TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 4118 : 2012



tải về 2.88 Mb.
trang1/14
Chuyển đổi dữ liệu23.07.2016
Kích2.88 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14
TIÊU CHUẨN QUỐC GIA

TCVN 4118 : 2012

CÔNG TRÌNH THỦY LỢI - HỆ THỐNG TƯỚI TIÊU - YÊU CẦU THIẾT KẾ



Irrigation system - Irrigation canal design standard

Lời nói đầu

TCVN 4118 - 2012 Công trình thủy lợi - Hệ thống tưới tiêu - Yêu cầu thiết kế được chuyển đổi từ TCVN 4118-1985 Hệ thống kênh tưới - Yêu cầu thiết kế theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật và điểm a khoản 1 Điều 7 Nghị định số 127/2007/NĐ-CP ngày 1/8/2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật.

TCVN 4118:2012 do Viện Khoa học thủy lợi Việt Nam biên soạn, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn đề nghị, Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng thẩm định, Bộ Khoa học và Công nghệ công bố.
CÔNG TRÌNH THỦY LỢI - HỆ THỐNG TƯỚI TIÊU - YÊU CẦU THIẾT KẾ

Irrigation system - Irrigation canal design standard

1. Phạm vi áp dụng

1.1. Tiêu chuẩn này quy định các yêu cầu kỹ thuật khi thiết kế hệ thống kênh tưới. Phạm vi áp dụng bao gồm xây dựng mới, cải tạo nâng cấp hoặc mở rộng hệ thống kênh tưới đã có không phân biệt nguồn vốn đầu tư;

1.2. Có thể áp dụng các quy định trong tiêu chuẩn này để thiết kế các kênh dẫn nước khác (kênh tiêu, kênh dẫn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản, ...) có điều kiện làm việc và đặc tính kỹ thuật tương tự.

2. Thuật ngữ và định nghĩa

2.1. Hệ thống kênh tưới (Irrigation system)

Bao gồm các kênh dẫn nước tưới và các công trình trên kênh.



2.2. Các công trình trên kênh (Canal structures)

Bao gồm: các công trình lấy nước, các công trình điều tiết, công trình đo nước, công trình chuyển nước, công trình tiêu nước, công trình xả nước khi có sự cố và xả nước cuối kênh, công trình giao thông và các công trình phục vụ quản lý hệ thống kênh tưới.



2.3. Mạng lưới kênh tưới (Irrigation Canal system)

Bao gồm kênh chính, các kênh nhánh cấp I, các kênh nhánh cấp II, các kênh nhánh cấp III, ... và các kênh nhánh cấp cuối cùng dẫn nước vào ruộng.

a) Kênh chính là kênh dẫn nước từ nguồn phân phối nước cho các kênh nhánh cấp I;

b) Kênh nhánh cấp I là kênh dẫn nước từ kênh chính phân phối nước cho kênh nhánh cấp II;

c) Kênh nhánh cấp II là kênh dẫn nước từ kênh chính phân phối nước cho kênh nhánh cấp III;

d) …


2.4. Kênh tưới (Irrigation Canal)

Là kênh chuyển nước tưới.



3. Ký hiệu

3.1. Ký hiệu các kênh thuộc mạng lưới kênh tưới được quy định như sau:

Kênh chính: KC;

Kênh nhánh cấp I: N1, N2, N3, v.v.;

Kênh nhánh cấp II: N1-1, N1-2, N1-3, v.v...;

N2-1, N2-2, N2-3, v.v...;

N3-1, N3-2, N3-3, v.v...;

Kênh nhánh cấp III: N1-1-1, N1-1-2, N1-1-3, v.v...;

N1-2-1, N1-2-2, N1-2-3, v.v...;

3.2. Trường hợp một hệ thống kênh tưới có nhiều kênh chính thì ký hiệu là: KC1, KC2, KC3, v.v..

3.3. Những ký hiệu có một chỉ số của kênh nhánh là kênh cấp I; có hai chỉ số là kênh cấp II; có ba chỉ số là kênh cấp III; v.v...;

3.4. Chỉ số của kênh nhánh cấp I quy định như sau: Nếu đi theo chiều dòng chảy trên kênh chính, dùng chỉ số chẵn cho kênh bên phải và dùng chỉ số lẻ cho kênh bên trái. Các kênh nhánh cấp II, III, v.v... cũng quy định tương tự;

3.5. Sơ đồ các ký hiệu mạng lưới kênh tưới được thể hiện trên hình 1.1;

3.6. Ký hiệu các công trình trên hệ thống kênh tưới và ký hiệu vùng tưới tiêu bằng màu trên bản đồ quy định tại phụ lục A.



Hình 1 - Sơ đồ các ký hiệu mạng lưới kênh tưới

4. Yêu cầu kỹ thuật chung khi thiết kế hệ thống kênh tưới

4.1. Phân cấp thiết kế

4.1.1. Cấp công trình hệ thống kênh tưới là căn cứ để xác định các yêu cầu kỹ thuật bắt buộc phải tuân thủ theo các mức khác nhau phù hợp với quy mô và tầm quan trọng của công trình, là cơ sở và căn cứ pháp lý để quản lý hoạt động xây dựng, cấp thiết kế công trình là cấp công trình.

4.1.2. Hệ thống kênh tưới được phân thành 4 cấp, từ cấp I đến cấp IV (không có cấp đặc biệt) được quy định trong bảng 1. Khi các quy định về phân cấp công trình thủy lợi trong QCVN 04- 05:2012/BNNPTNT thay đổi thì bảng 1 cũng thay đổi theo cho phù hợp.

4.1.3


Bảng 1 - Phân cấp hệ thống kênh tưới

Quy mô

Cấp công trình

I

II

III

IV

1. Hệ thống thủy nông có sức tưới hoặc sức tiêu trên diện tích: Fx103 ha

Diện tích
> 50 đến 75

Diện tích
từ 10 đến <50

Diện tích
từ 2 đến <10

Diện tích
 2

2. Công trình cấp nước nguồn cho sinh hoạt, sản xuất có lưu lượng: Q, m3/s

Lưu lượng
từ 10 đến <20

Lưu lượng
từ 2 đến <10

Lưu lượng
< 2




4.1.4. Nếu kênh tưới đồng thời làm nhiệm vụ khác (như giao thông thủy, cấp nước công nghiệp, v.v...) thì cấp của kênh tưới được lấy theo cấp lớn nhất được xác định theo từng nhiệm vụ;

4.1.5. Cấp của các công trình trên kênh tưới được xác định theo cấp của kênh tưới. Khi có kết hợp với các công trình kỹ thuật khác (như giao thông, cấp nước dân dụng, v.v...) thì cấp của các công trình trên kênh tưới được lấy theo cấp lớn nhất được xác định theo từng nhiệm vụ.



4.2. Hệ số sử dụng ruộng đất và hệ số chiếm đất

Hệ số sử dụng ruộng đất của hệ thống kênh ký hiệu là Ksd, được xác định theo công thức (1)

(1)

Trong đó:

đt là diện tích đất thực tế được tưới từ công trình;

Fđ là diện tích đất tự nhiên vùng được tưới, (bao gồm cả diện tích đt, diện tích dùng làm hệ thống kênh tưới, diện tích các công trình khác và diện tích không được tưới).

Để xác định diện tích đất vùng được tưới do công trình thủy lợi nào đảm nhiệm, việc phân ranh giới vùng được tưới căn cứ vào ranh giới đổi núi, sông ngòi, đường xá, hoặc các ranh giới hành chính thuận lợi cho việc tổ chức quản lý, khai thác công trình.

Hệ số sử dụng đất (Ksd < 1) càng lớn thì hiệu quả của dự án càng cao.

4.2.2. Hệ số chiếm đất của hệ thống kênh, ký hiệu là K, được xác định theo công thức (2)

(2)

Trong đó:

F là diện tích chiếm đất của hệ thống kênh tưới và kênh tiêu làm mới đo hệ thống kênh tưới gây trở ngại tình trạng tiêu tự nhiên như trước khi xây dựng hệ thống kênh tưới đó;

Đối với kênh nhỏ (lưu lượng <2m3/s) ưu tiên lựa chọn hình thức kênh là chữ nhật để giảm diện tích chiếm đất.

Trong mọi trường hợp, K phải thỏa mãn biểu thức: K  [K] (3)

Hệ số chiếm đất cho phép [K] được xác định theo bảng 2.



Bảng 2 - Hệ số chiếm đất cho phép theo vùng

Vùng

K, %

Cây lương thực, rau

- Miền núi

- Trung du và đồng bằng

từ 4 đến 6

từ 5 đến 7


Cây công nghiệp

từ 3 đến 4

Đồng cỏ

từ 2 đến 3

4.3. Yêu cầu kỹ thuật bố trí mặt bằng hệ thống kênh tưới

4.3.1. Khi thiết kế mặt bằng tuyến kênh, phải xét tới quy hoạch trồng trọt trong khu vực;

4.3.2. Cần bố trí các nhánh kênh sao cho phạm vi tưới của chúng nằm gọn trong từng địa giới khu vực hành chính hoặc các đơn vị sản xuất như nông trường, nông trại, để việc tổ chức sản xuất nông nghiệp và quản lý phân phối nước hợp lý;

4.3.3. Khi thiết kế kênh tưới phải xét tưới việc sử dụng tổng hợp nhằm thỏa mãn các nhu cầu dùng nước của các ngành kinh tế để mang lại lợi ích lớn nhất như: phát điện, vận tải thủy, cấp nước cho công nghiệp, dân dụng, v.v...

4.3.4. Kênh tưới phải được thiết kế sao cho việc tưới tự chảy được nhiều nhất.

4.3.5. Cần thiết kế mạng lưới kênh tưới đi qua những vùng có địa chất tốt để kênh ổn định, ít thấm. Thiết kế kênh nhánh cấp trên phải tạo điều kiện thuận lợi để thiết kế kênh nhánh cấp dưới và các công trình trên kênh.

4.3.6. Khi tuyến kênh đi qua vùng đất thấm mạnh, lầy thụt; tuyến kênh đi qua vùng đồi núi hoặc thung Iũng có hiện tượng sụt lở, kém ổn định... nên thiết kế hệ thống tưới bằng máng nổi theo các điều kiện:

a) Khoảng cách giữa các máng nổi phân nước được quy định tùy theo điều kiện địa hình của khu tưới và phải xác định trên cơ sở tính toán kinh tế, kỹ thuật.

b) Máng nổi nên thiết kế với vận tốc lớn để giảm mặt cắt ngang của máng và chống bồi lắng trong máng.

4.3.7. Khi tuyến kênh đi qua khu vực dân cư, khu công nghiệp, khu đô thị nên ưu tiên lựa chọn hình thức kênh hộp chữ nhật có tấm nắp bảo vệ nhằm giảm diện tích chiếm đất, ngăn ngừa rác và chất thải lọt vào trong kênh.

4.3.8. Phương án thiết kế kênh phải bảo đảm:

a) Kênh vượt qua chướng ngại vật ít nhất;

b) Khối lượng đào, đắp ít;

c) Chiếm ít diện tích đất sản xuất;

d) Dễ thi công, dễ quản lý.

4.3.9. Hệ thống kênh tưới phải thiết kế đồng thời với hệ thống kênh tiêu, để tạo thành một hệ thống tưới, tiêu hoàn chỉnh.

4.3.10. Việc lấy đất đắp kênh và đổ đất thải ra cần bố trí hợp lý. Phải san, lấp các thùng đấu san bãi thải, giữ đất mầu làm đất trồng trọt.

4.3.11. Giới hạn hành lang bảo vệ kênh:

a) Đối với kênh nổi:

- Lưu lượng nhỏ hơn 10 m3/giây: Phạm vi bảo vệ từ chân mái ngoài của kênh trở ra từ 2 m đến 3 m.

- Lưu lượng lớn hơn 10 m3/giây: Phạm vi bảo vệ từ chân mái ngoài của kênh trở ra từ 3 m đến 5 m.

b) Đối với kênh chìm: Phạm vi bảo vệ từ điểm giao mái của kênh trở ra từ 3 m đến 5 m.

4.3.12. Giới hạn hành lang bảo vệ công trình trên kênh:

- Phạm vi bảo vệ từ điểm xây dựng hoặc gia cố bảo vệ ngoài cùng của công trình trên kênh trở ra từ 3 m đến 5 m.

- Ngoài ra phải tuân thủ theo Pháp lệnh khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi hiện hành.

4.3.13. Khi kênh đi dưới đường dây tải điện hoặc song song với đường dây tải điện, các hành lang bảo vệ an toàn được tuân thủ theo tiêu chuẩn của đường dây tải điện hiện hành.



4.4. Yêu cầu bố trí các công trình trên hệ thống kênh tưới

4.4.1. Các công trình trên hệ thống kênh tưới phải được bố trí một cách hợp lý nhằm:

a) Phân phối nước, điều tiết lưu lượng và mực nước trong kênh (như công trình lấy nước, cống điều tiết, tràn mỏ vịt, v.v...);

b) Đo được lượng nước tại điểm lấy nước và trong hệ thống phân phối nước (như các công trình đo nước, ...);

c) Nối tiếp mực nước thượng, hạ lưu làm giảm độ dốc của đáy kênh, giảm khối lượng đào, đắp kênh (như bậc nước, dốc nước);

d) Chuyển nước trên kênh qua những chỗ giao nhau giữa kênh tưới với sông suối, với kênh tiêu, với đường giao thông, với vùng đất trũng (như cầu máng, cống luồn, cầu giao thông v.v...);

e) Bảo đảm sự an toàn khi hệ thống kênh hoạt động (như tràn bên, cống tháo nước cuối kênh);

f) Ngăn cát và phù sa hạt thô (như bể lắng cát, đập chắn cát ở đầu kênh chính, v.v...);

g) Bảo đảm giao thông thủy, giao thông bộ trên những đoạn kênh có yêu cầu (như cầu giao thông, âu thuyền);

h) Bảo đảm khả năng thoát lũ và tiêu úng (như các công trình tiêu nước, tràn băng, ...);

i) Tạo điều kiện thuận lợi cho công tác quản lý và khai thác cũng như nâng cấp hệ thống sau này (như nhà quản lý, hệ thống liên lạc, hệ thống mốc cao độ và cột kilômét, bến rửa, ...).

4.4.2. Khi xây dựng các công trình trên hệ thống kênh tưới phải giảm tối đa số lượng các công trình trên kênh bằng cách kết hợp một công trình làm nhiều chức năng (như một công trình vừa làm nhiệm vụ điều tiết nước, đo nước, v.v...).

4.4.3. Các công trình điều tiết ở gần nhau cần kết hợp thành một cụm để thuận tiện trong việc khai thác công trình và quản lý vận hành.

4.5. Yêu cầu đối với các công trình trên hệ thống kênh tưới

4.5.1. Cống lấy nước: cống lấy nước phải đảm bảo chuyển được lưu lượng nước từ kênh cấp trên vào kênh nhánh cấp dưới phù hợp với nhu cầu dùng nước, tổng tổn thất cột nước qua cống phải nhỏ nhất. Cửa cống phải kín nước, thao tác đóng mở thuận lợi.

4.5.2. Công trình điều tiết mực nước và lưu lượng: Công trình điều tiết mực nước và lưu lượng có tác dụng dâng nước và điều tiết lưu lượng phục vụ tưới luân phiên và dâng nước tại những nơi cần thiết. Công trình điều tiết phải có cửa van kín và thiết bị đóng mở thuận tiện. Công trình điều tiết thường được kết hợp làm cầu qua kênh hoặc công trình nối tiếp như bậc hoặc dốc nước. Khi kênh có kết hợp vận tải thủy thì chiều rộng cửa và độ cao tĩnh không phải phù hợp với loại tàu thuyền qua lại trên kênh.

4.5.3. Công trình đo nước: Trong hệ thống kênh tưới cần phải bố trí công trình đo mực nước và lưu lượng (gọi là công trình đo nước) phục vụ cho công tác quản lý và phân phối nước. Công trình đo nước đặt ở đầu kênh chính, đầu các kênh nhánh. Công trình đo nước ở đầu kênh chính được đặt cách cống lấy nước ở đầu kênh chính về phía hạ lưu khoảng 50 m đến 200 m (đặt tại nơi có dòng chảy đã trở lại trạng thái chảy ổn định đều trong kênh). Công trình đo nước ở đầu các kênh nhánh được đặt cách cống lấy nước ở đầu kênh nhánh về phía hạ lưu từ 20 m đến 100 m. Ngoài các công trình đo nước, trong hệ thống kênh tưới cần có công trình đo chuyên dùng để đo các thông số vận tải, độ bồi, xói v.v.... Có thể tận dụng công trình thủy công để đo nước. Các điều kiện sử dụng công trình thủy công để đo nước:

a) Công trình thủy công phải hoàn chỉnh, không hư hỏng, rò rỉ, biến dạng, thiết bị đóng mở phải tốt. vận hành an toàn;

b) Trước và sau công trình rãnh cửa không có bùn cát lắng đọng, không có rác tích tụ làm cản trở dòng chảy;

c) Khi dòng chảy từ phía bên vào công trình thì vận tốc dòng chảy không được quá 0.7 m/s. Dòng chảy vào công trình phải ổn định;

d) Dòng chảy vào công trình theo phía chính diện phải đối xứng; Tổn thất cột nước qua công trình không được nhỏ hơn 5 cm;

e) Dòng chảy qua công trình ở trạng thái tự do.

f) Chiều sâu nước hạ lưu phải thấp hơn hoặc bằng 0,90 lần chiều sâu nước thượng lưu.

4.5.4. Công trình nối tiếp: Bậc nước hoặc dốc nước cần có hình thức cửa vào thích hợp để duy trì được mức nước ở thượng lưu công trình, tránh hiện tượng phát sinh đường nước hạ.

4.5.5. Công trình chuyển nước:

a) Cầu máng:

- Khi kênh cắt qua đường giao thông có mặt đường giao thông thấp hơn nhiều so với đáy kênh thì nên làm cầu máng qua đường. Chiều cao từ mặt đường đến đáy cầu máng phải lớn hơn độ cao tĩnh không tối thiểu quy định tại các quy định hiện hành của ngành giao thông.

- Đối với những sông, suối, kênh không có yêu cầu giao thông thủy, khi có kênh tưới cần vượt qua mà đáy kênh tưới cao hơn mực nước lớn nhất của sông, suối thì nên làm cầu máng nối tiếp kênh tưới.

- Đối với sông, suối, kênh có yêu cầu giao thông thủy thì độ dài của nhịp máng phải vượt qua và độ cao tĩnh không phải đảm bảo cho tàu thuyền qua lại dưới gầm cầu máng được an toàn.

- Hai đầu cầu máng cần có biện pháp chống thấm tốt tránh rò rỉ. Chân trụ cầu máng phải được bảo vệ vững chắc, tránh xói, lở.

b) Cống luồn:

- Khi kênh tưới qua đường mà mực nước kênh tưới chênh không nhiều với cao trình mặt đường thì nên làm cống luồn qua đường.

- Nếu lưu lượng của sông suối nhỏ hơn lưu lượng kênh tưới cắt qua (kể cả trong mùa lũ) thì nên làm cống luồn dưới kênh.

- Đối với cống luồn nằm dưới kênh, khoảng cách từ đáy kênh tới đỉnh cống luồn nằm dưới nó không nhỏ hơn một độ dày f. Trường hợp kênh có giao thông thủy f=1,0 m; Trường hợp kênh không có giao thông thủy f=0,5 m đến 0,7 m.

- Đối với đoạn cống luồn nghiêng, góc nhọn nghiêng hợp bởi giữa tim cống luồn và đường nằm ngang không nên lớn hơn 20°.

- Để tránh lắng đọng bùn cát trong cống luồn, vận tốc dòng chảy trong cống luồn nên từ 1,5 m/s đến 4 m/s và không được nhỏ hơn vận tốc dòng chảy trong kênh tại đoạn vào và ra của cống luồn đó. Trường hợp vận tốc trung bình của dòng chảy trong cống luồn nhỏ hơn 1,5 m/s, trước cống luồn cần có bể lắng cát. Cần có luận chứng kinh tế và kỹ thuật để chọn vận tốc dòng chảy trong cống luồn và đường kính của cống hợp lý.

- Trước cửa cống luồn phải có lưới chắn rác. Phải kiểm tra các chế độ thủy lực trong cống luồn đối với lưu lượng lớn nhất và nhỏ nhất, tránh hiện tượng nước nhảy trong cống.

4.5.6. Công trình xả nước khi có sự cố và xả nước cuối kênh.

Hệ thống kênh tưới cần phải có các công trình tràn bên để phòng ngừa nước tràn bờ kênh, gây sạt lở vỡ bờ khi:

- Cống lấy nước đầu kênh bị hỏng, nước vào kênh quá nhiều; nước mưa, nước lũ ở các lưu vực nhỏ hai bên bờ kênh chảy vào trong kênh quá nhiều;

- Cống ở đầu kênh đã mở, nhưng các cống lấy nước hoặc cống điều tiết ở phía sau mở chậm hoặc mở nhỏ hơn quy định làm cho nước trong kênh dâng cao gây tràn bờ.

a) Tràn bên (tràn vào, tràn ra):

- Các vị trí cần đặt tràn bên: Hạ lưu các cống lấy nước đầu kênh; Thượng lưu đoạn kênh xung yếu, như đoạn kênh đắp nổi dễ bị xói lở hoặc đoạn kênh đi men sườn dốc; Thượng lưu cống điều tiết; Cuối đoạn kênh có nước mưa lũ chảy vào.

- Độ cao đường tràn bên lấy bằng độ cao mức nước thiết kế trong kênh, cột nước tràn bằng hiệu số giữa mực nước lớn nhất và mực nước thiết kế trong kênh.

- Lưu lượng thiết kế qua tràn bên có thể lấy bằng 50% lưu lượng thiết kế của kênh ở vị trí đặt tràn bên.

- Khi dùng tràn bên để tháo lượng nước mưa lũ chảy vào kênh thì lưu lượng qua tràn bên lấy bằng lưu lượng mưa lũ chảy vào kênh đó. Trong trường hợp này cần có biện pháp xử lý sự lắng đọng bùn cát trong kênh và cần có tràn bên để tháo hết lượng nước mưa lũ đã chảy vào kênh.

a) Tràn băng (tháo nước mưa lũ chảy qua kênh):

- Các vị trí cần đặt tràn băng: Đoạn kênh có nước mưa lũ chảy vào đoạn kênh đi men sườn dốc; Tại các vị trí mà địa hình không cho phép làm cống tiêu nước cắt qua kênh và lưu vực tập trung nước mưa nhỏ.

- Lưu lượng thiết kế qua tràn băng: Lưu lượng qua tràn băng lấy bằng lưu lượng mưa lũ chảy vào kênh.

- Độ cao tường tràn băng: Xác định theo sơ đồ tháo qua ngưỡng tràn đỉnh rộng, tuy nhiên không nên thiết kế lớn quá làm tăng qui mô đường dẫn và tiêu năng ở hạ lưu tràn...

b) Cống tháo nước cuối kênh.

- Trong mạng lưới kênh tưới mà đoạn kênh cuối có lưu lượng bằng hay lớn hơn 0,5 m3/s, phải làm cống tháo nước cuối kênh để xả bớt nước trong kênh khi mực nước dâng quá cao hoặc tháo cạn nước trong kênh để sửa chữa kênh hoặc công trình trên kênh.

- Cống tháo nước cuối kênh lấy bằng 25% đến 50% lưu lượng thiết kế của đoạn cuối kênh.



4.5.7. Bể lắng bùn cát

Bể lắng bùn cát thường được đặt ở những vị trí: Sau cống lấy nước đầu kênh chính; Trước công trình dẫn nước như cầu máng, cống luồn, v.v...; Nơi có vận tốc nước trong kênh giảm đáng kể; Nơi có điều kiện địa hình, địa chất thích hợp cho việc rửa bùn cát lắng đọng.



4.5.8. Công trình vận tải thủy trên kênh

Ở những đoạn kênh tưới có mực nước thay đổi, muốn kết hợp vận tải thủy, cần xây dựng các âu thuyền để tàu và thuyền qua lại an toàn. Việc thiết kế âu thuyền phải do các cơ quan có thẩm quyền quyết định.



4.5.9. Cầu qua kênh

Khi kênh hoặc công trình trên hệ thống kênh cắt qua đường giao thông, cần bố trí cầu giao thông để đảm bảo giao thông bình thường. Khi thiết kế cầu trên kênh cần xét đến yêu cầu cải tạo và mở rộng của mạng lưới giao thông khu vực. Cầu giao thông (sắt, bộ), phải thiết kế theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn hiện hành và các văn bản có liên quan. Đối với kênh có giao thông thủy, cầu giao thông phải bảo đảm độ cao tĩnh không cho tàu, thuyền qua lại. (tĩnh không thiết kế cần tuân theo các tiêu chuẩn hiện hành về giao thông và giao thông đường thủy nội địa).

Cần bố trí cầu dân sinh qua kênh, cầu phục vụ sản xuất nội đồng phù hợp với từng hệ thống.

4.5.10. Bến rửa dân sinh

- Khi thiết kế hệ thống kênh, nhất là các kênh đi qua khu dân cư, cần bố trí các bến rửa phục vụ dân sinh.

- Các bến rửa nên bố trí tại đầu tiếp giáp kênh và cầu qua kênh (một đầu), chiều rộng bến có thể từ 1 đến 3 m.

4.5.11. Các công trình quản lý khai thác hệ thống kênh tưới. Trên hệ thống kênh tưới cần có:

- Khu trung tâm và các đơn vị quản lý khu vực (nhà làm việc, nhà ở của công nhân viên, kho tàng, xưởng sửa chữa);

- Hệ thống liên lạc giữa khu trung tâm và các đơn vị quản lý khu vực;

- Cột km đặt trên bờ kênh bên phải, khi nhìn theo chiều dòng chảy của kênh chính và kênh nhánh cấp I có lưu lượng bằng hoặc lớn hơn 1 m3/s;

- Hệ thống mốc độ cao dưới đáy kênh và dọc theo tim kênh đối với kênh chính và kênh nhánh cấp I có lưu lượng bằng hoặc lớn hơn 1 m3/s được làm tương ứng với cột km trên bờ kênh.

- Cột km và cột mốc độ cao phải có kết cấu vững chắc, thuận tiện cho công tác quản lý, không làm ảnh hưởng đến sự đi lại trên bờ kênh.



5. Tính toán lưu lượng và hệ số lợi dụng của hệ thống kênh tưới

5.1. Các lưu lượng dùng để thiết kế kênh

5.1.1. Để xác định mặt cắt kênh tưới cần dùng 3 cấp lưu lượng:

- Lưu lượng thiết kế Qtk dùng để thiết kế mặt cắt kênh và công trình trên kênh. Lưu lượng thiết kế là lưu lượng lớn nhất trong biểu đồ lưu lượng thiết kế thuộc một đoạn kênh, một cấp kênh hay một hệ thống kênh. Biểu đồ lưu lượng được xây dựng trên cơ sở của biểu đồ hệ số tưới của các loại cây trồng do kênh đó đảm nhiệm tưới sau khi đã được điều chỉnh;

- Lưu lượng nhỏ nhất Qmin dùng để kiểm tra bồi lắng trong kênh và bố trí công trình điều tiết. Lưu lượng nhỏ nhất của một đoạn kênh, một cấp kênh, một hệ thống kênh không được nhỏ hơn 40% lưu lượng thiết kế tương ứng;

- Lưu lượng lớn nhất (lưu lượng bất thường) Qmax dùng để kiểm tra xói lở và xác định độ cao an toàn của đỉnh bờ kênh. Lưu lượng lớn nhất được xác định bằng lưu lượng thiết kế nhân thêm với hệ số K được quy định như bảng 3:

Bảng 3 - Xác định hệ số K ứng với lưu lượng thiết kế

Qtk, m3/s

< 1

= 1 đến 10

> 10

K

từ 1,2 đến 1,3

từ 1,15 đến 1,2

từ 1,1 đến 1,15

5.1.2. Lưu lượng thiết kế thực tế (Qthực tế) là lưu lượng thiết kế của kênh chưa kể tổn thất, m3/s.

Qthực tế = q .  . 10-3 (4)

Trong đó:

q là hệ số tưới thiết kế trên mặt ruộng (1/s.ha). Căn cứ vào biểu đồ hệ số tưới đã được điều chỉnh của các loại cây trồng chính để chọn hệ số tưới q. Xác định hệ số tưới mặt ruộng cho hệ thống kênh theo tiêu chuẩn hiện hành kết hợp với qui định về hệ số tưới cho các loại cây trồng của địa phương vùng dự án để xác định Qmax, Qtkế, Qmin;

 là diện tích tưới do kênh đó phụ trách (ha);

5.1.3. Lưu lượng nhỏ nhất thực tế (Qttmin) được xác định theo công thức (4), Trong đó q được thay thế bằng qmin. Căn cứ vào biểu đồ hệ số tưới đã được điều chỉnh để chọn trị số của hệ số tưới qmin.

5.1.4. Lưu lượng toàn bộ của kênh (Qtoàn bộ) là lưu lượng cần chuyển vào đầu kênh để bảo đảm Qthực tế đã xác định.

Qtoàn bộ - Qthực tế + Qtổn thất (5)

Hoặc Qtoàn bộ = (6)

Trong đó:

Qtổn thất là lưu lượng tổn thất trên kênh tương ứng với Qtoàn bộ cần xác định trên kênh đó;

 là hệ số lợi dụng của kênh, xác định theo các điều (5.3)

5.1.5. Khi xác định các yếu tố thủy lực của kênh làm việc liên tục, lưu lượng tính toán được phép lấy tròn về phía có trị số lớn hơn theo bảng 4.




  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương