TIÊu chuẩn ngành 22tcn 289: 2002 quy trình kỹ thuật thi công và nghiệm thu



tải về 0.59 Mb.
trang1/5
Chuyển đổi dữ liệu10.08.2016
Kích0.59 Mb.
  1   2   3   4   5
TIÊU CHUẨN NGÀNH

22TCN 289:2002

QUY TRÌNH KỸ THUẬT THI CÔNG VÀ NGHIỆM THU

CÔNG TRÌNH BẾN CẢNG


(Ban hành kèm theo Quyết định số 1206/2002/ QĐ - BGTVT, ngày 23 tháng 4 năm 2002 của Bộ trưởng Bộ GTVT )

1. PHẠM VI ÁP DỤNG

Tiểu chuẩn này áp dụng cho công tác thi công và nghiệm thu khi xây dựng mới, cải tạo và mở rộng các công trình bến cảng sông và biển (gọi chung là công trình bến) trong vùng nước kín cũng như không kín: Đồng thời còn được sử dụng khi chế tạo các bộ phận kết cấu của các công trình nêu trên trong công xưởng.

Khuyến khích áp dụng tiêu chuẩn này cho công tác thi công và nghiệm thu những hạng mục công trình thuỷ công dạng: Đê chắn sóng, đê ngăn cát, kè bảo vệ bờ, các công trình thuỷ công trong xưởng đóng tàu, công trình chỉnh trị dòng chảy, luồng tàu và các công trình báo hiệu đường thuỷ...

2. ĐỊNH NGHĨA VÀ THUẬT NGỮ

- Đá tự nhiên

Các loại đá được khai thác từ nguồn tự nhiên bằng phương pháp nổ mìn hay cơ giới. Việc phân loại được tiến hành trên cơ sở kích thước viên đá hoặc theo tỷ lệ phần trăm của khối lượng lọt qua các loại sàng tiểu chuẩn.

- Các khối bê tông thông thường và định hình

Là các bộ phận kết cấu của công trình, có thể bao gồm: các tấm bản, tấm tường góc, khối xếp, các khối dị hình... được thi công bằng phương pháp đúc sẵn. Các khối bê tông này được đưa vào vị trí công trình bằng phương pháp cẩu lắp.

- Thùng BTCT khối lớn

Là các khối hộp BTCT rỗng, thành mỏng, được chế tạo bằng phương pháp đổ bê tông tại chỗ liền khối toàn bộ thùng hoặc chia thành nhiều đợt. Sau khi chế tạo thùng có thể được thả nổi và lai dắt trên mặt nước, được lắp đặt vào vị trí bằng phương pháp cẩu lắp, đánh chìm hoặc kết hợp cả hai.

- Cộc ống BTCT đường kính lớn

Là loại kết cấu BTCT dạng ống có vỏ mỏng, có hoặc không có ứng suất trước, được đúc bằng phương pháp ly tâm. Cọc có thể được đúc liền khối trên suốt chiều dài hoặc phân thành nhiều đoạn và được nối với nhau bằng các mặt bích thép. Các cọc này được hạ vào trong đất bằng phương pháp rung, rung có lấy đất hoặc rung có kết hợp xói nước.

- Công trình bến kiểu tường góc BTCT

Là kết cấu BTCT dạng tấm bản đúc sắn lắp ghép hoặc đúc liền khối có gờ, đặt trên nền đá đã được san phẳng, phía sau lấp đầy bằng vật liệu rời, dùng trong xây dựng bến liền bờ dạng trọng lực. Độ ổn định của công trình được đảm bảo bằng trọng lượng bản thân kết cấu hoặc phối hợp với kết cấu neo.

- Công trình bến kiểu cầu tàu

Là công trình bến dạng bệ cọc dài cao có kết cấu bên trên bằng BTCT đúc sẵn, lắp ghép hoặc đổ tại chỗ trên nền cọc. Đài cọc có thể là mềm hay cứng phụ thuộc vào cấu tạo hoặc độ dày của kết cấu bên trên. Nền móng thường sử dụng các loại cọc rất đa dạng bằn thép hoặc BTCT, được hạ vào trong nền đất bằng các phương pháp đóng, rung hoặc rung kết hợp với xói hút, hoặc đổ BT tại chỗ. Tuỳ theo sự bố trí công trình liền bờ hoặc xa bờ có cầu dẫn mà phía dưới gầm bến có thể có hoặc không có mái dốc đá đổ để tăng cường độ ổn định của công trình.

- Công trình bến kiểu tường cừ

Là dạng bến liền bờ mà tuyến mép bến được tạo thành bởi hàng cọc cừ hay cọc ống bằng thép hoặc BTCT, được hạ vào nền đất thành một dãy thẳng liền nhau. Tường cừ có thể tự ổn định nhờ độ sâu cắm vào trong nền; hoặc được giữ ổn định bằng các kết cấu neo thép hoặc BTCT, hệ cọc neo, thậm chí bằng kết cấu kiểu cầu tàu.

- Kết cấu bến kiểu vây ô

Là kết cấu dùng trong công trình thuỷ có cấu tạo bao gồm các khung định vị bằng thép đặt trên mặt nền ở dưới nước để đóng các cọc thép thành từng khung kín, bên trong đổ đẩy đất hoặc các vật liệu rời khác.

- Bến liền bờ có thiết bị neo trượt

Là loại bến liền bờ được xây dựng từ các khối tổ hợp lớn bao gồm tường mặt, khung neo và bản neo. Liên kết giữa khung neo và tường mặt được thực hiện thông qua các khớp trượt theo phương thẳng đứng, làm cho công trình có khả năng tự điều chỉnh độ ổn định, hạn chế sự gia tăng nội lực của các bộ phận kết cấu.

3. CÁC TIÊU CHUẨN TRÍCH DẪN

- TCVN 4253 - 86: Nền các công trình thuỷ công - Tiêu chuẩn thiết kế.

- TCVN 4447 - 87: Công tác đất - Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu.

- TCVN 4055 - 85: Tổ chức thi công.

- TCVN 5585 - 91: Công tác lặn - Yêu cầu an toàn.

- TCVN 3255 - 86: An toàn nổ - Yêu cầu chung.

- TCVN 1771 - 87: Đá dăm, sỏi dăm, sỏi dùng trong xây dựng - Yêu cầu kỹ thuật.

- TCVN 1772 - 82: Đá sỏi trong xây dựng - Phương pháp thử.

- TCVN 4085 - 85: Kết cấu gạch đá - Quy phạm thi công và nghiệm thu.

- TCVN 4452 - 87: Kết cấu BT và BTCT lắp ghép - Quy phạm thi công, nghiệm thu.

- TCVN 4453 - 95: Kết cấu BT và BTCT toàn khối - Quy phạm thi công và nghiệm thu.

- TCVN 4116 - 85: Kết cấu BT và BTCT công trình thuỷ - Tiêu chuẩn thiết kế.

- TCVN 2682 - 92: Xi măng Poóc lăng.

- TCVN 6067 - 95: Xi măng Poóc lăng bền sun phát.

- TCXD 205: 1998: Móng cọc - Tiêu chuẩn thiết kế.

- TCN 1072 - 71: Gốc - Phân nhóm theo tính chất cơ lý.

- TCXD 79 - 80: Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu các công tác về nền móng.

- 20 TCN 69 - 87: Quy trình kỹ thuật thi công và nghiệm thu công trình bến khối xếp.

- TCXD 206 - 98: Cọc khoan nhồi - Yêu cầu về chất lượng thi công.

- 22 TCN 257 - 2000: Cọc khoan nhồi - Tiêu chuẩn thi công và nghiệm thu.

- 20 TCN 170 - 89: Kết cấu thép, gia công, lắp ráp và nghiệm thu - Yêu cầu kỹ thuật.

- TCVN 5524 - 1995: Chất lượng nước - Yêu cầu chung về bảo vệ nước mặt khỏi bị nhiễm bẩn.

- TCVN 5525 - 1995: Chất lượng nước - Yêu cầu chung bảo vệ nước ngầm.

- TCVN 5295 - 1995: Chất lượng nước - Yêu cầu chung về bảo vệ nước mặt và nước ngầm khỏi bị nhiễm bẩn do dầu và các sản phẩm dầu.

- TCVN 5945 - 1995: Nước thải công nghiệp - Tiêu chuẩn thải.

- TCVN 5937 - 1995: Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh.

- TCVN 5938 - 1995: Chất lượng không khí, Nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí xung quanh.

- TCVN 5939 - 1995: Chất lượng không khí - Tiêu chuẩn khí thải công nghiệp đối với bụi và chất vô cơ.

- TCVN 5970 - 1995: Lập kế hoạch giám sát chất lượng không khí xung quanh.

- TCVN 5948 - 1995: Âm học. Tiếng ồn phương tiện giao thông vận tải đường bộ. Mức ồn cho phép tối đa.

- TCVN 5949 - 1995: Âm học. Tiếng ồn khu vực công cộng. Mức ồn cho phép tối đa.

- 22TCN 242 - 98: Quy trình đánh giá tác động môi trường khi lập dự án và thiết kế xây dựng các công trình giao thông.



4. CÁC NGUYÊN TẮC CHUNG

4.1. Khi thực hiện công tác xây dựng các công trình bến, ngoài các yêu cầu của tiêu chuẩn này, cần phải tuân theo các yêu cầu tương ứng của các tiêu chuẩn hiện hành đối với công tác thi công và nghiệm thu các công trình xây dựng.

Việc thi công khô các công trình bến (có đê quai và hút nước) được thực hiện theo yêu cầu của Tiêu chuẩn thiết kế TCVN 4253 - 86 "Nền các công trình thuỷ công và TCVN 4447 - 87" Công tác đất - Thi công và nghiệm thu"

4.2. Khi cải tạo, mở rộng cũng như khi xây dựng mới các công trình bến, các công tác thi công cần được thực hiện theo các chỉ dẫn của cơ quan thiết kế, bằng các phương pháp xây dựng bảo đảm an toàn cho các công trình đã có ở gần đó, cho giao thông dưới nước cũng như trên mặt đất trong khu vực thi công, sao cho không phải di chuyển hoặc hạn chế tối đa sự gián đoạn thời gian khai thác của các công trình này.

4.3. Tiến độ thi công dự kiến trong thiết kế tổ chức thi công cần được xác định một cách hợp lý nhằm hạn chế tối đa các thiệt hại do bão và mưa lũ gây ra cho công trình.

4.4. Tại khu vực có tàu thuyền qua lại, trình tự và biện pháp thi công cần phải bảo đảm an toàn cho việc thông tàu và các phương tiện nổi trong thời kỳ xây dựng. Đồng thời, khu nước thi công phải được giới hạn bằng các phao báo hiệu phù hợp với các quy định hiện hành về báo hiệu hàng hải và đường thuỷ nội địa.

4.5. Nơi neo đậu của các phương tiện thi công nổi cần được bố trí ven bờ, được bảo vệ tự nhiên hay nhân tạo khỏi sóng và dòng chảy. Các phương tiện nổi được sử dụng cần phải thoả mãn các quy định tương ứng của Cục đăng kiểm Việt Nam.

4.6. Trên các tàu và phương tiện nổi dùng cho thi công cần được trang bị phương tiện chuyên dụng để nhận các thông tin báo bão hoặc khẩn cấp khác liên quan đến đảm bảo làm việc an toàn.



4.7. Các công tác có sử dụng các phương tiện nổi trong xây dựng các công trình bến chỉ được phép tiến hành khi các thông số sóng và gió không vượt quá các trị số cho trong bảng 1.

Bảng 1

TT

Loại công việc

Sóng

Gió

Dòng chảy (m/s)

Cấp

Chiều cao sóng (m)

Cấp

Tốc độ (m/s)

1

Đổ đá tạo nền bằng xà lan mở đáy

3

1,25

5

9,9

1,5

2

Đổ các khối và đắp đá bằng các thùng hoặc gầu ngoạm sử dụng cần cẩu nổi

2

0,75

6

12,4

1,2

3

Xếp các khối theo hàng có thứ tự bằng cần cẩu nổi

2

0,75

6

12,4

1,0

4

Xếp các bộ phận lắp ghép lên các phương tiện nổi và bốc dỡ chúng

3

0,75

6

12,4

1,2

5

Công tác cọc thực hiện bằng các cần cẩu nổi và tàu đóng cọc

2

0,75

4

7,4

1,5

6

Lắp ghép các bộ phận đúc sẵn:



















Các bộ phận

2

0,75

4

7,4

1,2




Bến cầu tàu

2

0,75

4

7,4

1,0




Bến tường góc
















7

Hạ các cọc ống đường kính lớn

2

0,75

4

7,4

0,7

8

Hạ các thùng khối lớn vào vị trí thiết kế

2

0,75

4

7,4

1,2

9

Đổ bê tông vào các thùng có dùng cần cẩu nổi

2

0,75

5

9,9

0,7

10

Công tác lặn trong vùng sóng xô ở độ sâu, m



















Nhỏ hơn 3

2

0,75

-

-

1,2




Lớn hơn 3

3

0,75

-

-

-

11

Thực hiện các công việc trong các mục 2,5,6,9, có sử dụng dàn biển tự nâng

4

2,0

6

12,4

1,0

4.8. Thi công các công trình bến ở vùng ven bờ hở, về nguyên tắc, phải tính đến việc xây dựng các công trình che chắn (đê chắn sóng, đê) hoặc các bộ phận của chúng nếu trong thiết kế có quy định.

4.9. Khi thi công các công trình bến có sử dụng các phương tiện nổi ở trong các khu nước không được chắn sóng cần bố trí các tàu lai dắt để đảm bảo an toàn. Số lượng, công suất của tàu cần được nêu trong thiết kế tổ chức thi công và phải phù hợp với các yêu cầu về đảm bảo an toàn hàng hải trong khu vực thi công.

4.10. Việc quan trắc biến dạng của các công trình thuỷ công (độ lún, lún lệch, góc xoay, chuyển vị ngang) cần được tiến hành bằng các thiết bị phù hợp trong toàn bộ quá trình xây dựng. Khi tăng hoặc giảm tải trọng, nếu xuất hiện vết nứt và biến dạng kết cấu thì cần phải tiến hành đo đột xuất độ lún. Trong trường hợp xuất hiện biến dạng vượt quá cho phép thì cần phải ngừng thi công, đồng thời báo cho Tư vấn giám sát và cơ quan thiết kế biết để làm rõ nguyên nhân và đề ra các biện pháp cần thiết nhằm loại bỏ các biến dạng của công trình trong tương lai.

Trong trường hợp quá trình thi công bị gián đoạn vì bất cứ lý do nào thì cần phải tiến hành quan trắc biến dạng ngay khi dừng và trước khi tiếp tục lại công việc.



5. CÔNG TÁC CHUẨN BỊ

5.1. Các công tác chuẩn bị trong quá trình thi công công trình bến cần được thực hiện tuân theo các yêu cầu của TCVN 4055 - 85 "Tổ chức thi công" và các yêu cầu sau đây.

5.2. Tại các khu nước dự kiến tập kết các phương tiện nổi thi công, khi khảo sát và phát hiện được các chướng ngại vật có thể gây nguy hiểm cho hoạt động hàng hải bình thường, cần phải tiến hành dọn sạch. Trong trường hợp không thể dọn sạch được, cần bố trí báo hiệu chướng ngại vật phù hợp với các quy định về báo hiệu hàng hải và đường thuỷ nội địa.

5.3. Để đảm bảo chỉ đạo điều độ và kiểm tra công việc thực hiện, cần tổ chức mạng liên lạc vô tuyến khép kín của tất cả các phương tiện thi công nổi với các trung tâm điều độ trên bờ trong suốt giai đoạn sử dụng các phương tiện này.

5.4. Khi thực hiện các công tác thi công trên các vùng ven bờ không được che chắn sóng, trong giai đoạn chuẩn bị, về nguyên tắc cần phải bố trí các chỗ đỗ an toàn, có che chắn nhân tạo và các thiết bị lai dắt phù hợp để đảm bảo an toàn cho các phương tiện thi công nổi khi có bão hoặc thời tiết xấu.

5.5. Trong giai đoạn chuẩn bị, tại từng hạng mục thi công của công trình bến cần bố trí bến tạm và các phương tiện chuyên chở cán bộ và công nhân viên trong quá trình thi công.

5.6. Đối với các công trình nằm trên các khu vực không có khả năng xây dựng các mốc cơ sở trên bờ thì cần phải xây dựng các mốc đo đạc cơ sở dưới nước bằng cọc hay các khối xây. Cao trình đỉnh các mốc đo đạc cần đặt cao hơn mực nước cao nhất không ít hơn 50cm.

5.7. Độ chính xác của công tác đo đạc cần nằm trong các giới hạn nêu ở bảng 2.



Bảng 2

Loại công trình

Mạng đo đạc (mặt bằng)

Sai số tương đôi khi đo dài, m

Vị trí của mỗi đầu trụ mm

phương giây góc

Dưới 200

Từ 200 ÷ 400

Từ 400 ÷ 600

Từ 600 (800

Từ 800 (1000

Bến

(50

(60

1/2000

1/4000

1/6000

1/8000

1/10000

Bảo vệ và gia cố bờ bên ngoài

(250

(120

1/800

1/1600

1/2400

1/3200

1/4000

5.8. Sai số cho phép (mm) khi xác định cao độ của các mốc đo cao cần nằm trong giới hạn:

Đối với đường cơ sở: ( 2

Đối với các mốc bổ sung: ( 4

Đối với các mốc bổ trợ: ( 10

5.9. Để xác định mực nước tại khu vực thi công cần có máy tự đo mực nước với dộ chính xác được đảm bảo với chiều cao sóng bất kỳ.

Tại địa điểm thi công cần đặt các thước đo nước để xác định gần đúng mực nước. Máy đo mực nước và các thước đo nước cần được gắn với mức nước không của công trình do thiết kế quy định.

Độ chính xác của cao trình "không" của các thước đo nước cần được kiểm tra theo các mốc đặt trên bờ, không ít hơn một lần trong một tháng.

5.10. Đối với các công trình có mặt cắt ngang đối xứng thì cần lấy đường truyền chính theo đường trục dọc của nó. Đối với các công trình ngăn thường có tiết diện ngang không đối xứng cần lấy tuyến mặt công trình nằm phía sóng tác động làm đường truyền chính.

Đối với các công trình trên các gối độc lập và các phần đầu đê của các công trình ngăn, việc đo đạc được gắn vào các điểm giữa và các trục chính của từng gối hay đầu đê.

Đường truyền chính khi xây dựng công trình bến cần lấy trùng với đường tuyến bến.

5.11. Trước khi bắt đầu thi công, cần phóng các tuyến đo đạc chi tiết cho các công tác sau đây:

- Thi công hố móng - trục công trình hay hố móng và các giới hạn đào.

- Thi công nền đá - trục nền và biên của nó.

- Đặt các khối - tuyến mặt phía dưới của lớp khối đầu tiên (tuyến chịu sóng) và tuyến mặt phía trên của lớp cuối cùng.

- Khối đổ bằng khối xếp và thi công lăng thể đá - đường trục, các biên của khối đổ hay lăng thể, tuyến mặt để đặt các khối biên ngoài.

- Thi công tường dưới nước - tuyến mặt phía dưới và phía trên của tường.

- Trụ độc lập của công trình và đầu đê các công trình ngăn - trục trụ và các phía của chu vi tại mức đáy.

- Nền cọc - trục các hàng dọc và ngang của cọc, đài, gối chân đê.

- Thi công mái dốc bờ - các mép của mái dốc, cơ và tuyến thay đổi độ nghiêng mái dốc.

- Thi công các khối xếp cỡ lớn - tuyến mặt phía trên.

- Kết cấu bên trên của công trình - trục các bộ phận chính.

- Đặt các bích neo - tuyến tim các bích neo và tuyến trục ngang của chúng.

Tất cả các tuyến đo đạc chi tiết kể trên cần phải được gắn với đường truyền chính.

Vị trí của các mốc đo dưới nước cần được xác định theo các tuyến đo đạc dưới nước, được đặt dưới nước.

5.12. Vị trí các tuyến đo đạc và các mốc trên mặt bằng cũng như độ chính xác của các mốc đo cao cần được kiểm tra không ít hơn một lần trong một tháng. Khi thấy nghi ngờ về sự bảo toàn vị trí ban đầu của bất kỳ mốc đo đạc nào, cần phải kiểm tra lại ngay lập tức. Ngoài ra, các mốc đặt trên các khu nước, cần được kiểm tra sau mỗi cơn bão hay mỗi lần tàu cập...

6. CÔNG TÁC KỸ THUẬT DƯỚI NƯỚC

6.1. Cần phải dùng các trạm lặn khi thực hiện các công việc kỹ thuật dưới nước bao gồm như sau:

- Khảo sát các bộ phận công trình dưới nước và đáy khu nước.

- Các công tác đất và đá dưới nước, dọn sạch đáy.

- San nền đá.

- Xếp các khối dị hình và thông thường, các khối lớn và thùng chìm, lắp ráp các bộ phận dưới nước của kết cấu lắp ghép và thi công nền cọc.

- Hàn và cắt thép dưới nước.

- Đổ bê tông dưới nước.

- Tháo dỡ các bộ phận dưới nước của kết cấu hiện có và những việc khác.

Việc tổ chức thực hiện các công tác khảo sát bằng thợ lặn chỉ được tiến hành tuân theo thiết kế thi công của nhà thầu và có sự chấp thuận của tư vấn giám sát.

6.2. Các công tác kỹ thuật dưới nước cần được thực hiện tuân theo: TCVN 5585 - 91 "Công tác lặn. Yêu cầu an toàn"

6.3. Các công tác khảo sát các bộ phận dưới nước của công trình hiện có, cũng như việc kiểm tra công tác xây dựng các công trình dưới nước, về nguyên tắc cần phải sử dụng thợ lặn, nếu điều kiện kỹ thuật cho phép có thể tiến hành chụp ảnh hoặc truyền hình dưới nước.

6.4. Các số liệu khảo sát của thợ lặn nếu như không sử dụng chụp ảnh hoặc truyền hình dưới nước thì cần được kiểm tra bằng cách dùng một thợ lặn khác thực hiện nhiệm vụ tương tự. Nếu như các số liệu thu được khác nhau thì phải dùng một chuyên gia lặn để làm rõ.

Các số liệu khảo sát được đưa vào nhật ký công tác kèm theo các chữ ký của thợ lặn và Chỉ huy công tác lặn.

6.5. Các kết quả khảo sát bằng thợ lặn cần được lập thành biên bản, trong đó cần có các sơ hoạ và sơ đồ thợ lặn vẽ hoặc lập trên cơ sở ghi chép trong nhật ký công việc, chữ ký của những thợ lặn đã thực hiện khảo sát, kèm theo ảnh hoặc băng video đã được mô tả trong nhật ký công tác.

6.6. Khi khảo sát đáy khu nước cần sử dụng phương pháp rà quét, khi đó việc khảo sát bằng thợ lặn không chỉ để xác định đặc tính mà còn cả vị trí của chướng ngại vật. Khi không có điều kiện để rà quét thì cho phép chỉ khảo sát đáy bằng thợ lặn.

Tất cả những vật phát hiện ra ở đáy cần được đánh dấu bằng mốc hoặc phao. Các đặc tính của chúng, số hiệu các mốc và các phao cần ghi trong nhật ký khảo sát.

6.7. Khi thực hiện các công tác đất (không có đá) ở dưới nước, trong các trường hợp nếu sử dụng các tàu hút và tàu cuốc, các trạm đào gầu cáp, máy bơm hút, các cần cẩu lắp gầu ngoạm trên phao và các thiết bị cơ giới là không khả thi hoặc không có hiệu quả thì cho phép sử dụng thợ lặn có dùng các súng phun nước, máy bơm hút đất... để thi công.

6.8. Việc đào các loại đất đá rời rạc dưới nước cần được thực hiện bằng các tàu cuốc sâu.

Trường hợp gặp đá liền khối hoặc đá tảng có kích thước lớn thì cần phải phá đá bằng phương pháp nổ và các thiết bị khoan phá đá. Việc phá đá nhờ các búa hơi ép chỉ cho phép khi đã được xem xét kỹ trong thiết kế tổ chức thi công.

6.9. Khi phá tơi đất đá bằng phương pháp nổ dưới nước, việc khoan các lỗ để nạp thuốc nổ cần được tiến hành bằng các trạm khoan chuyên dụng hoặc các trạm khoan được lắp dựng trên các phương tiện nổi. Việc dùng thợ lặn và các thiết bị khoan cầm tay để khoan dưới nước cần được xác định trong thiết kế tổ chức thi công.

6.10. Khi đào các hào và hố móng có độ sâu 0,3  1m trong đá liền khối thì việc xới tơi cần được thực hiện bằng nổ mìn ốp bề mặt.

Để phá đá đến độ sâu 1  2 m thì cần dùng phương pháp mìn lỗ, khi chiều cao đào lớn hơn 2m thì cần tiến hành phá đá bằng nổ mìn cột.

6.11. Cho phép nổ mìn dưới nước sử dụng phương pháp nổ bằng điện có hệ thống dây nổ hai đường, đồng thời cho phép sử dụng nước làm dây mát.

6.12. Khi thực hiện công tác nổ dưới nước trong các khu nước của sông, hồ và biển cần phải có giấy phép cho thi công của các cơ quan Bảo vệ môi trường và các Quản lý khai thác giao thông trên sông, hồ và biển trước khi bắt đầu công việc.

6.13. Các công tác khoan nổ cần được thực hiện phù hợp với thiết kế thi công, cần xem xét các phương pháp nổ, trình tự thi công, bảo quản và sử dụng vật liệu nổ phù hợp với các yêu cầu của: TCVN 3255 - 86 "An toàn nổ - Yêu cầu chung".

6.14. Khi đổ bê tông dưới nước bằng phương pháp rút ống thẳng đứng và vữa dâng, cần sử dụng các thợ lặn cho việc kiểm tra công tác chuẩn bị vị trí đổ bê tông, đặt ván khuôn và ống cũng như thực hiện việc đổ bê tông hoặc đổ đá dăm.

6.15. Khi đổ bê tông dưới nước, trong thiết kế thi công cần đề xuất các biện pháp gia cường ván khuôn nhằm bảo đảm độ bền, vứng chắc dưới tác động của vữa bê tông. Cần kiểm tra trước, bằng thợ lặn, tính sẵn sàng của từng khối trước khi đổ bê tông và khẳng định bằng biên bản về công tác ẩn dấu tương ứng.

6.16. Việc hàn kim loại dưới nước được thực hiện bằng thợ lặn và thiết bị hàn chuyên dụng.

6.17. Việc cắt kim loại cần được thực hiện bằng phương pháp điện ô xy và do thợ hàn - lặn thực hiện. Cho phép sử dụng cắt bằng que hàn điện như một trường hợp ngoại lệ để cắt thép có bề dày dưới 30mm.

6.18. Khi khảo sát và phát hiện thấy các kết cấu kim loại có kích thước lớn hoặc vũ khí, bom mìn ở dưới nước tại khu vực xây dựng, thì phải tiến hành lập sơ đồ công nghệ phù hợp để tháo dỡ và thanh thải hoặc rà phá đảm bảo an toàn.

6.19. Khi hàn dưới nước trong trường hợp tầm nhìn kém, cần sử dụng các nguồn sáng cho phép thợ lặn nhìn thấy mối hàn khi hàn. Khi cắt thép trong những điều kiện như vậy cần bố trí một nguồn sáng thứ hai chiếu sáng chỗ cắt từ phía đối diện.





  1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương