi Giáo với lòng kính trọng; họ là những người thờ lạy Thiên Chúa duy nhất (377). Họ mong đợi Ápraham và thờ phượng Thiên Chúa trên hết mọi sự bằng cầu nguyện, bố thí và ăn chay. Ta nhìn nhận rằng tryền thống Hồi Giáo bao gồm vô vàn nhân vật, biểu tượng và chủ đề trong Thánh Kinh. Nhờ các cố gắng do Đấng Đáng Kính Gioan Phaolô II khởi sự, tôi bày tỏ niềm hy vọng rằng các mối liên hệ đầy đức tin từng được thiết lập giữa các Kitô hữu và người Hồi Giáo trong nhiều năm qua sẽ tiếp tục khai triển trong tinh thần đối thoại thành thực và tôn trọng nhau (378). Trong cuộc đối thoại này, Thượng Hội Đồng yêu cầu có một suy tư sâu sắc hơn về việc tôn trọng sự sống như một giá trị nền tảng, các quyền bất khả nhượng của nam giới và nữ giới, và phẩm giá bình đẳng của họ. Căn cứ vào sự phân biệt quan trọng cần phải có giữa trật tự xã hội chính trị và trật tự tôn giáo, các tôn giáo khác nhau phải đóng góp đặc biệt vào ích chung. Thượng Hội Đồng yêu cầu các hội đồng giám mục, bất cứ khi nào thích hợp và hữu ích, cần khích lệ những cuộc gặp gỡ nhằm giúp các Kitô hữu và người Hồi Giáo đến với nhau để hiểu biết nhau hơn, ngõ hầu cổ vũ các giá trị mà xã hội đương cần cho một cuộc sống chung hòa bình và tích cực (379).



Đối thoại với các tôn giáo khác

118. Ở đây nữa, tôi cũng xin nói lên lòng kính trọng của Giáo Hội đối với các tôn giáo cổ xưa và các truyền thống tâm linh của nhiều lục địa. Các định chế này chứa đựng nhiều giá trị có thể thăng tiến một cách lớn lao sự hiểu biết nhau giữa các cá nhân và các dân tộc (380). Ta thường hay nhận ra một sự hòa hợp về giá trị cũng được phát biểu trong các sách tôn giáo của họ, như trong Phật Giáo, có việc tôn trọng sự sống, việc chiêm niệm, sự thanh tĩnh, sự đơn thành; trong Ấn Độ Giáo, có cảm thức về thánh thiêng, về hy lễ và chay tịnh; rồi trong Khổng Giáo, có các giá trị gia đình và xã hội. Chúng ta cũng hài lòng tìm thấy nơi các kinh nghiệm tôn giáo khác một quan tâm chân chính đối sự siêu việt của Thiên Chúa, được họ nhìn nhận là Đấng Hóa Công, cũng như việc tôn trọng sự sống, hôn nhân và gia đình, và một cảm thức mạnh về liên đới.



Đối thoại và tự do tôn giáo

119. Dù sao đi nữa, đối thoại cũng sẽ tỏ ra vô ích nếu nó không bao gồm lòng tôn trọng chân thực đối với mỗi con người và khả năng để họ tự do thực hành tôn giáo của họ. Bởi thế, khi khuyến khích sự hợp tác giữa các tín hữu của các tôn giáo khác nhau, Thượng Hội Đồng cũng chỉ rõ “nhu cầu phải có tự do để tuyên xưng tôn giáo của người ta, cả tư riêng lẫn nơi công cộng, và phải bảo đảm tự do lương tâm cho mọi tín hữu” (381): thực vậy, “tôn trọng và đối thoại đòi có sự hỗ tương ở mọi lãnh vực, nhất là trong lãnh vực liên quan tới các tự do căn bản, đặc biệt hơn phải kể đến tự do tôn giáo. Tôn trọng và đối thoại như thế sẽ cổ vũ hòa bình và hiểu biết nhau giữa các dân tộc” (382).



KẾT LUẬN

Lời dứt khoát của Thiên Chúa

120. Để kết thúc các suy tư mà tôi vừa dùng để tìm cách thu thập và xem sét đầy đủ hơn các thành quả phong phú của Cuộc Họp Thường Lệ Lần Thứ Mười Hai Thượng Hội Đồng Giám Mục về Lời Chúa trong Đời Sống và Sứ Vụ của Giáo Hội, tôi muốn một lần nữa khuyến khích toàn thể Dân Chúa, các mục tử, các người sống đời tận hiến và các giáo dân hãy trở nên thân quen hơn với Sách Thánh. Ta không bao giờ nên quên rằng mọi nền linh đạo Kitô Giáo chân chính và sống động đều đặt căn bản trên lời Chúa được công bố, được chấp nhận, được cử hành và được suy niệm trong Giáo Hội. Mối liên hệ với lời Chúa có tính đào sâu này sẽ diễn ra một cách hào hứng hơn nếu ta biết ý thức rằng trong Sách Thánh và Truyền Thống sống động của Giáo Hội, ta đứng trước lời dứt khoát của Thiên Chúa phán trên vũ trụ và trên lịch sử.

Tự Ngôn của Tin Mừng Thánh Gioan dẫn ta tới việc suy đi nghĩ lại sự kiện này: mọi sự hiện hữu đều hiện hữu dưới dấu chỉ của Lời. Lời phát xuất thẳng từ Chúa Cha mà ra, đến cư ngụ giữa chúng ta và rồi quay về cùng Chúa Cha ngõ hầu đem theo với Người cả sáng thế vốn đã được tạo nên nơi Người và cho Người. Nay Giáo Hội đang tiến hành sứ vụ của mình trong niềm hoài mong tha thiết được thấy Lang Quân của mình mau xuất hiện cánh chung: “Thần Khí và Tân Nương nói: ‘Xin hãy đến!’” (Kh 22:17). Lòng hoài mong này không bao giờ có tính thụ động; đúng hơn, nó là lực thúc đẩy truyền giáo ra đi công bố lời Chúa, lời vốn chữa lành và cứu chuộc mọi người. Cả ngày nay nữa, Chúa Giêsu Phục Sinh cũng đang nói với ta: “Hãy đi khắp thế giới và công bố Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” (Mc 16:15).

Tân phúc âm hóa và một lối nghe mới

121. Như thế, thời đại ta cần phải được đánh dấu ngày một hơn bằng một lối nghe mới đối với lời Chúa và một lối tân phúc âm hóa. Phục hồi tính trung tâm của lời Chúa trong đời sống Kitô Giáo sẽ dẫn chúng ta tới việc biết đánh giá như mới ý nghĩa sâu xa nhất trong lời kêu gọi mạnh mẽ của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II: là theo đuổi missio ad gentes (việc truyền giáo) và mạnh bạo dấn thân vào việc tân phúc âm hóa, nhất là giữa các dân tộc nơi Tin Mừng bị lãng quên hay đang gặp dửng dưng do hậu quả của chủ nghĩa duy tục phổ quát. Xin Chúa Thánh Thần làm sống dậy sự khát khao lời Chúa, và làm trổi sinh nhiều sứ giả và nhân chứng nhiệt thành của Tin Mừng.

Theo gương vị Tông Đồ Vĩ Đại của Dân Ngoại, người đã thay đổi dòng đời của mình sau khi nghe tiếng Chúa (xem Cv 9:1-30), ta hãy nghe lời Chúa như đang nói với ta, lúc này và tại đây, lúc nào cũng đích danh. Ta được Công Vụ Tông Đồ thuật lại: Chúa Thánh Thần đặt riêng Phaolô và Barnaba cho việc công bố và truyền bá Tin Mừng (xem 13:2). Cả ngày nay nữa, Chúa Thánh Thần cũng không ngừng kêu gọi cho có những người nghe và những vị giảng thuyết lời Chúa đầy xác tín và thuyết phục.

Lời Chúa và niềm vui

122. Việc cởi mở của ta với lời Chúa càng lớn thì ta càng có khả năng nhận thức rằng cả nay nữa, mầu nhiệm Hiện Xuống vẫn đang xẩy ra trong Giáo Hội của Chúa. Thần Khí Chúa vẫn tiếp tục đổ tràn ơn phúc của Người trên Giáo Hội để hướng dẫn ta vào mọi chân lý, để cho ta thấy ý nghĩa Sách Thánh và làm ta trở thành sứ giả khả tín của lời cứu rỗi trước mặt thế giới. Như thế, ta đã trở lại với Thư Thứ Nhất của Thánh Gioan. Trong lời Chúa, ta cũng đã nghe, ta cũng đã nhìn và đã đụng tới Lời ban sự sống. Nhờ ơn thánh, ta đã nghinh đón lời công bố rằng sự sống đời đời đã được mạc khải, và do đó, ta đã tiến tới việc nhận ra sự hiệp thông của ta với nhau, với những người đã đi trước chúng ta được ghi dấu bằng dấu chỉ đức tin, và với mọi người trên khắp thế giới đang nghe lời Chúa, đang cử hành Thánh Thể, và đang đem đời sống mình ra làm chứng cho tình yêu. Thánh Gioan Tông Đồ nhắc nhở ta rằng: lời công bố này đã được chia sẻ với ta để “niềm vui của ta được hoàn toàn” (1 Ga 1:4).

Cuộc hội họp của Thượng Hội Đồng giúp ta khả năng cảm nghiệm được mọi điều Thánh Gioan nói đến: việc công bố lời tạo ra hiệp thông và mang lại niềm vui. Đây là một niềm vui sâu xa bắt nguồn từ chính trung tâm sự sống Ba Ngôi và được thông truyền cho ta nơi Chúa Con. Niềm vui này là một hồng ân khôn tả mà thế giới không thể nào ban tặng được. Người ta có thể tổ chức các cuộc cử hành lễ lạc, nhưng niềm vui thì không. Theo Sách Thánh, niềm vui là hoa trái của Chúa Thánh Thần (xem Gl 5:22), Đấng giúp ta bước vào lời Chúa và giúp lời Chúa bước vào trong ta và đem lại hoa trái sự sống đời đời. Qua việc công bố lời Chúa nhờ quyền lực Chúa Thánh Thần, ta cũng muốn chia sẻ nguồn suối của niềm vui đích thực, không phải thứ niềm vui hời hợt mau qua, nhưng là niềm vui phát sinh từ việc ý thức rằng chỉ một mình Chúa Giêsu mới có lời hằng sống (xem Ga 6:68).

"Mater Verbi et Mater laetitiae" (Mẹ của Lời và Mẹ của niềm vui)

123. Tương quan chặt chẽ giữa lời Chúa và niềm vui khá hiển nhiên nơi Mẹ Thiên Chúa. Ta hãy nhớ lại lời Thánh Nữ Êlisabét: “Phúc cho người tin rằng sẽ có sự nên trọn đối với điều Chúa đã nói với họ” (Lc 1:45). Đức Maria có phúc vì ngài có đức tin, vì ngài đã tin, và trong đức tin này, ngài đã tiếp nhận Lời Chúa trong lòng mình để rồi ban Người cho thế giới. Niềm vui phát sinh từ Lời Chúa nay có thể trải dài tới tận những người, nhờ đức tin, biết để mình được lời Chúa thay đổi. Tin Mừng Luca trình bày mầu nhiệm nghe và vui này trong hai bản văn. Chúa Giêsu nói: “Mẹ và anh em tôi là những ai nghe lời Thiên Chúa và thực hành nó” (8:21). Và khi trả lời người đàn bà trong đám đông lên tiếng chúc phúc lòng đã cưu mang Người và vú đã cho Người bú, Chúa Giêsu bật mí niềm vui thực sự: “Đúng hơn phúc cho những ai nghe lời Thiên Chúa và vâng theo nó!” (11:28). Chúa Giêsu chỉ cho thấy rõ sự cao cả thực sự của Đức Maria, khiến mỗi người chúng ta có thể đạt tới được mối phúc vốn phát sinh từ việc tiếp nhận lời Chúa và đem nó ra thực hành. Tôi xin nhắc nhở mọi Kitô hữu rằng mối liên hệ bản thân và cộng đoàn của ta với Thiên Chúa tùy thuộc ở việc ta càng ngày càng thân quen với lời Chúa. Sau cùng, tôi hướng về mọi người nam nữ, kể cả những người đã rời xa Giáo Hội, đã từ bỏ đức tin hay chưa bao giờ nghe công bố ơn cứu độ. Đối với mọi người, Chúa từng nói: “Này, Ta đang đứng ngoài cửa và gõ, nếu bất cứ ai nghe tiếng Ta và mở cửa, Ta sẽ vào với họ và ăn với họ, và họ sẽ ăn với Ta” (Kh 3:20).

Mong sao mọi ngày trong đời ta đều được lên khuôn bởi cuộc gặp gỡ đổi mới với Chúa Kitô, Lời của Chúa Cha đã thành Xác Phàm: Người đứng ở nguyên khởi và kết thúc, và “trong Người mọi sự đều tồn tại” (Cl 1:17).Ta hãy lặng thinh để nghe lời Chúa và suy niệm về lời ấy, để nhờ hành động của Chúa Thánh Thần, nó ở mãi trong trái tim ta và nói với ta mọi ngày trong đời Ta. Bằng cách đó, Giáo Hội sẽ luôn được canh tân và tươi trẻ trở lại, nhờ lời Chúa hiện diện mãi mãi (xem 1Pr 1:25; Is 40:8). Nhờ thế, cả chúng ta nữa sẽ bước vào cuộc đối thoại tân hôn vĩ đại vốn kết thúc Sách Thánh: “Thần Khí và Tân Nương cùng nói: ‘Xin Ngài ngự đến!’ Ai nghe, hãy nói: ‘Xin Ngài ngự đến!’ Đấng làm chứng về những điều đó phán rằng: ‘Phải, chẳng bao lâu nữa Ta sẽ đến’. Amen, lạy Chúa Giêsu, xin ngự đến” (Kh 22: 17, 20).

Ban hành tại Rôma, tại Đền Thờ Thánh Phêrô, ngày 30 tháng 9, Ngày Lễ Thánh Giêrôm, năm 2010, năm thứ 6 Triều Giáo Hoàng của tôi.

BÊNÊĐÍCTÔ XVI

--------------------------------

[310] Adversus haereses, IV, XX, 20, 7: SC 100, pp. 646-7.


[311] BENOÎT XVI, Lett. enc. Spe salvi (30 novembre 2007), n. 31: AAS, 99 (2007), p. 1010.
[312] BENOÎT XVI, Discours aux hommes de culture au Collège des Bernardins de Paris (12 septembre 2008): AAS 100 (2008), p. 730.
[313] Cf. In Evangelium secundum Mattheum 17, 7: PG 13, 1197B; Hom in Lc 36: PL 26,324; S. JÉRÔME: Translatio homiliarum Origenis in Lucam, 36: PL 26, 324-325.
[314] Cf. BENOÎT XVI, Homélie à l’occasion de l’ouverture de la XIIe Assemblée générale ordinaire du Synode des Évêques (5 octobre 2008): AAS 100 (2008), p. 757: La DC n. 2411, p. 948.
[315] Proposition 38.
[316] Cf. CONGRÉGATION POUR LES INSTITUTS DE VIE CONSACRÉE ET LES SOCIÉTÉS DE VIE APOSTOLIQUE, Repartir du Christ: un engagement renouvelé de la Vie Consacrée pour le 3ème millénaire, n. 36: Ench. Vat. 21, n. 488-491.
[317] Proposition 30.
[318] Cf. Proposition 38.
[319] Cf. Proposition 49.
[320] Cf. JEAN-PAUL II, Lett. enc. Redemptoris missio (7 décembre 1990): AAS 83 (1991), pp. 149-340; et ID., Lett. apost. Novo millennio ineunte (6 janvier 2001), n. 40: AAS 93 (2001), pp. 294-295.
[321] Proposition 38.
[322] Cf. BENOÎT XVI, Homélie à l’occasion de l’ouverture de la XIIe Assemblée générale ordinaire du Synode des Évêques (5 octobre 2008): AAS 100 (2008), pp. 753-757; L’ORf, 7 octobre 2008, pp. 1 et 9.
[323] Proposition 38.
[324] Message final, n. 12.
[325] PAUL VI, Exhort. apost. Evangelii nuntiandi (8 décembre 1975), n. 22: AAS 68 (1976), p. 20.
[326] Cf. CONC. ŒCUM. VAT. II, Déclaration sur la liberté religieuse Dignitatis humanae, nn. 2.7.

[327] Cf. Proposition 39.


[328] Cf. BENOÎT XVI, Message pour la Journée Mondiale de la Paix 2009; L’ORf, 16 décembre 2008, pp. 3-4.
[329] Exhort. apost. Evangelii nuntiandi (8 décembre 1975), n. 19: AAS 68 (1976), p. 18.
[330] Cf. Proposition 39.
[331] JEAN XXIII, Lett. enc. Pacem in terris (11 avril 1963), n. 1: AAS 55 (1963), p. 259.
[332] 332 Cf. JEAN-PAUL II, Lett. enc. Centesimus annus (1er mai 1991), n. 47: AAS 83 (1991), pp. 851-852; ID., Discours à l’Assemblée générale des Nations Unies (2 octobre 1979), n. 13: AAS 71 (1979), pp. 1152-1153.
[333] Cf. Abrégé de la doctrine sociale de l’Église, nn. 152-159.
[334] Cf. BENOÎT XVI, Message pour la célébration de la Journée mondiale de la Paix 2007: ORf 19-26 décembre 2006, p. 3.
[335] Cf. Proposition 8.
[336] BENOÎT XVI, Homélie à l’occasion de la clôture de la Semaine de prière pour l’unité des Chrétiens à Saint-Paul-horsles-Murs (25 janvier 2009): L’ORf, 27 janvier 2009, p. 24.
[337] Id. Homélie à l’occasion de la clôture de la XIIe Assemblée générale ordinaire du Synode des Évêques (26 octobre 2008): AAS 100 (2008), p. 779; L’ORf, 28 octobre 2008, p. 3.
[338] Proposition 11.
[339] BENOÎT XVI, Lett. enc. Deux caritas est (25 décembre 2005), n. 28: AAS 98 (2006), p. 240.
[340] De doctrina christiana, I, XXXVI, 40: PL 34, 34.
[341] Cf. BENOÎT XVI, Message pour la XXI e Journée Mondiale de la Jeunesse 2006: AAS 98 (2006), pp. 282-286; La DC n. 2355, pp. 307-309.
[342] Cf. Proposition 34.
[343] Cf. Ibidem.
[344] BENOÎT XVI, Homélie pour la messe inaugurale du Pontificat (24 avril 2005): AAS 97 (2005), p. 712; La DC n. 2337, p. 549.
[345] Cf. Proposition 38.
[346] Cf. BENOÎT XVI, Homélie à l’occasion de la XVIIe Journée Mondiale des Malades (11 février 2009): L’ORf, 10 février 2009, p. 4.
[347] Cf. Proposition 35.
[348] Proposition 11.
[349] Cf. BENOÎT XVI, Lett. enc. Deus caritas est (25 décembre 2005), n. 25: AAS 98 (2006), pp. 236-237.
[350] Proposition 11.
[351] BENOÎT XVI, Homélie (1er janvier 2009): L’ORf, 6 janvier 2009, p. 12.
[352] Proposition 54.
[353] Cf. BENOÎT XVI, Exhort. apost. post-synodale Sacramentum caritatis (22 février 2007), n. 92: AAS 99 (2007), pp. 176-177.

[354] Gioan Phaolô II, Diễn Văn tại UNESCO (02/06/1980), 6: AAS 72 (1980), 738.

[355] Xem Đề Nghị 41.

[356] Xem đã dẫn.

[357] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Fides et Ratio (14/09/1998), 80: AAS 91 (1999), 67-68.

[358] Xem Sơ Đồ 23.

[359] Xem Đề Nghị 40.

[360] Xem Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Các Phương Tiện Truyền Thông Xã Hội Inter Mirifica; Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xã Hội, Huấn Thị Mục Vụ Communio et Progressio (23/05/1971): AAS 63 (1971), 596-656; Gioan Phaolô II, Tông Thư Phát Triển Mau Chóng (24/01/2005): AAS 97 (2005) 265-274; Hội Đồng Giáo Hoàng Về Truyền Thông Xã Hội, Huấn Thị Mục Vụ Aetatis novae (22/02/1992): AAS 84 (1992), 447-468; Giáo Hội và Liên Mạng (22/02/2002): Enchiridion Vaticanum 21, các số 66-95; Đạo Đức Học Trên Liên Mạng (22/02/2002): Enchiridion Vaticanum 21, các số 96-127.

[361] Xem Thông Điệp Cuối Cùng , IV, 11; Bênêđíctô XVI, Thông Điệp gửi Ngày Thế Giới Truyền Thông Xã Hội Năm 2009 (24/01/2009): Insegnamenti V, 1 (2009), 123-127.

[362] Xem Đề Nghị 44.

[363] Gioan Phaolô II, Thông Điệp Gửi Ngày Thế Giới Truyền Thông Lần Thứ 36 (24/01/2002): Insegnamenti XXV, 1 (2002), 94-95.

[364] Xem Tông Huấn Evangelii Nuntiandi (08/12/1975), 20: AAS 68 (1976), 18-19.

[365] Xem Bênêđíctô XVI, Tông Huấn Hậu Thượng Hội Đồng Sacramentum Caritatis (22/02/2007), 78: AAS 99 (2007), 165.

[366] Xem Đề Nghị 48.

[367] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum, 13, No. 3112.

[368] Xem Công Đồng Vatican II, Sắc Lệnh về Hoạt động Truyền Giáo của Giáo Hội Ad Gentes, 22; Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum, 13, các số 3111-3117.

[369] Gioan Phaolô II, Diễn Văn Với Các Giám Mục Kenya (07/05/1980), 6: AAS 72 (1980), 497.

[370] Xem Tài Liệu Làm Việc, 56.

[371] Ủy Ban Giáo Hoàng Về Thánh Kinh, Giải Thích Thánh Kinh Trong Giáo Hội (15/04/1993), IV, B: Enchiridion Vaticanum 13, No. 3113.

[372] Công Đồng Vatican II, Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải Thiên Chúa Dei Verbum, 22.

[373] Xem Đề Nghị 42.

[374] Xem Đề Nghị 43.

[375] Bênêđíctô XVI, Bài Giảng Lúc Cử Hành Giờ Kinh Ba Ngày Khởi Đầu Phiên Họp Toàn Thể Thượng Hội Đồng Giám Mục (06/10/2008): AAS 100 (2008), 760.

[376] Trong số khá nhiều can thiệp đủ loại, xin xem: Gioan Phaolô II, Thông Điệp Dominum et Vivificantem (18/05/1986): AAS 78 (1986), 809-900; Thông Điệp Redemptoris Missio (07/12/1990): AAS 83 (1991), 249-340; Diễn Văn và Bài Giảng Tại Assisi Ngày 27/10/1986 Ngày Cầu Nguyện Cho Hòa Bình: Insegnamenti IX, 2 (1986), 1249-1273; Ngày Cầu Nguyện Cho Hòa Bình Thế Giới (24/01/2002): Insegnamenti XXV, 1 (2002), 97-108; Bộ Giáo Lý Đức Tin, Tuyên Ngôn Dominus Iesus Về Tính Duy Nhất Và Cứu Rỗi Phổ Quát của Chúa Giêsu Kitô và của Giáo Hội (06/08/2000): AAS 92 (2000), 742-765.

[377] Xem Công Đồng Vatican II, Tuyên Ngôn về Liên Hệ của Giáo Hội với Các Tôn Giáo Không Phải là Kitô Giáo Nostra Aetate, 3.

[378] Xem Bênêđíctô XVI, Diễn Văn Với Các Đại Sứ Các Quốc Gia Phần Lớn Là Hồi Giáo Bên Cạnh Tòa Thánh (25/09/2006): AAS 98 (2006), 704-706.

[379] Xem Đề Nghị 53.

[380] Xem Đề Nghị 50.

[381] Đã dẫn

[382] Gioan Phaolô II, Diễn Văn Tại Cuộc Gặp Gỡ Người Trẻ Hồi Giáo tại Casablanca, Morocco (19/08/1985), 5: AAS 78 (1986), 99.



Vũ Văn An chuyển dịch

+

Nguồn: daihoidanchua.net


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương