Tiếng nói của tất cả mọi người Việt Nam yêu chuộng tự do dân chủ, công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc dân chủ hóa đất nước theo tiến trình văn minh chung của nhân loại, đòi hỏi thực thi công bằng và lành mạnh hóa xã hội



tải về 0.58 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.58 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7





Tiếng nói của tất cả mọi người Việt Nam yêu chuộng tự do dân chủ, công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc dân chủ hóa đất nước theo tiến trình văn minh chung của nhân loại, đòi hỏi thực thi công bằng và lành mạnh hóa xã hội.



Chủ nhiệm:

Nhà văn Hoàng Tiến

Tổng biên tập:

Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn

Thư ký tòa soạn:

Dương Thị Xuân

Trụ sở:

Vườn Hoa Mai Xuân Thưởng, Hà Nội.

Tel:

Nhà văn Hoàng Tiến:

0936 802 801

Nhà báo Nguyễn Khắc Toàn:

0125 272 4352

Dương Thị Xuân

0125-849-4598

Fax:

Email:

baotudodanchuvn@gmail.com

vptudodanchu@gmail.com

Chủ trương của báo Tự Do Dân Chủ là nhằm nâng cao dân trí, thúc đẩy nhận thức và kêu gọi mọi sự đóng góp của người dân vào công cuộc dân chủ hóa đất nước, công bằng xã hội, sớm đưa đất nước và dân tộc Việt Nam thoát khỏi đói nghèo và lạc hậu, tiến kịp theo xu thế chung của nhân loại văn minh trên thế giới!


THƯ BAN BIÊN TẬP

Tập San Tự Do Dân Chủ Số 19(số đặc biệt)
Kính thưa quý độc giả xa gần thân mến !

           Trong thời gian qua, trên xa lộ thông tin internet toàn cầu đã xuất hiện rất nhiều thư kiến nghị góp ý với ĐCSVN nhân dịp đại hội khóa 11 sắp đến. Trong số các thư từ gửi tới bộ chính trị, ban chấp hành trung ương ĐCSVN để hiến kế cho đảng CS, đáng chú ý nhất là Bức thư góp ý kiến của ông Nguyễn Trung nguyên trước đây là đại sứ đặc mệnh toàn quyền nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại Thái lan và Úc đại lợi. Dĩ nhiên rằng, dư luận còn biết rất rõ bản thân ông khi phục vụ nhà nước toàn trị này trước đây và hiện nay thì ông vẫn đang còn là một đảng viên CSVN rất lâu năm với hàng chục năm tuổi đảng. Đồng thời, chúng ta còn biết rõ thêm nữa là, trong nhiều năm qua ông đã liên tục có nhiều đóng góp ý kiến mang tính cải cách khá tích cực, rất có tâm huyết với đảng và nhà cầm quyền CSVN, thế nhưng hầu như không được họ lắng nghe hay tôn trọng là bao nhiêu.

          Đối với những người cứng rắn, bảo thủ không cộng sản có thể không hài lòng về nội dung ông góp ý kiến với ĐCSVN. Bởi vì, vẫn có thể lập trường chính trị của ông được xem chỉ như là muốn cứu đảng CSVN trong tình thế tuyệt vọng, đang hết sức khó khăn và không kém phần hiểm nghèo để đảng được tiếp tục nắm giữ vị thế cai trị độc tôn, độc quyền sau khi đã có một số những cởi nới, mang tính nửa vời nào đó…

         Mặt khác, đối với những quan chức đảng viên CS có não trạng cực kỳ bảo thủ, trì trệ và rất phản cách mạng nhưng lại đang có thực quyền nắm mọi quyền sinh sát toàn thể đất nước và dân tộc Việt, thì những ý kiến thực tâm, tha thiết đến cháy bỏng của ông vẫn sẽ bị đánh giá, bị chụp mũ cho là một trong những kẻ phản bội đảng CSVN, phản bội chế độ XHCN, phản bội lý tưởng cộng sản và chủ nghĩa Mác – Lênin thật là tệ hại…



(Xem tiếp trang 54)












Góp Ý Kiến

Đại Hội XI

Trách nhiệm lịch sử*

Nguyễn Trung 
Hà Nội

Kính dâng Tổ quốc nhân dịp 1000 năm Thăng Long 

http://www.tapchithoidai.org/ThoiDai19/201019_NguyenTrung.htm          

 I.  Tình hình đã chín muồi             

II.  Bàn thêm về chữ nếu”            

III. Đảng đang tự “diễn biến hòa bình”            

IV. Trách nhiệm lịch sử.               

V. Thay lời kết: Bàn về đa nguyên, đa đảng               



Tài liệu tham khảo  

*Bài này nên đọc cùng với bài “Việt Nam trong thế giới thập kỷ thứ hai thế kỷ 21” Thời Đại Mới, số 18, tháng 3/2010

I. Tình hình đã chín muồi 

      Lịch sử đầy máu và nước mắt của nước ta trong thế kỷ 20, đặc biệt trong nửa sau của thế  kỷ này cho thấy sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước đòi hỏi  phải có tầm nhìn thấu đáo cục diện và xu thế của thế giới hiện tại - với lý tưởng lợi ích quốc gia là duy nhất và trên hết, để có đủ trí tuệ và bản lĩnh tạo ra cho đất nước bên trong là sự đồng thuận không gì phá vỡ được, bên ngoài là một bối cảnh hòa bình tối ưu cho phép – bao gồm những mối quan hệ quốc tế thuận lợi có thể tranh thủ được. Đòi hỏi này ngày nay rất cấp bách, vì đất nước đang cần có mọi điều kiện thuận lợi nhất để chuyển sang một giai đoạn phát triển mới - trong một thế giới đang có nhiều bất trắc mới vì những biến đổi sâu sắc cả về kinh tế và chính trị đang diễn ra. 

      Bước vào thập kỷ thứ hai của thế kỷ này, thế giới tiếp tục đi sâu vào cục diện đa cực. Mỹ vẫn là siêu cường duy nhất, song đang xuống dốc nhanh. Trung Quốc đang ngoi lên nhanh trên con đường trở thành siêu cường.  

      Điểm lại, trong thời kỳ hậu chiến tranh lạnh Mỹ chiếm được vị thế quốc tế mạnh nhất trong lịch sử của nó, song cũng là thời kỳ Mỹ chịu nhiều thất bại và tổn thất nhất, là thời kỳ quyền lực và ảnh hưởng của Mỹ sa sút nhanh nhất so với mọi thời kỳ từ sau chiến tranh thế giới II đến nay. Nguyên do là “tham vọng và gánh nặng đế chế” quá lớn và sự đổ vỡ thảm hại của chủ nghĩa tân tự do trong kinh tế! Tình hình nghiêm trọng đến mức trong khi tranh cử và kể cả sau khi thắng cử Obama chủ trương phải thay đổi cấu trúc kinh tế Mỹ, từ bỏ học thuyết Bush trong chiến lược toàn cầu, Mỹ phải tìm cách tiếp cận mới để không thu hút mọi gánh nặng toàn cầu vào Mỹ - thực chất là chấp nhận một bước lùi chiến lược.  

      Thất bại của Mỹ kéo theo vị thế toàn cầu  của cả phương Tây xuống thấp. Trong bối cảnh như thế, người ta càng bị ấn tượng sâu sắc là Trung Quốc đang đi nhanh quá trên con đường trở thành siêu cường - gần như với bất kỳ giá nào: khai thác lao động rẻ trong nước, chấp nhận môi trường trong nước bị ô nhiễm tệ hại, thẳng tay trong các vụ Tây Tạng, Tân Cương, chủ nghĩa thực dân mới kiểu mới ồ ạt ở mọi nơi trên thế giới liên quan đến thu hút tài nguyên, ráo riết vũ trang, uy hiếp Biển Đông… Trung Quốc 2009 có trong tay 2100 tỷ USD để giữ vai chủ nợ lớn nhất thế giới và sẽ còn tăng nữa (hiện nay là 2400 tỷ USD).

      Chưa bao giờ như hiện nay sách báo và các phương tiện truyền thông Mỹ lại đầy dẫy các nhận định, đánh giá, về Hiện tượng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc trở thành chủ nghĩa tư bản toàn trị đặc sắc Khổng giáo, về Sự giới hạn của quyền lực Mỹ, về Chiến lược toàn cầu của Washington đang hủy hoại nước Mỹ, về Triển vọng chẳng lấy gì làm sáng sủa của Obamanomics, về Sự cáo chung của đế chế Mỹ, vân vân, - và về …Các chủ thuyết và mô hình phát triển hiện có xuất hiện nhiều vấn đề phải xem lại. Thế giới trong thập kỷ tới này phải chăng đang nghiêng về phương Đông?!.. Đang manh nha một trật tự thế giới mới... [1] 

      Thật rất khó thờ ơ trước những ý kiến hay nhận định như vậy. Tình hình này liên quan đến mọi quốc gia, trong đó có lẽ đặc biệt là Việt Nam – vì  nước ta ở sát nách cái “công xưởng thế giới” và nằm ngang con đường độc đạo thuận lợi nhất cho siêu cường tương lai Trung Quốc vươn ra Thái Bình Dương. Cường quốc quân sự lớn nhất này trong khu vực đang hàng ngày có nhiều hành động trực tiếp uy hiếp nước ta trên Biển Đông – mặc dù lãnh đạo Trung Quốc vẫn khẳng định quan hệ 16 chữ với Việt Nam. 

      Trên thế giới đã thấp thoáng các mối lo: Một khi do Mỹ ngày càng suy yếu và vì thế có  thể xuất hiện khả năng Mỹ -Trung Quốc thoả hiệp tay đôi chi phối thế giới, tình hình sẽ ra sao? Lác đác đã có dự báo về một khả năng lúc nào đó sẽ tái hiện trở lại “mối quan hệ các quốc gia triều cống” dưới dạng mới nào đó và Trung Quốc sẽ có một số nước chư hầu thời hiện đại!.. Nếu lại thêm tình hình một nền kinh tế lớn nào đó – ví dụ Trung Quốc – nổ bong bóng, hay các nền kinh tế phương Tây chưa có lối ra – ví dụ như căn bệnh “Hy Lạp”[2]… sẽ chấn động đến nước ta như thế nào? Nếu hai đồng tiền USD và Nhân dân tệ sẽ “đánh nhau” hay “bắt tay nhau” (vấn đề tỷ giá và phá giá đồng tiền)?..[3] Nếu quan hệ Mỹ - Trung nóng lên cũng rất phiền toái cho nhiều nước, trước hết là Việt Nam, vân vân… 

      Tóm lại, thế giới vừa bước vào một thời kỳ mới của khủng hoảng mô hình phát triển kinh tế - đến mức phải nhìn lại nhiều vấn đề của các chủ thuyết,[4] vừa có nhiều thay đổi lớn trong các mối tương quan chính trị, phía trước có nhiều chuyện khó lường. Tất cả đặt nước ta đứng trước nhiều thách thức mới. 

      Nhìn xa thêm chút nữa, hiện nay Việt Nam là một trong nhóm 11 quốc gia sẽ chịu ảnh hưởng tàn phá nặng nề nhất của biến đổi khí hậu toàn cầu, thời gian không còn nhiều để chuẩn bị đối phó với những nguy cơ đang đến gần – ví dụ khoảng gần cuối thế kỷ này có thể mất tới 20% diện tích trồng trọt vì mất ruộng và vì ngập mặn trong khi dân số nước ta vào khoảng thời gian ấy sẽ tăng gấp đôi hiện nay. Thậm chí ngay từ năm 2020 sự gia tăng của nhiệt độ và biến đổi khí hậu sẽ tác động nghiêm trọng đến nông nghiệp nước ta…[5] Ngay trước mắt thiên tai ngày càng nhiều và lớn, nước và năng lượng ngày càng trở nên khan hiếm, v.v. Đó là những vấn đề nóng bỏng của phát triển của nước ta, đòi hỏi phải được xử lý ngay từ hôm nay, không thể tiếp tục mô hình phát triển cũ. Thế hệ hôm nay không có quyền sống nước đến chân mới nhảy, không có quyền để lại mọi gánh nặng cho các thế hệ sau, càng không được phép đời cha ăn ốc, đời con đổ vỏ! 

      Trên hết cả, sau chặng đường 25 năm đầu tiên của đổi mới, mô hình phát triển theo chiều rộng[6] đã làm xong chức năng của nó, đất nước ta nhất thiết phải chuyển sang một giai đoạn phát triển mới, đòi hỏi phải có những thay đổi sâu sắc và toàn diện. Tình hình cấp bách đến mức có thể nói: Vì đã đi tới cái ngưỡng của nó, mô hình phát triển theo chiều rộng ngày càng phát sinh những yếu kém nội tại; nổi bật là càng tăng trưởng kinh tế như hiện nay càng có nhiều ách tắc, thể chế chính trị đang tích tụ ngày càng nhiều bất cập, trở thành trở lực chính kìm hãm đất nước ta phát triển, đang làm tê liệt khả năng của nước ta đối phó với thách thức cũng như tranh thủ cơ hội mới. Chuyển sang mô hình phát triển theo chiều sâu – mô hình phát triển dựa trên phát huy sức mạnh của nguồn lực con người, thực chất cũng là phát huy sức mạnh của dân chủ - ngày nay trở thành đòi hỏi khách quan của nước ta trong tình hình mới.[7] 

      Chính thực tế vừa trình bày trên  xác định nhiệm vụ chính yếu đặt ra cho nước ta trong thập kỷ tới là phải cơ bản khắc phục mọi yếu kém, để mở đường cho đất nước đi vào một giai đoạn phát triển mới, xử lý thành công mọi thách thức phía trước trong một thế giới nhiều biến động mới.[8]

      Muốn thế, trước hết cần dũng cảm và nghiêm túc nhìn lại cả chặng đường dân tộc ta đã trải qua từ khi Thế Chiến II kết thúc cho đến nay. Đơn giản vì lẽ: Có dân tộc nào muốn thành công trên con đường trở thành một quốc gia phát triển và văn minh mà không phải nghiêm khắc nhìn lại mình? Lịch sử không làm lại được, nhưng bài học thì phải rút ra.  

      Câu hỏi nên đặt ra là: Vì sao một dân tộc có bề dày lịch sử và văn hóa như dân tộc ta, vào thời đại ngày nay đã hoàn thành sự nghiệp giành lại độc lập và thống nhất đất nước trong bối cảnh quốc tế khốc liệt, song lại vẫn là một quốc gia phát triển lạc hậu sau 35 năm nỗ lực kiến thiết đất nước? Cái gì là những yếu kém của tự thân nước ta, cái gì là do nguyên nhân cản trở hay kìm hãm từ bên ngoài? Đối với mọi người Việt Nam quan tâm đến vận mệnh đất nước, câu hỏi này sẽ nhức nhối hơn nếu so sánh mức độ phát triển mọi mặt nước ta đạt được hôm nay với những hy sinh, mất mát dân tộc phải chịu đựng trong những thập kỷ kháng chiến, và sau này là công sức đã bỏ ra cho 35 năm xây dựng và bảo vệ đất nước, so sánh với các nước cùng điều kiện tương tự nhưng đi nhanh hơn nước ta!.. Nói đơn giản, nhìn lại 35 năm qua, GDP tính theo đầu người của nước ta hôm nay tăng khoảng 10-12 lần so với sau khi ra khỏi chiến tranh, trong khoảng thời gian này Trung Quốc tăng gần 20 lần, Hàn Quốc và Đài Loan tăng khoảng 40 lần, v.v… Tụt hậu là tụt hậu, cạnh tranh là cạnh tranh, trong thế giới của hội nhập toàn cầu hoá không có sự chiếu cố “tại vì nước ta thế này, tại vì nước ta thế nọ…”, cạnh tranh với Trung Quốc càng không có chuyện chiếu cố “tại vì…” này nọ!..

      Những thành tựu đạt được có thể mở ra một triển vọng tốt đẹp cho đất nước, nhưng đồng thời thực trạng hiện nay cũng đang thai nghén những hiểm họa khôn lường. Triển vọng, hay hiểm họa nặng nhẹ hơn nhau như thế nào? Cái nào sẽ lấn át cái nào?.. Tình hình mọi mặt của đất nước hôm nay đang đặt ra nhiều điều lo âu.  Tất cả nói lên: Đất nước chí ít từ Đại hội IX đã đứng trước ngã ba đường: hoặc là dấn thân đi vào hướng phát triển phồn vinh của dân chủ tự do, hay sẽ ngoặt vào đổ vỡ - do sự tham nhũng độc tài bên trong và do sự o ép từ bên ngoài![9]   

      Thành tựu đạt được dù to lớn đến đâu cũng chưa thể nói là vững chắc, nguy cơ kiếm củi ba năm thiêu một giờ hoặc rơi vào khốn quẫn luôn luôn cận kề. Nguy cơ này đang gia tăng. Trong nhiều năm qua khắp nơi trong nước không lúc nào ngớt tiếng nói nặng lòng với đất nước, với Đảng, đã nêu lên những cảnh báo nghiêm khắc. Có đảng viên đã chiến đấu gần hết cuộc đời trong hàng ngũ Đảng phải thốt lên: Đảng trong tim tôi và Đảng ngày nay là hai Đảng khác nhau mất rồi!  Có đảng viên đã lên tiếng cảnh báo về mối nguy của “nội xâm”[10] và “ngoại xâm”.  

      Nếu tổng hợp những ý kiến đóng góp với thiện chí, một mặt chẳng những sẽ thấy rõ thực trạng đất nước hiện nay nguy hiểm đến mức nào, mặt khác cũng thấy rõ ràng lối ra sáng sủa của đất nước nếu quyết tâm lựa chọn.   

      Không một sự quy chụp hay xuyên tạc nào có thể  bác bỏ những ý kiến phân tích thấu đáo và thiện chí như vậy. Chỉ riêng việc những người tâm huyết này đặt vấn đề Đảng phải chủ động tự đổi mới để đất nước thoát tụt hậu và tránh nguy cơ sụp đổ của Đảng, cũng là tránh nguy cơ tổn thất và đổ máu cho đất nước, đã đủ nói lên ý thức trách nhiệm của họ. 

      Còn bạn bè xa gần đã lên tiếng cảnh báo Việt Nam cần rút ra các bài học trên thế giới để tránh bằng được rơi vào cái bẫy các nước có thu nhập trung bình – nghĩa là đi dần đến chỗ bế tắc và không thể trở thành một nước công nghiệp hóa hay một nước phát triển – với triển vọng cuối cùng là sẽ đi tới hỗn loạn và sụp đổ - như đang lặp đi lặp lại năm này qua năm khác ở hàng chục nước đang phát triển khắp nơi trên thế giới. Ngay cạnh nách ta là tình trạng bế tắc của Thái Lan, Mianma[11]…  

      Giả  sử đặt ra một cuộc thăm dò ý kiến trong các tầng lớp nhân dân thế hệ đã tham gia kháng chiến với câu hỏi:  Nếu biết cái đích đi tới được sau 35 năm độc lập thống nhất là thực trạng mọi mặt đất nước như hôm nay, liệu dân tộc ta trước đây có dám hy sinh chiến đấu hết thế hệ này đến thế hệ khác như vậy dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng Sản Việt Nam hay không?  Câu chuyện có lẽ sẽ còn trầm trọng hơn nhiều nếu tổ chức thăm dò ý kiến nhân dân về thực trạng hiện nay của đất nước và lòng tin của dân đối với chế độ.  

      Tuy rằng chưa có cuộc thăm dò ý kiến với chữ  “nếu” như thế này, song ngày càng nhiều tiếng nói của những đảng viên chân chính bầy tỏ sự thất vọng về nhiều vấn đề trong thực tại cuộc sống hiện thời. Trong số những người ấy, có không ít là đảng viên thuộc bậc khai quốc công thần, lão thành cách mạng... Có những bà mẹ từng mang đơn đi kiện cơ quan chính quyền các tội tham nhũng đã phải thốt lên: Biết các người hư hỏng như hôm nay, chắc chắn ta đã không che chở cho các người trong những khi bị địch bố ráp năm nào!

II. Bàn thêm về chữ “nếu”

      Dù  chưa có hay không có những cuộc thăm dò ý  kiến rất đáng làm như nói trên, trong tư duy chúng ta không thể tránh né các chữ “nếu” để có thể nhìn hết mọi chiều cạnh của sự vật.  

      Xin đơn cử hai trường hợp cụ thể:

      -   Một là: Cố Tổng bí thư Lê Duẩn đã từng nói chiến thắng giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước là chiến thắng của toàn dân tộc. Giả thiết rằng với tinh thần như vậy, ngay sau chiến thắng 30 Tháng Tư, nếu Đảng giương cao ngọn cờ dân chủ và thống nhất dân tộc, thu nhân tâm về một mối, không phân biệt bên này bên kia, kêu gọi mọi người một lòng đem hết tài sức ra hàn gắn vết thương chiến tranh và phát triển đất nước… Nếu làm được như vậy, cái bẫy vấn đề Campuchia liệu có tác dụng ghê gớm đến thế không? Kẻ thù trong, ngoài nào sẽ làm gì được Việt Nam? tổn thất mới nào sẽ tránh được, thương đau nào sẽ dịu bớt? và ngày hôm nay Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong hàng ngũ các quốc gia trên thế giới?..

      -   Hai là: Mùa đông 1990-1991 Liên Xô tan rã, đánh dấu sự sụp đổ hoàn toàn của phe (hệ thống) xã hội chủ nghĩa, chiến tranh lạnh kết thúc; trong khi đó Trung Quốc sau khi tiến hành cuộc chiến tranh biên giới chống Việt Nam tháng 2-1979 chưa ra khỏi chấn động Thiên An Môn (1989);  Mỹ đang bận rộn với chiến tranh vùng Vịnh trừng phạt Iraq xâm lược Kuwait trong một cục diện quốc tế đã thay đổi (Mỹ chú trọng những mục tiêu chiến lược toàn cầu khác ngoài khu vực Đông Dương). Giả thiết rằng trong bối cảnh không còn hai phe như vậy, nếu Việt nam giương cao ngọn cờ độc lập tự chủ, về đối nội thì phát huy đoàn kết, hòa hợp và hòa giải dân tộc xây dựng đất nước (mà như vậy cũng có nghĩa là phát huy dân chủ xây dựng đất nước), về đối ngoại bang giao và hợp tác với mọi quốc gia vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, Việt Nam có cần phải tìm kiếm liên minh ý thức hệ không[12]? Việt Nam có cần chấp nhận những nhân nhượng không đáng có và liệu có rơi vào tình thế bị bao vây cấm vận kéo dài đến tận giữa thập kỷ 1990 hay không? Lựa chọn phương án này, ai làm gì được Việt Nam? Lựa chọn phương án này, Viêt Nam đương nhiên chẳng phải dựa vào ai, và ngày hôm nay Việt Nam sẽ đứng ở đâu trong bàn cờ thế giới, trong ASEAN?..

      Trên thực tế Đảng đã lựa chọn quyết sách gì vào hai thời điểm lịch sử nêu trên?

      Xin gợi ra đôi điều.

      ■  Về trường hợp chữ “nếu” thứ nhất

      Sau khi giành lại được đất nước, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước cực kỳ quan trọng. Nhằm mục tiêu này, sau chiến thắng 30 Tháng Tư 1975, Đảng đã lựa chọn con đường đi thẳng lên chủ nghĩa xã hội, với niềm tin sâu sắc đó là con đường mở ra tương lai cho Việt Nam và giành lấy vị thế quốc tế xứng đáng. Về căn bản, đấy là sự lựa chọn của duy  ý chí và lòng yêu nước trên nền tảng ý thức hệ mà Đảng hằng nuôi dưỡng và theo đuổi. 

      Sự  lựa chọn này phải chăng đã bỏ qua thực tế  cuộc kháng chiến chống Mỹ mang trong nó 5 hay 6 cuộc chiến tranh khác nhau: (1) Cuộc chiến tranh của nhân dân ta chống Mỹ xâm lược, (2) cuộc chiến tranh giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc mà Việt Nam là tiền đồn – nói khác đi, đó là một cuộc chiến tranh nóng trong thời kỳ chiến tranh lạnh trực tiếp giữa 2 “phe” diễn ra trên đất Việt Nam, (3) cuộc chiến tranh trá hình (proxy war) giữa Liên Xô và Mỹ trên đất Việt Nam, (4) cuộc chiến tranh trá hình giữa Trung Quốc và Mỹ trên đất Việt Nam, (5) cuộc giành giật ảnh hưởng toàn cầu giữa Liên Xô và Trung Quốc trên đất Việt Nam, và (6) trên hết cả, và đau lòng hơn tất cả - do nhiều nguyên nhân chính trị, lịch sử và do bối cảnh quốc tế rất phức tạp (nhất là những hệ quả của chính sách chia để trị và chủ nghĩa thực dân mới đang rất thịnh hành hồi đó, những hệ quả của ba dòng thác cách mạng[13] cuốn hút hầu như toàn bộ thế giới thứ ba trong thời kỳ này, của 2 phe 4 mâu thuẫn, sự xô đẩy của các trào lưu trên thế giới...) - cuộc chiến tranh này còn mang tính chất nội chiến Bắc-Nam kéo dài, rất đẫm máu và sâu sắc, bắt nguồn rất sớm từ thời kỳ nước ta mới bước vào cuộc kháng chiến chống Pháp, và đấy cũng là tình huống nước ta bị xô đẩy vào, là bi kịch dân tộc, là cái giá bắt buộc phải trả vô cùng đau xót cho thống nhất đất nước[14].

      Nhìn lại có thể nói: Khi cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược kết thúc, mọi vấn đề thời hậu chiến đặt ra từ 6 cuộc chiến tranh này không được nhìn nhận tháo đáo, không được xử lý thỏa đáng. Về đối nội không làm tốt được hòa giải, dung dưỡng sức dân, thu nhân tâm về một mối và tạo ra sinh lực mới của đất nước để giữ cho trong ấm. Về đối ngoại là thực hiện không tốt bài học của cha ông: đánh giặc xong còn phải lo trải chiếu hoa mời giặc về để giữ cho được ngoài êm. Mọi nỗ lực sau khi kháng chiến kết thúc chủ yếu chỉ được dành cho quan điểm thừa thắng xông lên giành chiến thắng cho xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi sai lầm chủ quan và duy ý chí bắt đầu từ đây.

      Sự  lựa chọn nói trên của Đảng sau 30 Tháng Tư 1975 còn dựa trên lòng tin chủ nghĩa xã hội là xu thế tất yếu và đang chiến thắng của thời đại (mặc dù chủ nghĩa xã hội cho đến nay còn nhiều vấn đề chưa được làm rõ). Suy nghĩ chủ quan này không nhìn nhận đúng thực tế tình hình thế giới lúc đó là: Lợi ích quốc gia và lợi ích chiến lược toàn cầu cũng như thực lực của từng bên hữu quan giữ vai trò chủ chốt trên bàn cờ thế giới lúc đó. Những bên hữu quan ấy là Mỹ và phe cánh, Trung Quốc và phe cánh, Liên Xô và phe cánh… Chính ba thế lực này mới là các nhân tố chủ yếu chi phối trực tiếp tình hình thế giới thời kỳ này – nhất là tại khu vực nước ta, chứ không phải là chủ nghĩa xã hội với tính cách là xu thế tất yếu của thời đại như những người cộng sản Việt Nam thời đó tin tưởng[15]

      Chính sự lựa chọn nói trên của Đảng có lẽ  cắt nghĩa được vì sao ngay sau 30 Tháng Tư  1975 Việt Nam mau chóng rơi vào cái bẫy “Campuchia” do Trung Quốc sắp đặt[16], bị cô lập trên thế giới cả một thập kỷ sau đó, để cho Trung Quốc và Mỹ tha hồ khai thác tình trạng cô lập này và cố “gỡ” lại những gì họ đã mất![17]  

      Trong khi đó duy ý chí đã khiến cho đường lối phát triển đất nước của Đảng đi vào ngõ cụt, dẫn đến khủng hoảng trầm trọng,[18] chế độ chính trị của đất nước đến gần miệng hố sụp đổ, các vết thương chiến tranh và các vết thương trầm trọng khác trong lòng dân tộc chẳng những không được nỗ lực hàn gắn mà có những mặt còn bị những chính sách sai lầm khoét sâu thêm.  

      Nói rốt ráo, có thể coi đấy là sự lựa chọn của chủ quan duy ý chí cho chiến thắng và vinh quang của Đảng sau khi đã hoàn thành sự  nghiệp thống nhất đất nước, mặc dù - và  xin nhấn mạnh - sự lựa chọn này dựa trên chủ  nghĩa yêu nước với niềm tin sâu sắc của ý thức hệ xã hội chủ nghĩa. Tình trạng này gây nên bị động chiến lược nguy hiểm cho đất nước, kéo dài cả một thập kỷ với nhiều hệ quả lâu dài về sau. 

      Đặt lại vấn đề như thế, riêng về đối nội, liệu có thể nói: Với sự lựa chọn nêu trên, Đảng đã đánh mất cơ hội là người duy nhất lúc ấy có khả năng và uy tín lớn nhất thực hiện sự nghiệp thống nhất dân tộc một cách bền vững và mãi mãi trên nền tảng của dân chủ cho một đất nước đã từng mấy thập kỷ bị nước ngoài xâu xé và xô đẩy vào trạng thái nội chiến đẫm máu. Phải chăng là như vậy? 

      Xin lưu ý, sau giải phóng miền Nam ngày 30-04-1975, với tư  cách là người chiến thắng, quan trọng hơn nữa là  với tư cách là lực lượng duy nhất lãnh đạo dân tộc trong thời kỳ hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam là người có tính chính đáng và có thực lực nhất, thậm chí có nghĩa vụ cao cả và nặng nề nhất, thực hiện sự nghiệp thống nhất dân tộc - chẳng những để vĩnh viễn khép lại quá khứ đau thương của dân tộc mà còn vì tương lai lâu bền của đất nước.


: TapSan
TapSan -> Tiếng nói của tất cả mọi người Việt Nam yêu chuộng tự do dân chủ, công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc dân chủ hóa đất nước theo tiến trình văn minh chung của nhân loại, đòi hỏi thực thi công bằng và lành mạnh hóa xã hội
TapSan -> MỘt vài thông tin nhân sự kiện gs ngô BẢo châU ĐẠt giải thưỞng fields 2010 Huỳnh Tấn Châu Trường thpt chuyên Lương Văn Chánh
TapSan -> Tiếng nói của tất cả mọi người Việt Nam yêu chuộng tự do dân chủ, công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc dân chủ hóa đất nước theo tiến trình văn minh chung của nhân loại, đòi hỏi thực thi công bằng và lành mạnh hóa xã hội
TapSan -> Tiếng nói của tất cả mọi người Việt Nam yêu chuộng tự do dân chủ, công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc dân chủ hóa đất nước theo tiến trình văn minh chung của nhân loại, đòi hỏi thực thi công bằng và lành mạnh hóa xã hội
TapSan -> Tiếng nói của tất cả mọi người Việt Nam yêu chuộng tự do dân chủ, công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy công cuộc dân chủ hóa đất nước theo tiến trình văn minh chung của nhân loại, đòi hỏi thực thi công bằng và lành mạnh hóa xã hội


  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương