TÔN ĐỨc thắng chủ tịch nước (1969-1981)


Triết lý chơi cờ tướng của Bác Tôn



tải về 200.22 Kb.
trang2/2
Chuyển đổi dữ liệu04.01.2018
Kích200.22 Kb.
1   2

Triết lý chơi cờ tướng của Bác Tôn

Trong lúc ở tù, Bác Tôn hay đánh cờ tướng.

Mặc dù đánh với ai, hễ thấy đối phương đi hớ nước nào là Bác chỉ cho, và ai muốn hoàn nước nào cũng được. Phần Bác, Bác suy nghĩ rất kỹ, và đi thì rất quyết tâm đi, không bao giờ hoàn.

Thấy Bác rộng lượng, anh em thường trêu cho vui. Năm ba người vào một phía, vừa đánh vừa la, vừa trêu tức. Vậy mà Bác không hề cáu, không giận ai bao giờ.

Hỏi Bác, Bác trả lời:


  • Tôi đánh cờ để học tập, để rèn luyện chớ không cốt ăn thua với anh em. Đời tối đã có nhiều lần làm rồi mới biết sai, nói rồi mới biết lỡ. Những sơ sót ấy không phải vì mình kém khôn ngoan, mà là do thiếu thận trọng. Vì vậy, tôi đánh cờ để tập tính thận trọng. Phải tính toán hết nước, nhưng nếu trí thông minh và sức tính toán của mình chỉ đến nước ấy thôi, đành chịu vậy.




  1. CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG

TẤM GƯƠNG SÁNG NGỜI VỀ ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG

Sinh ra và lớn lên trong cảnh đất nước bị rơi vào tay thực dân Pháp xâm lược, chứng kiến sự hành hạ, đối xử bất công của chúng đối với người dân nước Việt, ở Tôn Đức Thắng sớm xuất hiện tình cảm yêu nước, căm ghét bọn thực dân. Rồi tiếng vang của các nghĩa quân: Trương Định, Nguyễn Trung Trực, Võ Duy Dương và nhiều tấm gương anh dũng chống thực dân Pháp đã in sâu trong tâm hồn cậu bé Tôn Đức Thắng.

Chính với hành trang yêu nước, thương nòi ấy, năm 1912, anh thanh niên Tôn Đức Thắng đã tham gia tổ chức cuộc bãi công của học sinh trường Bá Nghệ và công nhân Nhà máy sửa chữa tàu thủy Ba Son. Gần 10 năm sau, năm 1920, trở về Sài Gòn sau sự kiện kéo cờ trên Hắc Hải nổi tiếng, Tôn Đức Thắng cùng những người bạn thân thiết lập ra tổ chức đầu tiên của giai cấp công nhân Việt Nam - Công hội bí mật tại Sài Gòn - Chợ Lớn, nhằm đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, đấu tranh chống đế quốc tư bản.

Bước ngoặt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tôn Đức Thắng mở ra vào một ngày cuối năm 1926, khi nhận được chỉ thị của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Tôn Đức Thắng nhanh chóng tán thành gia nhập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, tán thành con đường cứu nước giải phóng dân tộc gắn liền với giải phóng giai cấp công nhân, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội. Từ đây, trong con người Tôn Đức Thắng, yêu nước gắn liền với yêu chủ nghĩa xã hội, trung thành với Tổ quốc, với dân tộc cũng đồng thời là trung thành với sự nghiệp cách mạng do Đảng Cộng sản lãnh đạo. Ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã nâng lòng yêu nước chân chính của Tôn Đức Thắng lên một tầm cao mới, thêm sức mạnh và hăng hái lao vào hoạt động cách mạng. Năm 1927, Kỳ bộ Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên ở Nam Kỳ thành lập. Tôn Đức Thắng được cử là một thành viên trong ban lãnh đạo Kỳ bộ và trực tiếp phụ trách phong trào công nhân Sài Gòn - Chợ Lớn. Trên cương vị này, Tôn Đức Thắng đã tích cực tuyên truyền giác ngộ và cùng các đồng chí của mình tham gia chuẩn bị cho sự ra đời của một đảng mác-xít chân chính ở Việt Nam.

Cuối năm 1929, giữa lúc phong trào cách mạng đang phát triển mạnh mẽ thì Tôn Đức Thắng bị mật thám Pháp bắt, đưa về Khám lớn Sài Gòn và dùng mọi cực hình tàn bạo hòng khai thác những tin tức về cách mạng. Nhưng chúng đã thất bại trước khí phách kiên cường, bất khuất của người chiến sĩ cộng sản. Chúng kết án Tôn Đức Thắng 20 năm khổ sai và đày ra Côn Đảo. Ở nơi "địa ngục trần gian", Tôn Đức Thắng vẫn vững lòng tin vào thắng lợi của cách mạng Việt Nam, cùng các đồng chí ở Banh 1 thành lập Chi bộ đặc biệt và trở thành một trong những người lãnh đạo của chi bộ cùng anh em trong tù tiếp tục đấu tranh.

Cách mạng Tháng Tám thành công, vừa được đón về đất liền, người chiến sĩ cộng sản Tôn Đức Thắng đã hăng hái cùng quân dân miền nam chiến đấu chống thực dân Pháp; sau đó được điều ra bắc, lần lượt đảm nhiệm các trọng trách: Phó Hội trưởng Hội Liên Việt, Chủ tịch Mặt trận Liên Việt, Trưởng ban Thường trực Quốc hội, Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và sau đó là nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Dù ở cương vị nào, Chủ tịch Tôn Đức Thắng cũng luôn luôn nêu cao phẩm chất trung thành với Tổ quốc, với dân tộc, với Đảng, hết lòng, hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.
Có thể nói, khiêm tốn và giản dị, tình nghĩa và trong sáng là những đức tính của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Chủ tịch Tôn Đức Thắng rất khiêm nhường. Một người dân thuộc địa tham gia cuộc binh biến ở Hắc Hải năm 1919 để bảo vệ nước Cộng hòa Xô-viết trẻ tuổi là một sự kiện được nhân dân Liên Xô cũng như nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ thế giới khâm phục, ngợi ca. Vậy nhưng khi hồi tưởng lại sự kiện này, Chủ tịch khiêm tốn viết: "Tôi tin rằng, bất kỳ người Việt Nam yêu nước nào, nhất là công nhân, được tham gia vào những giờ phút lịch sử đó tại Biển Đen, không thể hành động khác tôi. Bởi vì yêu Tổ quốc và căm thù đế quốc, cũng có nghĩa là yêu Cách mạng Tháng Mười và căm thù những kẻ chống lại Cách mạng Tháng Mười".

Là người đầu tiên được nhận huân chương cao quý nhất của Nhà nước ta- Huân chương Sao Vàng, trong lời phát biểu tại buổi lễ, Chủ tịch xúc động nói: "Trong buổi lễ vinh quang này, tôi nghĩ đến thời kỳ tôi còn ấu trĩ, nghĩ đến những lúc khó khăn hiểm nghèo, Đảng đã dìu dắt, giáo dục tôi, nhân dân đã rèn luyện và giúp đỡ tôi để có được ngày hôm nay".

Tháng 10-1975, về thăm quê ở Cù lao Ông Hổ thuộc xã Mỹ Hòa Hưng, TP Long Xuyên, An Giang, Chủ tịch Tôn Đức Thắng chỉ nhận mình là một người được Đảng và Nhà nước cho phép về thăm quê nhà, gặp lại anh em họ mạc, thăm hỏi bà con xóm ấp. Đến cây xoài trước cổng nhà, cây cầu gỗ thuở nhỏ đi học qua, Chủ tịch vẫn nhớ mãi trong ký ức. Khi đã trở thành một vị nguyên thủ quốc gia, Chủ tịch vẫn giữ nếp sống khiêm tốn, giản dị của người lao động, thích đi bộ, thích lao động chân tay và tự mình làm mọi việc cho bản thân mà không muốn phiền ai giúp đỡ. Chủ tịch ăn mặc rất giản dị. Có lần, các đồng chí miền nam đến thăm thấy Chủ tịch mặc chiếc áo ấm cũ có nối thêm một đoạn cho khỏi ngắn, đã cảm động hỏi: Bác ơi, làm Chủ tịch nước sao Bác mặc áo nối thế này? Chủ tịch vui vẻ trả lời: Chủ tịch nước mặc áo nối thì dân mới có đủ cơm ăn. Thật hồn hậu, giản dị biết bao!

Chủ tịch Tôn Đức Thắng thường xuyên dành tình cảm ân cần chăm lo cho đồng chí, đồng bào, đặc biệt là với các cháu thanh niên, thiếu niên, nhi đồng. Được tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc" và kèm theo mười vạn rúp, Chủ tịch đã ủng hộ số tiền này cho Phong trào bảo vệ thiếu nhi thủ đô. Số tiền một vạn rúp các bạn Liên Xô đưa để mua quà tặng, Chủ tịch cũng chỉ dùng một phần nhỏ để mua một chiếc cối xay hạt tiêu tặng người vợ thân yêu, còn lại đem gửi trả bạn.


Là một người yêu nước chân chính, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là một chiến sĩ tiêu biểu cho tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân. Điều này được thể hiện rõ nét thông qua hành động cách mạng quả cảm của Tôn Đức Thắng khi tham gia cuộc binh biến Hắc Hải vào tháng 4-1919, để bảo vệ Cách mạng Tháng Mười Nga và lãnh đạo cuộc bãi công và lãn công của công nhân xưởng Ba Son từ tháng 8 đến tháng 11-1925, giam chân chiến hạm Juyn Mi-sơ-lê ba tháng, để ủng hộ phong trào đấu tranh cách mạng của nhân dân Trung Quốc.

Ánh sáng chủ nghĩa Mác - Lê-nin đã giúp người công nhân yêu nước Tôn Đức Thắng thấm nhuần sâu sắc tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân và ý nghĩa của chính những hành động cách mạng ủng hộ cách mạng Nga và cách mạng Trung Quốc mà bản thân đã tham gia. Từ đó, ở Tôn Đức Thắng, lòng yêu nước chân chính đã thật sự gắn chặt với tinh thần quốc tế trong sáng của giai cấp công nhân.

Là người cống hiến không mệt mỏi cho sự nghiệp xây dựng, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đồng thời là người góp phần tích cực vào việc thực hiện tình đoàn kết gắn bó giữa giai cấp công nhân và nhân dân lao động các nước. Do những cống hiến đối với phong trào cách mạng thế giới, Chủ tịch Tôn Đức Thắng đã được bầu là Chủ tịch Ủy ban bảo vệ hòa bình thế giới của Việt Nam, Ủy viên Hội đồng hòa bình thế giới và được trao tặng Giải thưởng Lê-nin "Vì hòa bình và hữu nghị giữa các dân tộc", cùng nhiều huân chương cao quý nhất của các nước anh em.

Trọn đời, Chủ tịch Tôn Đức Thắng nêu một tấm gương ngời sáng về phẩm chất cao đẹp của người cộng sản. Ngày nay, trước những đòi hỏi của cuộc sống mới, tấm gương đạo đức cách mạng của Chủ tịch Tôn Đức Thắng càng có ý nghĩa để mỗi cán bộ, đảng viên tích cực học tập, rèn luyện, noi theo để phấn đấu góp phần vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.



Thạc sĩ LÝ VIỆT QUANG

(Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh)


  1. NGƯỜI CỘNG SẢN MẪU MỰC BIỂU TƯỢNG CỦA ĐẠI ĐOÀN KẾT

Đồng chí Tôn Đức Thắng là một người cộng sản mẫu mực,người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh đạo kính mến, biểu tượng đại đoàn kết của giai cấp công nhân và nhân dân các dân tộc nước ta, người chiến sĩ trung kiên của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế.

Hồi ký Tôn Đức Thắng - người cộng sản mẫu mực,biểu tượng của đại đoàn kết được Nhà xuất bản chính trị quốc gia tổ chức biên soạn và xuất bản theo Quyết định của Bộ chính trị về việc tổ chức biên soạn và xuất bản sách Hồi ký về các đồng chí lãnh đạo chủ chốt của Đảng và Nhà nước. Nội dung cuốn sách gồm 600 trang bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các bậc lão thành cách mạng, các nhà nghiên cứu, các nhà văn hoá, các bạn chiến đấu, các cán bộ phục vụ và bảo vệ Chủ tịch Tôn Đức Thắng cùng với 105 bức ảnh tư liệu quý và 10 trang bút tích thư của Bác Tôn gửi các con. Tôn Đức Thắng là một trong những người thuộc lớp chiến sĩ đầu tiên của phong trào công nhân và phong trào cách mạng giải phóng dân tộc ở nước ta. Là một trong những công nhân Việt Nam đầu tiên hoạt động trong phong trào công nhân Pháp, đồng chí đã tham gia cuộc nổi dậy của Hải quân Pháp ở biển Đen kéo lá cờ đỏ ủng hộ nước Nga Xôviết - Nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới. Sau khi ra khỏi hải quân,đồng chí làm thợ máy cho hãng xe hơi Rơnô, gia nhập Tổng công hội Pháp và tích cực hoạt động trong phong trào công nhân và phong trào yêu nước của kiều bào ta tại Pháp. Năm 1920, trở về Sài Gòn, đồng chí xây dựng những cơ sở công hội bí mật. Tiếp thu chủ nghĩa Mác-Lênin qua các sách báo của Nguyễn Ai’ Quốc và các tài liệu từ Pháp gửi về,tổ chức công hội đỏ đã lãnh đạo phong trào bãi công sôi nổi của thuỷ thủ và công nhân Nam Bộ,tiêu biểu nhất là cuộc bãi công của công nhân hãng Ba Son tháng 8 năm 1925. Năm 1926, tham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên và chỉ một năm sau (1927), đồng chí được cử vào Ban Chấp hành Kỳ bộ Nam Kỳ. Cuối năm 1929, đồng chí bị bọn đế quốc bắt phạt án 20 năm khổ sai tại khám lớn Sài Gòn và địa ngục trần gian Côn Đảo. Trong ngục tù đế quốc,đồng chí luôn nêu cao ý chí kiên cường và giữ vững niềm tin vào thắng lợi của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Hình ảnh hiên ngang, bất khuất của người tù khổ sai Tôn Đức Thắng trong Hầm xay lúa của Nhà tù Côn Đảo mãi mãi là biểu tượng sáng ngời về khí tiết của người cộng sản trước quân thù. Cách mạng Tháng Tám (1945) giành được thắng lợi ,đồng chí cùng các chiến sĩ cách mạng trở về đất liền tiếp tục hoạt động góp phần cùng toàn Đảng, toàn quân, toàn dân xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân,tiến hành thắng lợi hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược. giành độc lập, thống nhất cho tổ quốc Việt Nam. Trên bất kỳ cương vị nào, là thuỷ thủ trên tàu, công nhân trong xưởng máy, lãnh đạo Công hội đỏ hay Chủ tịch Mặt trận dân tộc thống nhất; và ngay cả sau này, khi Bác Hồ qua đời, được Quốc hội bầu làm Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà (1969), đồng chí Tôn Đức Thắng luôn hiến dâng cả đời mình cho độc lập, tự do của dân tộc; cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa các dân tộc trên thế giới với tinh thần cách mạng bất khuất, đạo đức chí công vô tư, tác phong khiêm tốn giản dị.



Sống gần trọn 92 mùa xuân (20-8-1888 – 30-3-1980), Bác Tôn đã cống hiến 70 năm đời mình cho sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc và công cuộc bảo vệ hoà bình trên thế giới. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết:"Là một chiến sĩ cách mạng dân tộc và chiến sĩ cách mạng thế giới, đồng chí Tôn Đức Thắng là một trong những người Việt Nam đầu tiên đã tham gia đấu tranh bảo vệ Cách mạng Tháng Mười vĩ đại... Đồng chí Tôn Đức Thắng là một gương mẫu đạo đức cách mạng: suốt đời cần, kiệm, liêm chính; suốt đời hết lòng hết sức phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân.”


  1. VỀ THĂM QUÊ BÁC TÔN













Ngôi nhà Bác Tôn. Ảnh Hồng Nhung
Tôi còn nhớ rất rõ hai câu thơ của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng hát con tàu của tập thơ Ánh sáng và phù sa mà tôi rất thích:

Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn

Và lúc vừa đặt chân đến mảnh đất Mỹ Hoà Hưng (cù lao ông Hổ) có dòng sông Hậu hiền hoà ngày đêm chảy mãi như tuần hành cùng thời gian để canh giữ, bảo vệ ngôi nhà gỗ với mái lợp ngói ống, nằm giữa vườn cây trái xanh tươi của vùng đất này. Tôi lại càng hiểu rõ và thấm thía hơn ý nghĩa của hai câu thơ ấy. Quả thật, lúc lớp tôi quyết định đi thăm và ôn lại những trang sử hào hùng của dân tộc nói chung và cuộc đời Bác Tôn nói riêng, tôi không có bao nhiêu cảm xúc và sự mường tượng chính xác về khu di tích này. Bởi lẽ tôi rất ít cơ hội được đi tham quan, thăm viếng một di tích hay danh lam thắng cảnh nào.

Thật bất ngờ khi tận mắt nhìn thấy, chính đôi chân chạm đến, tôi mới nhận ra rằng nó thật tuyệt diệu! Bao trùm lên khu di tích là vẻ nghiêm trang, cao rộng song cũng thật tuyệt với những nét đẹp trầm lặng bởi lẩn khuất đâu đó cái khí thiêng của dân tộc. Trong một thoáng, bất chợt tôi cảm tưởng rằng mình đang ở nơi nào ấy thật khác xa với thế giới ngoài kia - ồn ào, náo nhiệt - dẫu chỉ cách nhau có một cánh cổng và một bức tường. Bỗng dưng lòng tôi dậy lên một cảm giác lạ lùng, nó vừa háo hức lại vừa bâng khuâng khó diễn tả được?

Thế nhưng, tôi không thể không thừa nhận cái cảm nhận thích thú của tôi khi đến đây, khu di tích này đã để lại trong tôi một tình cảm khó quên và giờ thì nó đã trở thành một kí ức mà mỗi lần giở ra tôi không khỏi bồi hồi, xúc động. Lúc này đây, tôi ngồi lại cảm nhớ về chuyến tham quan hôm ấy trong phút chốc, tất cả như ùa về, những kiến thức như còn mới rất mẻ và sống động làm sao! Cánh cổng di tích Bác Tôn như mở cửa cuộc ngược dòng thời gian đi vào quá khứ để nhớ về Bác.

Những con đường lát đá trải dài, những hàng dương cao vút đâm thẳng lên bầu trời, những hàng liễu rũ dọc bờ hồ đầy thi vị mà cũng buồn vời vợi, không khỏi làm cho người ta có một chút ngậm ngùi, xốn xang. Im lặng, bình thản, tôi đi bên cạnh mọi người bước vào đền thờ - nơi đặt bức tượng của người anh hùng dân tộc Tôn Đức Thắng, niềm tự hào của người dân An Giang. Nhưng tâm trí tôi như một cuộc rượt đuổi nối đuôi nhau theo giai điệu của dòng lũ cảm xúc cứ từng đợt dâng trào không thôi.

Tôi như người vừa thoát khỏi quá khứ quay về thực tại, khi tiếng của ngưới hướng dẫn viên dừng lại, chị như hát một bài ca bất tận say sưa không biết mỏi về con người vĩ đại - chủ tịch Tôn Đức Thắng. Trong ngữ điệu trầm bổng lúc như thúc giục, lúc như tâm tình to nhỏ dịu dàng thương mến. Thật xúc động vừa nhẹ nhàng, thanh thoát vừa truyền cảm du dương. Hình như đó chính là tất cả chân tình, mọi cảm xúc yêu thương, kính trọng, thương nhớ, nuối tiếc... mà cô muốn truyền đạt về Bác đến với tất cả mọi người có mặt ngày hôm ấy. Cả khu đền đều vang vọng và tràn ngập hình ảnh của Bác - một người anh hùng trung cang, anh hùng và đầy trí tuệ. Bác như đang hiện diện ở đây hiện hữu, có thật, đang dắt tay các đồng chí, cùng mọi người bàn bạc cho cuộc chiến đấu mới. Cuộc đời Bác là những sự trải nghiệm của những năm đấu tranh, giành giật từng giây từng phút giữa sự sống và cái chết.

Chưa bao giờ tôi cảm thấy sự yên ắng và tôn nghiêm đến thế. Tự đáy lòng, tôi kính phục và biết ơn con người này biết bao với sự hy sinh, lòng nhân ái, cái tính kiên cường, bất khuất của Bác; thêm vào đó là sự xen lẫn của nỗi đau, sự mất mát, niềm nuối tiếc không nguôi.

Lúc này đây, ngôi đền như đắm mình vào quá khứ, và con người hiện hữu ở đó thì chạy theo suy ngẫm của mỗi người không ai nói với ai bất cứ điều gì nhưng đều có chung một ý nghĩ tưởng nhớ về con người anh hùng, người chủ tịch tài ba Tôn Đức Thắng. Người có một cái tên thật gần gũi và bình dị mà mọi người vẫn thường gọi "Bác Tôn". Hai tiếng ấy làm tôi chực nghẹn ngào. Cái tiếng "Bác" thân thương làm sao! Cái tên "Tôn"cũng thật giản dị và gần gũi xiết bao! Tiếng gọi thiêng liêng và tôn kính ấy dù gọi bao nhiêu lần đi nữa vẫn làm cho tôi xúc động!

Như vẫn còn đây mà thật ra đã không còn nữa, Bác đã ra đi bình lặng, ra đi mà lòng vẫn còn mang nặng tình nhà nợ nước, sống và chết điều luôn chiến đấu hết mình vì sự nghiệp cách mạng, con người Việt Nam:

Người quả thật có một trái tim lớn, trái tim của đất nước...

Bài thuyết trình của chị hướng dẫn viên kết thúc, làm mọi người sực tỉnh song mọi cảm xúc thăng hoa ấy vẫn còn đọng lại khiến tất cả bùi ngùi luyến nhớ. Bước xuống bậc thềm sau cùng, tôi ngoái lại nhìn lại một lần nữa, đền thờ vẫn đứng đó - lặng lẽ, nghiêm nghị trong cái nắng vàng buổi sớm tôi bất chợt cảm thấy bình yên lạ.

Mặc dù vậy, đó không phải là tất cả của khu di tích này, trong nó vẫn còn nhiều điều thú vị. Và điều thú vị ấy như thế nào còn tuỳ vào cảm nhận của mỗi người; riêng tôi thì đó là không khí tĩnh lặng, cái vẻ trang nghiêm cùng với nhiều điều bất ngờ của các di vật lưu trữ nơi này: sống động, khốc liệt, hiện thực...

Cả cảnh vật cũng mang cho người ta cảm giác khác lạ: một cây cầu nhỏ bắc ngang bờ hồ nhỏ, những vòm cây kiểng được chăm chút, cắt tỉa gọn gàng, khéo léo tỉ mỉ. Vừa bước vào nơi lưu giữ những kỉ niệm về chủ tịch Tôn Đức Thắng từng dòng rung cảm xáo trộn lẫn lộn dâng trào lên trong tôi: từ những bức tranh, những bức hình nộm rất sống động về toàn bộ cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của chủ tịch Tôn Đức Thắng. Rồi chiếc xe đạp cũ kĩ nằm trong tủ kiếng, một đôi dép râu cũ, một ngôi nhà bằng gỗ hết sức đơn sơ. . .

Và đôi chân tôi bị trói chặt trước bức tranh miêu tả lại cảnh của người tù côn đảo. Tôi cảm thấy sự hãi hùng và ghê sợ bao trùm vây bủa lấy tôi. Tôi tự hỏi "Cuộc sống đấy ư?". Con người bị gông cùng, bị đày đoạ, bị đánh đập, ức hiếp hành hạ cả thể xác lẫn tinh thần, lưỡi hái của tử thần luôn chực chờ đón lấy. Vậy mà trong hình ảnh đó không để lại cho người ta một sự cam chịu và thoái lui, ngược lại trong đôi mắt của người tù gầy còm ấy là một ý chí phấn đấu chịu đựng để chiến đấu để đánh gục kẻ thù, sự hy vọng được chấp cánh bay theo con đường lý tưởng, ước mơ của mình.

Thật không dễ có thể dứt đôi mắt mình rời khỏi bức tranh đó. Tôi cảm thấy mình thật may mắn khi được sinh ra và lớn lên trong cảnh thái bình, yên vui; không phải đổ máu và hy sinh, rơi những giọt nước mắt mất mát, đau thương, cũng không phải chia ly như cuộc chia lìa của những người nông dân trong thơ Chính Hữu, hay cuộc chia ly màu đỏ của Nguyễn Mỹ...

Dẫu vậy, ở mức chừng mực nào đó, hình ảnh tàn khốc của chiến tranh vẫn ám ảnh các thế hệ trẻ ngày sau, và tôi cũng vậy. Tôi biết nỗi đau ấy quả không dễ gì khoả lấp, thời gian không thể bù đắp và chữa trị vết thương của trái tim. Bức tranh đó đã gợi lên trong tôi nhiều hình ảnh và cảm xúc, tôi hình dung lại viễn cảnh và tinh thần của con người sống trong hoàn cảnh chiến tranh ngày xưa: người ta sẵn sàng rời khỏi gia đình, vợ con, làng quê, bỏ cái cuốc, cái cày, cái rựa, cái bừa con trâu để lên đường cầm cây súng, lái xe tăng, thiết giáp, tháo mìn... đánh giặc mặc cho chết chóc, sốt rừng, đứng giữa chiến tuyến sống và chết, cái sợi chỉ hạnh phúc mong manh như một sợi tơ mành căng ngang giữa bầu trời sao lung linh nhưng đầy bom và đạn.

Nhưng khó khăn đó, trở ngại đó, thử thách đó không làm khó được họ, đối với họ sống là chiến đấu còn chết là vinh quang. Tôi thấy mình nhỏ bé làm sao! Lại càng khâm phục, ngưỡng mộ con người có trái tim cao thượng và ấm áp tình người này. Mọi vật xung quanh dường như cũng theo người im lặng theo đuổi ý nghĩ riêng của mỗi người. Và tôi đã không thể quên ngôi nhà gỗ lợp ngói ống ấy, nó hết sức bình thường chẳng có nhiều đáng giá. Thế nhưng đó là cả một kho tàng quý báu rất đáng giá đối với những ai biết yêu quý những giá trị tinh thần của dân tộc mình. Trong ngôi nhà đó trong lời bình dẫn của người hướng dẫn viên ta sẽ cảm thấy được đâu đó trong từng thước tấc của ngôi nhà đều mang đậm dấu ấn và hơi ấm của Người.

Mỗi câu chuyện về Bác, về gia đình Bác điều làm cho người ta khâm phục đồng thời là sự mến yêu, trân trọng. Vậy nên ai cũng phải chạnh lòng khi đến thắp nén hương thăm viếng người dưới mộ, những người thân thuộc của Bác Tôn và như vậy cũng đã thắp nén hương cho Bác vậy. Cả không gian yên ắng, tôi đứng đó và triền miên trong suy tưởng. Khói của nhang trầm vẫn cứ nghi ngút bay.

Nếu trước đây, tôi chưa hiểu nhiều về Bác, người con của Mỹ Hoà Hưng vùng đất An Giang này thì giờ tôi đã hiểu biết rõ hơn, sâu sắc hơn nhiều. Tôi tự hào vì mình cũng là một người con của miền đất An Giang, nơi có vị lãnh tụ tài ba, giỏi giang, anh dũng.

Tôi đã thu nhận được ở chuyến đi rất nhiều điều: từ kiến thức học tập cho đến những kinh nghiệm, vốn sống, và cả sự bồi dưỡng cảm xúc, cảm nhận riêng bản thân. Điều quan trọng hơn trong chuyến đi này, tôi biết đâu là giá trị thật, là vĩnh hằng, là sự sống mãi của một con người. Người ta thường nói, thời gian là người công bằng nhất. Tôi thấy đúng quả là thế, chỉ có thời gian mới phân định được đâu là giá trị tồn tại mãi mãi minh chứng cho nó là hình ảnh của người thanh niên "Ba Son" - Tôn Đức Thắng vẫn mãi sống trong lòng người Việt.

Tôi mong một ngày nào đó tôi sẽ trở lại đây một lần nữa để được nghe kể về Bác với tất cả tâm trạng quý mến như thế. Để tôi có thể nhìn lại quá khứ và nhìn vào hiện tại, về tôi, người của thế kỷ hôm nay.




  1. XÍ NGHIỆP BA SON

Liên hiệp xí nghiệp Ba Son ngày nay là một xưởng sửa chữa và đóng tàu lớn, địa chỉ tại số 2 đường Tôn Đức Thắng, phường Bến Nghé, quận 1, thành phố Hồ Chí Minh. Đây là một di tích lịch sử mang nhiều ý nghĩa. Là dấu tích cổ còn lại của một công trường thủ công lớn, một ngành công nghiệp quan trọng ra đời sớm nhất của Sài Gòn xưa. Là cái nôi của phong trào đấu tranh của các tầng lớp công nhân Sài Gòn. Xưởng cơ khí mang số 323 đường số 12 trong khuôn viên xí nghiệp là nơi người thợ máy Tôn Đức Thắng (sau này là Chủ tịch nước Việt Nam - từ 1969 đến 30/08/1980) đã từng làm việc và hoạt động cách mạng trong những năm 1915 - 1928.

Năm 1774, Nguyễn Ánh chiếm lại Sài Gòn. Song song với việc xây thành Bát Quái (thành Qui - 1790), Nguyễn Ánh đã cho lập xưởng Chu Sư (xưởng Thủy) - Trịnh Hoài Đức trong "Gia Định thành thông chí" đã viết: "Xưởng Chu Sư - ở cách phía Đông thành độ một dặm dọc theo bờ sông Tân Bình quanh theo sông Bình Trị, nhà làm gác để hải đạo thuyền cùng là dụng cụ thủy - chiến xưởng dài đến 3 dặm". Trên bản đồ tỉnh Gia Định năm 1815 của Trần Văn Học ghi rõ: "xưởng Thủy nằm phía Đông thành Bát Quái". Đến những năm đầu thế kỷ 19 xưởng đã mở rộng thành một công trường thủ công lớn: "Nơi sản xuất, sửa chữa mọi loại chiến thuyền, nơi đặt lò đúc các hạng súng lớn nhỏ bằng đồng hay bằng gang, nơi tập trung hàng ngàn công nhân với nhiều ngành chuyên môn khác nhau".

Năm 1861 Pháp hạ Đại Đồn Chí Hòa, chiếm lĩnh Sài Gòn. Ngày 28/4/1863 chính phủ Pháp đã ký nghị định chính thức thành lập Thủy xưởng (Arsenal) Ba Son, đặt trực thuộc Bộ Hải quân Pháp. Trong "Sài Gòn năm xưa" tác giả Vương Hồng Sến viết: "Theo quyển "Promenades dans SaiGon", bà Hilda Arnold ghi: buổi đầu người Pháp đã xuất ra trên 7.000.000 quan thời ấy để lấp đất và xây các ụ tàu "bassin de radoub" này, để có thể sửa chữa các thứ tàu chiến, tàu buôn tại đây khỏi đem về tận Pháp quốc. Thời ấy, cuộc chuyển vận đều do đường thủy nên cái "bassin de radoub" giúp họ nắm vận mạng xứ này trong tay".

Vì tầm quan trọng đó, năm 1884 chính phủ Pháp cho xây dựng thêm một ụ tàu lớn nữa để làm căn cứ sửa chữa tàu cho các hạm đội quân Pháp ở vùng Viễn Đông. Sau khi hiệp định Genève được ký kết, quân đội Pháp rút khỏi Đông Dương, ngày 12/9/1956 Pháp chuyển giao Ba Son lại cho hải quân chính quyền Sài Gòn. Dưới chế độ Sài Gòn cũ, Thủy xưởng Ba Son được đổi tên là Hải quân công xưởng, đặt trực thuộc Bộ Quốc phòng. Sau tháng 4/1975, Hải quân công xưởng được chính quyền Cách mạng tiếp quản và được đổi tên thành Liên hiệp xí nghiệp Ba Son, trực thuộc Bộ Quốc phòng cho đến ngày nay.

Theo sơ đồ tổ chức của Ba Son trước kia, gồm có một phòng thí nghiệm, hai khu, sáu ty và chín xưởng, trong đó có xưởng cơ khí là xưởng ra đời sớm nhất. Dưới thời Pháp, xưởng cơ khí gồm có hai trại tiện và nguội nằm trên diện tích 3.350m2, làm nhiệm vụ sửa chữa, chế tác các cơ phận cho các chiến hạm và quân nhu. Khi Ba Son được giao lại cho hải quân Sài Gòn thì xưởng đặt tên mới là "Ban cơ khí". Năm 1957 đổi tên là "Ty cơ khí", đến năm 1958 lại đặt tên là "Xưởng cơ khí". Danh xưng này được duy trì cho đến ngày nay.

Xưởng cơ khí ngày nay được thu gọn lại trên một diện tích 1.949m2, nằm trên khu nhà cũ của trại tiện. Nhà được xây theo hình chữ nhật, dài 59,8m, rộng 32,6m. Bên trong có 4 hàng gồm 26 cây cột đúc bê tông cốt thép, chống đỡ một sườn sắt, nâng một giàn rui bằng gỗ trên lợp ngói móc. Tường xây bằng gạch, hai bên tường giữa các khoảng cách hàng cột có 52 ô cửa bằng song sắt. Cửa ra vào được làm bằng sắt đẩy về hai phía.

Thủy xưởng Ba Son là một xưởng lớn nhất Sài Gòn, là một trong những nơi tập trung số lượng công nhân đông nhất ở Việt Nam trong những năm đầu thế kỷ. Nhằm đào tạo thợ cơ điện người bản xứ cung cấp cho các hãng, xưởng của người Pháp mở tại Sài Gòn, ngày 20/2/1906 chính phủ Pháp ký quyết định thành lập trường cơ khí Á châu tại Sài Gòn (Eécole des mécaniciens Asiatiques de SaiGon - tức trường Kỹ thuật Cao Thắng ngày nay). Xưởng sửa chữa tàu biển Ba Son là xưởng được sử dụng học sinh của trường thực hành tại xưởng và tuyển trực tiếp học sinh học xong tại trường.

Trường cơ khí Á châu Sài Gòn và xưởng cơ khí của Thủy xưởng Ba Son thời kỳ đó đã gắn liền với những hoạt động cách mạng đầu tiên của nhà cách mạng Tôn Đức Thắng. Học xong bậc tiểu học ở quê nhà: làng An Hòa, xã Mỹ Hòa Hưng, tổng Định Thành, tỉnh Long Xuyên (nay là xã Mỹ Hòa Hưng, thị xã Long Xuyên, tỉnh An Giang), người thanh niên Tôn Đức Thắng quyết định lên Sài Gòn tìm việc làm và định hướng cuộc đời mình vào tầng lớp thợ thuyền. Bác Tôn đã thi vào trường Cơ khí Á châu khóa học 1915 - 1917. Hiện nay tại Bảo tàng thành phố Hồ Chí Minh còn lưu giữ một cuốn sổ gốc ghi danh học sinh theo học các khóa ở trường này từ năm 1906 đến năm 1966.

Ở trang 8 của cuốn sổ, niên khóa 1915 - 1917 còn ghi rõ hàng chữ: Tôn Đức Thắng, 20 tuổi, sinh ở làng An Hòa, Long Xuyên, điểm trung bình các môn 16,4. Thời gian theo học ở trường cũng chính là thời gian bác tập làm thợ tại xưởng cơ khí Thủy xưởng Ba Son. Học chưa xong khóa học, bác Tôn và một số học sinh trường Cơ khí Á châu bị bắt lính đưa sang Pháp. Đến Pháp bác làm việc ở quân cảng Toulon, rồi làm thợ máy trên chiến hạm France. Năm 1919, bác Tôn tham gia cuộc phản chiến của các thủy thủ trong hạm đội phản đối chính phủ Pháp giúp quân Bạch vệ chống lại chính quyền Xô viết.

Tháng 8/1920 bác từ Pháp trở về Sài Gòn làm công nhân cho hãng KROFF và CIE. Chịu ảnh hưởng của cuộc Cách mạng tháng 10 Nga và học được nhiều kinh nghiệm đấu tranh của công nhân Pháp, bác Tôn đã vận động thành lập Công hội đỏ đầu tiên tại thành phố. Công hội bí mật phát triển trong công nhân xưởng Ba Son, hãng Faci, nhà đèn Chợ Quán... Từ năm 1920 đến 1925 số hội viên đã lên đến 300 người do bác Tôn làm hội trưởng. Đây là tổ chức Công hội đầu tiên của Việt Nam có mục đích tương trợ và đấu tranh bênh vực quyền lợi của công nhân, chống đế quốc tư bản.

Dưới sự lãnh đạo của Công hội đỏ, phong trào đấu tranh của công nhân thành phố trong thời kỳ này bùng nổ mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc bãi công đòi tăng lương, đòi nghỉ nửa ngày vào ngày lãnh lương của công nhân Thủy xưởng Ba Son nổ ra ngày 4/8/1925 kéo dài đến ngày 12/8/1925. Cuộc bãi công thắng lợi, nhưng để ủng hộ phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động Trung Quốc bằng cách "kìm chân" chiến hạm J. Mi-Sơ-Lê theo lệnh chính phủ Pháp cần sửa chữa gấp để đưa sang Trung Quốc đàn áp phong trào cách mạng. Cuộc bãi công của công nhân Ba Son tiếp tục bằng hình thức lãn công, kéo dài việc sửa chữa chiến hạm đến 4 tháng. Như vậy ở cuộc đấu tranh này ngoài việc đòi quyền lợi kinh tế và cải thiện điều kiện làm việc, còn mang tính chất chính trị, đặc biệt là khởi động ý thức đoàn kết quốc tế của giai cấp công nhân Việt Nam.

Cuộc bãi công của công nhân Ba Son dưới sự lãnh đạo của tổ chức Công hội đỏ đã mở đầu cho giai đoạn đấu tranh mới của giai cấp công nhân Việt Nam. Giai đoạn đấu tranh có tổ chức, có lãnh đạo và được sự ủng hộ của toàn thể công nhân và nhân dân lao động. Phong trào đấu tranh đã đi từ tự phát sang trình độ tự giác là cơ sở tốt để tiếp nhận chủ nghĩa Mác - Lênin.

Ngày 19/11/1975 trên cương vị Chủ tịch nước, bác Tôn đã về thăm lại xưởng Ba Son và ghi lại trong sổ lưu niệm của nhà máy "Sau nửa thế kỷ xa cách, hôm nay có dịp về thăm xưởng Ba Son, nơi trước đây làm thợ và hoạt động cách mạng, tôi rất sung sướng và cảm thấy như mình trẻ lại...". Sau khi gặp các đồng chí phụ trách, Bác Tôn đi thẳng xuống phân xưởng cơ khí, xưởng trung tâm của nhà máy với hơn 300 công nhân. Bước đi của Bác nhanh nhẹn, quen thuộc như một người thợ vừa rời nhà máy năm nào. Bác kể lại cho anh em nghe những cuộc đấu tranh của công nhân Ba Son thưở trước và động viên anh chị em cố gắng phấn đấu thi đua lao động sản xuất, mãi mãi xứng đáng với truyền thống anh hùng của Ba son. Ngày 12/8/1993 Bộ Văn hóa đã ra quyết định số 1034 QĐ/BT công nhận Ba Son là di tích lịch sử.


  1. BẢO TÀNG TÔN ĐỨC THẮNG

Bảo tàng Tôn Đức Thắng được thành lập nhân dịp kỷ niệm lần thứ 100 ngày sinh Chủ tịch Tôn Đức Thắng (20/8/1888 - 20/8/1988), với tên gọi ban đầu là "Nhà trưng bày cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng". Đến tháng 8/1980, được chính thức đổi tên thành Bảo tàng Tôn Đức Thắng.

Bảo tàng có hệ thống trưng bày với khoảng 1000 hiện vật, tài liệu, hình ảnh giới thiệu về cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng. Như: ngôi nhà thời niên thiếu tại cù lao Ông Hổ (xã Mỹ Hòa Hưng - An Giang), hình ảnh người thanh niên Tôn Đức Thắng nǎm 18 tuổi lên Sài Gòn học việc và làm thợ, chiếc rương gỗ dùng thời gian là học sinh trường Cơ khí á Châu. Những sự kiện kéo cờ phản chiến ở Biển Đen, sáng lập Công hội và lãnh đạo phong trào đấu tranh của công nhân Sài Gòn những nǎm 1920, hình ảnh "Hầm xay lúa" - nơi người "cặp-rằng" Hai Thắng thể hiện khí phách và đạo đức của người cộng sản... Và các chuyên đề mở rộng có liên quan đến hoạt động của Chủ tịch Tôn Đức Thắng như: Viên ngọc Côn Sơn, Bác Hồ và Bác Tôn, Cuộc sống đời thường của Chủ tịch Tôn Đức Thắng, Bác Tôn trong lòng nhân dân thế giới. Riêng công trình trưng bày tái hiện không gian làm việc và nghỉ ngơi của Bác Tôn cùng với việc trưng bày sưu tập hiện vật gốc "Cuộc sống đời thường của Chủ tịch Tôn Đức Thắng" đã khắc họa đậm nét đức tính giản dị, khiêm tốn, cuộc sống thanh đạm của một vị Chủ tịch nước.

Từ khi thành lập đến nay, Bảo tàng đã đón và phục vụ gần 1.500.000 lượt khách tham quan trong và ngoài nước. Trong thời gian qua, Bảo tàng đã triển lãm trưng bày các chuyên đề: Quê hương Bác Tôn ngày nay, Bác Tôn trong lòng miền Nam, Bác Tôn với thiếu nhi, Bác Tôn của chúng ta, 50 nǎm Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, Công nhân Sài Gòn - Thành phố Hồ Chí Minh tiếp bước người thợ Tôn Đức Thắng, Công Đoàn Việt Nam. Thực hiện và phát hành các chương trình ca nhạc, phim tài liệu, phim truyện về Bác Tôn; tổ chức các buổi nói chuyện, tìm hiểu và học tập gương sáng của Bác Tôn cho các em học sinh... Bảo tàng đã trở thành một địa điểm vǎn hóa - là nơi gặp gỡ, sinh hoạt của các đồng chí lão thành cách mạng, của thanh thiếu niên và các tầng lớp nhân dân.

Với những kết quả đã được, nǎm 1995 Bảo tàng Tôn Đức Thắng được trao tặng Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ. Đến nǎm 2001, đơn vị lại vinh dự đón nhận Huân chương Lao động hạng Ba - phần thưởng cao quý của Nhà nước. Bảo tàng luôn cố gắng đổi mới và nâng cao các hoạt động để ngày càng đạt hiệu quả hơn, đáp ứng nhu cầu giáo dục truyền thống cách mạng thông qua cuộc đời và sự nghiệp của Chủ tịch Tôn Đức Thắng.



* Bảo tàng mở cửa phục vụ hằng ngày trong tuần, kể cả chủ nhật, lễ, Tết, nghỉ thứ hai và chiều thứ sáu:

Sáng: từ 7 giờ 30 đến 11 giờ 30

Chiều: từ 13 giờ 30 đến 17 giờ 00

* Địa chỉ: số 5 Tôn Đức Thắng, P. Bến Nghé, Q.1, Tp. Hồ Chí Minh

Điện thoại: 8.297542 Fax: 8.294651




  1. CON ĐƯỜNG MANG TÊN TÔN ĐỨC THẮNG

Để tỏ lòng biết ơn và tưởng nhớ cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng – người thợ máy Ba Son, người chiến sĩ cách mạng kiên cường suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đoàn kết quốc ế, người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minhg vĩ đại – và để ghi nhớ những kỷ niệm nơi Bác Tôn đã từng sống, làm việc và đấu tranh, sáng chủ nhật ngày 5/7/1981, nhân dân thành phố đã long trọng cử hành lễ đặt tên “Đường Tôn Đức Thắng”.

Đồng chí Lê Quang Chánh, thay mặt Thành Ủy và Ủy ban nhân dân thành phố, đã đọc diễn văn: “Để tỏ lòng tưởng nhớ và biết ơn Cố Chủ tịch Tôn Đức Thắng, người chiến sĩ cách mạng kiên cường suốt đời đấu tranh cho độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội và đoàn kết quốc tế, người bạn chiến đấu gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, hôm nay Thành Ủy, Ủy ban nhân dân và Hội đồng nhân dân thành phố long trọng cử hành lễ đặt tên đường Tôn Đức Thắng cho con đường lớn ở trung tâm thành phố nối đường Nguyễn Tất Thành ở quận 4 với đường 30-4 quận 1”



Đồng chí Võ Văn Kiệt, Bí thư Thành ủy đã tự tay gắn bảng “Đường Tôn Đức Thắng” và cắt băng đặt tên đường giữa niềm vui và xúc động vô hạn của nhân dân thành phố mang tên Hồ Chí Minh.


  1. THƯ CỦA CHỦ TỊCH TÔN ĐỨC THẮNG
    gửi các đồng chí thương binh,bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội
    nhân lễ mừng chiến thắng vĩ đại của dân tộc ta


Hà Nội, ngày 14 tháng 5 nǎm 1975

Thân ái gửi các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội.
Sài Gòn đã giải phóng. Toàn miền Nam đã hoàn toàn giải phóng, Tổ quốc Việt Nam đã hoàn toàn độc lập, tự do.


Dưới ngọn cờ vẻ vang của Đảng, quân và dân ta đã đánh bại hoàn toàn cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai. Đây là thắng lợi vĩ đại nhất, oanh liệt nhất trong lịch sử đấu tranh chống ngoại xâm của dân tộc ta.

Quân và dân ta hết sức phấn khởi, tự hào đã thực hiện một điều thiết tha mong muốn của Bác Hồ: "Đánh cho Mỹ cút, đánh cho nguỵ nhào", hoàn toàn giải phóng miền Nam, giải phóng Tổ quốc.

Thắng lợi này đã mở ra một thời kỳ mới để dân tộc ta vững bước tiến lên, thực hiện thống nhất nước nhà, "Xây dựng đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn".

Trước giờ phút trọng đại này, thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, tôi thân ái gửi lời thǎm hỏi ân cần nhất, thắm thiết nhất đến các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội.

Thắng lợi của dân tộc ta là thắng lợi rực rỡ của đường lối đúng đắn, sáng tạo, độc lập, tự chủ của Đảng và Hồ Chủ tịch; của tinh thần đại đoàn kết toàn dân, đoàn kết quân và dân; của tinh thần chiến đấu anh dũng, mưu trí của các lực lượng vũ trang nhân dân ta; của sự ủng hộ và giúp đỡ to lớn của anh em bầu bạn trên khắp thế giới.

Các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội đã có vinh dự lớn góp phần xứng đáng vào thắng lợi vĩ đại chung của dân tộc. Tổ quốc ghi công, nhân dân đời đời biết ơn các anh hùng liệt sĩ, những người con ưu tú của dân tộc đã anh dũng hy sinh cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta. Tổ quốc và nhân dân luôn luôn ghi nhớ công lao của  các đồng chí thương binh, bệnh binh, các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội.

Trước tình hình và nhiệm vụ mới, tôi mong rằng các đồng chí thương binh, bệnh binh ở các chiến trường không ngừng phát huy bản chất và truyền thống cách mạng tốt đẹp của quân đội ta, nêu cao ý thức tổ chức và kỷ luật, đoàn kết, khiêm tốn, yên tâm điều trị, phục hồi nhanh chóng sức khoẻ để thực hiện nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Các đồng chí thương binh, bệnh binh cần phấn đấu để luôn luôn là những chiến sĩ, những công dân gương mẫu.

Tôi mong rằng các gia đình liệt sĩ, gia đình bộ đội không ngừng phát huy truyền thống anh hùng của dân tộc, truyền thống gia đình vẻ vang, hǎng hái thi đua lập nhiều thành tích mới trong sản xuất và xây dựng đất nước.

Tôi gửi đến các cháu thanh niên, thiếu niên và nhi đồng con em các liệt sĩ, con em thương binh, con em bộ đội những cái hôn âu yếm nhất. Các cháu hãy xứng đáng là cháu ngoan của Bác Hồ.

Chào thân ái và quyết thắng.

                                                                                                                     Tôn Đức Thắng



  1. CÔNG ĐOÀN VIỆT NAM QUA 9 THỜI KỲ

Mục tiêu của Công đoàn Việt Nam đặt ra qua 9 kỳ đại hội luôn phù hợp với sự phát triển của từng giai đoạn cách mạng Việt Nam:

Đại hội I CĐVN  (năm 1950): “Động viên CNVC phục vụ kháng chiến chống Pháp”



- Đại hội II CĐVN  (năm 1961): “Thi đua xây dựng CNXH ở miền Bắc với tinh thần “ mỗi người làm việc bằng hai vì miền Nam ruột thịt”,

- Đại hội III CĐVN  (năm 1974): “Động viên sức người, sức của chi viện cho miền Nam, thống nhất đất nước”,

- Đại hội IV CĐVN (năm 1978): “Động viên CNVC thi đua lao động sản xuất, đẩy mạnh công nghiệp hóa”;

- Đại hội V CĐVN  (năm 1983): “Động viên CNVC thực hiện 3 chương trình lớn của Đảng (phát triển nông nghiệp và công nghiệp thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu”;

- Đại hội VI CĐVN (năm 1988): “Thực hiện đường lối đổi mới của Đảng vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội”;

- Đại hội VII CĐVN (năm 1993): “Đổi mới tổ chức và hoạt động Công đoàn, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, chăm lo bảo vệ lợi ích của CNLĐ”;

- Đại hội VIII CĐVN (năm 1998): “Vì sự nghiệp Công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, vì việc làm, đời sống, dân chủ và công bằng xã hội, xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh”;

- Đại hội IX CĐVN  (năm 2003): “Xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức công đoàn vững mạnh, chăm lo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của CNVCLĐ, góp phần tăng cường đại đoàn kết toàn dân tộc, thực hiện thắng lợi sự nghiệp CNH-HĐH đất nước”.


  1. MỘT SỐ SÁCH BÁO THAM KHẢO

  • Hỏi và đáp về Chủ tịch Tôn Đức Thắng và lược sử phong trào công nhân Việt Nam (NXB Trẻ, 2004)

  • Tôn Đức Thắng – tiểu sử (NXB Chính trị quốc gia, 2007)

  • Tài liệu tham khảo Hội thi “Chủ tịch Tôn Đức Thắng – Một nhân cách lớn” (Liên đoàn Lao động TP.HCM, 2003, lưu hành nội bộ)


Cập nhật ngày 9/5/2008 – Công Đoàn 1 Trang




1   2


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương