TÀi liệu tham khảO



tải về 342.9 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu25.03.2018
Kích342.9 Kb.
  1   2   3   4
HƯỚNG DẪN ÔN TẬP VĂN MINH PHƯƠNG ĐÔNG
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Lê Phụng Hoàng(Chủ biên): Lịch sử văn minh thế giới, NXB TP Hồ Chí Minh (6lần).

2. Vũ Dương Ninh (Chủ biên), 1997. Lịch sử văn minh nhân loại. NXB Giáo dục.

(Sau này xuất bản dưới tên Lịch sử văn minh thế giới), 2001.

3. Lương Duy Thứ (Chủ biên), 1998. Đại cương văn hoá phương Đông. NXB Giáo dục Hà Nội.

4. Lương Ninh (Chủ biên), 1998. Lịch sử văn hoá thế giới (cổ, trung đại). NXB Giáo dục.

5. Trần Ngọc Thêm, 2001. Tìm về bản sắc văn hoá Việt Nam. NXB T.P Hồ Chí Minh.

6. Ngô Minh Oanh (chủ biên), Tài liệu học tập và ôn thi Lịch sử văn minh thế giới, NXB Giáo dục, 1999


Dẫn nhập
Xét về vùng lãnh thổ, phương Đông ngày nay được hiểu là khu vực bao phủ toàn bộ châu Á và phần Đông Bắc châu Phi. Nói đến phương Đông, người ta không thể không nhắc đến những nền văn minh nổi tiếng như Ai Cập, Lưỡng Hà, Ấn Độ, Arập, Trung Hoa, không thể không nhắc đến Nho giáo, Hồi giáo, Phật giáo, Hinđu giáo và hàng loạt tín ngưỡng bản địa mang màu sắc phương Đông. Tóm lại, phương Đông là một khu vực văn minh có “bản sắc” riêng cả về phương diện truyền thống lẫn hiện đại. Ngày nay, xét trên nhiều góc độ như lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hoá,... phương Đông chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong lịch sử thế giới.

Vấn đề thứ 1


Cơ sở cho sự hình thành văn minh phương Đông
Châu Á và Đông Bắc châu phi là nơi ra đời những nền văn minh cổ kính của phương Đông nói riêng và của loài người nói chung. Ở đây đã xuất hiện những quốc gia chiếm hữu nô lệ tối cổ xây dựng trên sự tan rã của chế độ công xã nguyên thủy.
1.Điều kiện tự nhiên:

Những nền văn minh cổ kính đó xuất hiện trên lưu vực những con sông lớn như sông Nile (Ai Cập), Tigris và Euphrates (Lưỡng Hà), sông Ấn (Indus) và sông Hằng (Gange) (Ấn Độ), sông Hoàng Hà và Trường Giang (Trung Quốc)…

- Nhìn chung lưu vực các con sông nói trên là những vùng đồng bằng phì nhiêu rất thuận lợi cho việc phát triển nông nghiệp. khí hậu ấm áp, nguồn nước phong phú, đất đai màu mỡ và dễ canh tác đã cho phép các quốc gia cổ đại phương Đông phát triển nông nghiệp thuận lợi.

- Người phương Đông cổ đại sống trên lưu vực các con sông từ thời nguyên thủy đã sớm phát hiện và lợi dụng những thuận lợi đó để phát triển sản xuất. Cùng với nông nghiệp, thủ công nghiệp cũng phát triển mạnh, xã hội sớm xuất hiện giai cấp và nhà nước.

Cụ thể:

* Ai Cập ở Đông Bắc châu Phi, là một thung lũng nằm dọc theo lưu vực sông Nile. Phía tây giáp sa mạc Libi, phía đông giáp Hồng Hải, phía bắc giáp Địa Trung Hải, phía nam giáp dãy núi Nubi và Ethiopia. Địa hình chia làm hai khu vực: Thượng Ai Cập ở phía nam là một dãi thung lũng dài và hẹp, có nhiều núi đá. Hạ Ai Cập ở phía bắc là vùng châu thổ đồng bằng sông Nile rộng lớn hình tam giác. Sông Nile là một trong những con sông dài nhất thế giới, khoảng 6500km, với bảy nhánh đổ ra Địa Trung Hải, phần chảy qua Ai Cập dài 700km. Hàng năm nước lũ dâng khiến cho phù sa từ thượng nguồn tuôn xuống gia tăng màu mỡ cho đồng bằng châu thổ, thuận lợi cho việc trồng trọt. Sông Nile cung cấp nguồn thực phẩm thủy sản dồi dào cho sư dân và là con đường giao thông quan trọng nhất của vùng này. Do đất đai màu mỡ, các loại thực vật như đại mạch, tiểu mạch, chà là, sen, cây papyrus làm giấy… sinh trưởng và phát triển quanh năm. Ai Cập có một quần thể động vật đồng bằng và sa mạc rất phong phú, đa dạng : trâu bò, voi, hươu cao cổ, tê giác, hà mã, cá sấu, hỗ, báo… các loại thủy sản cũng rất nhiều, tạo thuận lợi cho nghề đánh cá..

* Lưỡng Hà: Lưỡng Hà là vùng bình nguyên giữa hai con sông Tigris và Euphrates, người Hy Lạp cổ đại gọi là Mésopotamie. Từ xa xưa vùng này đã nổi tiếng là vùng đất phì nhiêu, rất thuận lợi cho cuộc sống con người.

* Ấn Độ: Ấn Dộ là một bán đảo ở Nam Á, thời cổ - trung đại bao gồm cả các nước Pakistan, Nepan, và Bangladesh ngày nay. Ấn Độ có sự đa dạng về địa hình và khí hậu ở các vùng Bắc Ấn, Trung Ấn và Nam Ấn. Sông Ấn (Indus), sông Hằng (Gange hay Gangga) đã tạo nên những vùng đồng bằng màu mỡ, có vai trò rất quan trọng dẫn đến sự ra đời sớm của nền văn minh nông nghiệp ở đây. Nhìn chung điều kiện tự nhiên Ấn Độ rất phức tạp, vừa có núi non trùng điệp, vừa có nhiều sông ngòi với những đồng bằng trù phú, khí hậu có vùng nóng ẩm nhiều mưa, có vùng quanh năm tuyết phủ, lại có cùng sa mạc khô cằn nóng nực. Tính đa dạng và phức tạp của thiên nhiên Ấn Độ, một mặt là điều kiện thuận lợi cho cư dân cổ tụ cư và phát triển, mặt khác là những thế lực đè nặng lên số phận con người Ấn Độ khi nhận thức của họ còn thấp kém.

* Trung Quốc: Lãnh thổ Trung Quốc mênh mông nên địa hình đa dạng và phức tạp. Phía tây có nhiều núi và cao nguyên, khí hậu khô hanh, phía đông có các bình nguyên châu thổ phì nhiêu, các sông lớn đều chảy ra Thái Bình Dương tạo nên khí hậu ôn hòa. Trong số 5.000 dòng sông của nước này thì Hoàng Hà (dài 5.464km) và Dương Tử (dài 5.800) là hai con sông lớn nhất . Tuy thường xuyên gây ra lũ lụt, nhưng Hoàng Hà và Dương Tử đã mang đến nguồn phù sa bồi đắp cho đất đai thêm màu mỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho nông nghiệp phát triển, mang lại giá trị kinh tế cao. Từ xa xưa, những con sông này là những tuyến giao thông huyết mạch nối liền các vùng trong lãnh thổ Trung Quốc. Các triều đại đã xuất hiện, tồn tại và lớn mạnh trên lưu vực hai dòng sông này và xây dựng nên nền văn minh Trung Quốc độc đáo.

- Bên cạnh những thuận lợi nói trên, những con sông này lại bị ngăn cách bởi hệ thống núi non trùng điệp và những vùng sa mạc mênh mông. Địa thế hiểm trở đó cùng với những phương tiện giao thông hết sức hạn chế thời cổ đại đã làm cho các nền văn minh này xuất hiện và phát triển một cách độc lập. Sự liên hệ buổi đầu hầu như không xảy ra, do đó mỗi nền văn minh đã phát triển một cách độc đáo, mang đậm bản sắc dân tộc. Về mặt này, Ai Cập là một ví dụ điển hình: Địa hình Ai Cập gần như đóng kín, phía Bắc và phía Đông giáp Địa Trung Hải và Hồng Hải, phía Tây bị bao bọc bởi sa mạc Sahara. Ở Ấn Độ thì hai mặt Đông Nam và Tây Nam đều tiếp giáp với Ấn Độ Dương, phía bắc án ngữ bởi dãy Hymalaya (tức là xứ Tuyết) thành một vòng cung dài 2600km, trong đó có hơn 40 ngọn núi cao trên 7000m như những trụ trời.


2) Cơ sở dân cư:

Trên cơ sở những điều kiện tự nhiên như vậy, cư dân ở phương Đông ra đời sớm và phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, quá trình hình thành các cộng đồng dân cư ở phương Đông diễn ra rất đa dạng và phức tạp.

Cụ thể:

- Ai Cập: Ở lưu vực sông Nile từ thời đồ đá cũ đã có con người sinh sống. người Ai Cập thời cổ là những thổ dân châu Phi, hình thành trên cơ sở hỗn hợp rất nhiều bộ lạc. Do đi lại săn bắn trên lục địa, khi đến vùng thung lũng sông Nile, họ định cư ở đây phát triển nghề nông và nghề chăn nuôi từ rất sớm. Về sau, một chi của bộ tộc Hamites từ Tây Á xâm nhập vùng hạ lưu sông Nile, chinh phục thổ dân người châu Phi ở đây. Trải qua quá trình hỗn hợp lâu dài, người Hamites và thổ dân đã đồng hóa với nhau, hình thành ra một tộc người mới, đó là người Ai Cập.



- Lưỡng Hà: Người Sumer từ thiên niên kỉ IV.TCN đã di cư tới đây và sáng lập ra nền văn minh đầu tiên ở lưu vực Lưỡng Hà, chung sống và đồng hóa với người Sumer. Ngoài ra còn rất nhiều bộ lạc thuộc nhiều ngữ hệ khác nhau ở các vùng xung quanh di cư đến. Trải hàng ngàn năm, qua quá trình lao động, họ đã hòa nhập thành một cộng đồng dân cư ổn định và xây dựng nên nền văn minh rực rỡ ở khu vực Tây Á.

- Ấn Độ: Cư dân Ấn Độ đa dạng về tộc người và ngôn ngữ. Có hai chủng tộc chính là người Dravida chủ yếu cư trú ở miền Nam, và người Aria cư trú ở miền Bắc. Ngoài ra còn có nhiều tộc người khác như người Hy Lạp, Hung Nô, Arập cũng sinh sống ở đây…

- Trung Quốc: Do điều kiện tự nhiên thuận lợi, từ xa xưa, vùng châu thổ Hoàng Hà đã là quê hương của các bộ tộc Hạ, Thương, Chu. Họ chính là tổ tiên của dân tộc Hán – người sáng tạo ra nền văn minh Hoa Hạ.

Phía Tây và Tây Nam là nơi sinh sống của các bộ tộc thuộc ngữ hệ Hán – Tạng, Môn – Khmer

Phía Bắc, Đông Bắc là nơi cư trú của các bộ tộc thuộc ngữ hệ Tungut. Con cháu của họ sau này là các dân tộc ít người như Mông Cổ (lập ra nhà Nguyên), Mãn (lập ra triều Mãn Thanh), Choang, Ngô, Nhĩ… các dân tộc trên đất này còn rất nhiều dân tộc khác sinh sống, cùng người Hán xây dựng đất nước.
3) Cơ sở kinh tế:

- Về kinh tế, các quốc gia cổ đại phương Đông ra đời ở thời kì mà sức sản xuất xã hội đang ở trình độ hết sức thấp kém. Với một trình độ sản xuất như vậy không cho phép các quốc gia cổ đại phương Đông phát triển chế độ chiếm hữu nô lệ của mình một cách thuần thục và điển hình.

- Sự phát triển rất yếu ớt chế độ tư hữu ruộng đất và sự tồn tại dai dẳng những tổ chức công xã nông thôn, tàn tích của xã hội thị tộc nguyên thủy có thể coi là những nguyên nhân gây nên tình trạng trì trệ, yếu kém của các nền văn minh cổ đại phương Đông.
4) Cơ sở chính trị-xã hội:

- Ở phương Đông ra đời và tồn tại một hình thức nhà nước đặc thù, nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền mà mọi quyền lực đều ở trong tay nhà vua và một bộ máy quan lại cồng kềnh, quan liêu.

- Các quốc gia cổ đại phương Đông đã duy trì lâu dài chế độ nô lệ gia trưởng và các hình thức áp bức bóc lột kiểu gia trưởng nên vai trò của nô lệ trong xã hội chưa nổi bật.

Chính trên cơ sở như vậy mà nền văn minh phương Đông ra đời và phát triển và cũng chính các yếu tố đó đã ảnh hưởng, chi phối tạo nên những nét đặc thù của nền văn minh phương Đông.


Vấn đề thứ 2

Trình độ sản xuất và chinh phục tự nhiên

của các quốc gia phương Đông
Trên cơ sở điều kiện tự nhiên thuận lợi, cư dân phương Đông cổ đại đã sớm biết lợi dụng điều kiện tự nhiên để sản xuất, chế tạo công cụ lao động, chinh phục tự nhiên xây dựng những nền văn minh đầu tiên trên thế giới.

- Muốn chinh phục được tự nhiên, con người phải có công cụ lao động, bởi công cụ lao động là tiêu chí để đánh giá trình độ sản xuất của một xã hội.

Ngay từ thời nguyên thủy con người đã biết chế tạo công cụ lao động, từ những công cụ thô sơ bằng đá, gốm đến những công cụ bằng đồng, sắt… đã cho phép con người tạo ra một năng suất lao động ngày càng cao.

Người Ai Cập ngay từ thời Cổ vương quốc đã biết dùng cuốc bằng đá hoặc bằng gỗ để trồng trọt, dùng liềm bằng đá để gặt lúa, dùng trâu bò để đập lúa. Thời Trung vương quốc, người ta đã biết mở rộng các công trình thủy lợi thành một hệ thống rộng lớn với nhiều công dụng khác nhau như điều tiết thủy lượng, dẫn, tháo nước để chống hạn và chống úng… người Ai Cập còn biết xây hồ Mơrit thành một bể chứa nước lớn ăn thông với sông Nile, có khả năng cung cấp nước cho một vùng rộng lớn có thể gieo trông hai vụ trong năm.

Ở Lưỡng Hà người ta đã xây dựng một hệ thống đê điều hoàn chỉnh gồm đập nước, mương dẫn… như mạng nhện.Từ đầu thiên niên kỉ II, người Ấn Độ đã biết dùng lưỡi cày bằng đá để cày ruộng.Còn ở Trung Quốc, thời Ân-Thương người ta dùng liềm bằng đá hoặc vỏ ngao để gặt lúa, dùng lưỡi cày bằng gỗ. Sang thời Xuân Thu, người ta đã biết dùng những công cụ bằng sát, có những lò luyện sắt có trên 300 công nhân.

Những công cụ bằng kim loại đã cho phép con người nâng cao năng suất lao động.

- Bên cạnh việc sáng tạo ra những công cụ lao động, cư dân cổ đại phương Đông cũng đã đạt một trình độ tổ chức sản xuất tương đối cao.

Do yêu cầu phải hợp sức với nhau để xây dựng các công trình thủy lợi nên việc tổ chức sản xuất là một công việc rất cần thiết để thống nhất kế hoạch, và tập trung sức sản xuất.

Ở Ai Cập vào thời Tân vương quốc, sản xuất đã được chuyên môn hóa và được phân công tỉ mỉ. Có Thừa tướng là (Vidia) chịu trách nhiệm quan sát, điều hành sản xuất nông nghiệp trong toàn quốc. việc tổ chức điều hành sản xuất trong toàn quốc có ý nghĩa sống càn đối với các quốc gia phương Đông cổ đại, bởi vì nền văn minh phương Đông chủ yếu hình thành trên lưu vực của những con sông lớn. Nhà nước đã đứng ra huy động sức người sức của để xây dựng và bảo vệ các công trình thủy lợi.

- Các quốc gia cổ đại phương Đông cũng đã biết thuần dưỡng súc vật làm vật nuôi phục vụ sản xuất và cung cấp thực phẩm cho đời sống hằng ngày.

- Nhờ quan tâm đến sản xuất nông nghiệp mà trình độ tổ chức sản xuất của nhà nước và công xã nông thôn được nâng cao đem lại hiệu quả đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cư dân. Trong những ngành thủ công nghiệp người ta cũng đã biết làm đồ gốm, đồ thủy tinh, thuộc da, dệt …. ở Ấn Độ người ta đã biết làm đồ trang sức tinh xảo và chạm trổ trên đá.

- Nhờ sản phẩm của nông nghiệp và thủ công nghiệp phát triển đã thúc đẩy việc giao lưu buôn bán với các nước. Từ chổ chỉ dùng vật trung gian để trao đổi, người ta đã biết chế ra tiền bằng đồng và bằng vàng thuận tiện cho việc buôn bán. Việc mở rộng giao lưu buôn bán giữa các quốc gia đã tạo điều kiện để giao lưu văn hóa và thúc đẩy sản xuất làm cho xã hội phương Đông cổ đại phát triển ngày càng cao hơn.


Vấn đề thứ 3

Sự ra đời của nhà nước và trình độ quản lý xã hội của các quốc gia phương Đông
Nhà nước xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử vào khoảng cuối thiên niên kỉ IV - đầu thiên niên kỉ III.TCN. Những nhà nước cổ đại Ai Cập, Lưỡng Hà, Trung Quốc, Ấn Độ … là những nơi có điều kiện thiên nhiên thuận lợi cho sự phát triển kinh tế nông nghiệp, nơi mà quá trình phân hóa xã hội, tập trung của cải tư hữu và đấu tranh giai cấp diễn ra sớm nhất.

- Do nhu cầu chống chọi với thiên nhiên và tổ chức sản xuất mà các nhà nước phương Đông đã ra đời.

Vào nửa sau thiên niên kỉ IV. TCN, cư dân Lưỡng Hà đã bắt đầu xây dựng nhà nước của mình trên cơ sở chế độ chiếm hữu nô lệ. Mỗi thành thị kết hợp với vùng đất đai phụ cận hợp thành một quốc gia nhỏ. Đứng đầu mỗi quốc gia là một ông vua gọi là Patesi. Patesi lúc đầu do quý tộc bầu ra, về sau trở thành cha truyền con nối. Patesi đại diện cho nhà nước chịu trách nhiệm trước Thần coi sóc các công trình thủy lợi, quản lý kinh tế, chỉ huy đội quân. Ở Sumer, ngoài Patesi còn có hội nghị nhân dân và hội đồng bô lão. Các cơ quan này bầu ra các quan chức của tòa án, và bộ máy hành chính cũng như có quyền tuyên chiến hay hòa hoãn.

Ở Ai Cập, nhiều công xã nông thôn liên minh lại thành một liên minh công xã lớn hơn gọi là “nôm” (hay châu), về sau các châu đó hợp nhất lại và phát triển thành nhà nước Ai Cập. Châu là hình thức nhà nước phôi thai, đứng đầu châu là một “nômáccơ” vưa là thủ lĩnh quân sự, một thẩm phán và là một tăng lữ tối cao. Nômáccơ đước coi như một vị thần sống. Dần dần do nhu cầu thống nhất lại thành thượng và hạ Ai Cập, đến cuối thiên niên kỉ IV.TCN thống nhất lại thành quốc gia Ai Cập.

Ở Ấn Độ, người Arian ở vùng Tây Bắc đã liên hiệp các bộ lạc lại thành liên minh bộ lạc. Đứng đầu các liên minh bộ lạc có vua (Radjah) mà thực chất là tù trưởng hay thủ lĩnh quân sự, quyền lực chủ yếu vẫn thuộc về đại hội các thành viên nam giới của bộ lạc. Về sau Radjah tập trung quyền lực vào trong tay mình và truyền ngôi cho con cháu. Xung quanh nhà vua có đội ngũ quan lại lo các công việc như chỉ huy quân đội, thu thuế, tế lễ, thủy lợi… Đến vương triều Môria (321-184.TCN), bộ máy nhà nước của Ấn Độ cổ đại tương đối hoàn chỉnh có những đặc trương của một bộ máy nhà nước chuyên chế phương Đông. Vua được tôn sùng như một vị thần sống và được coi như người đại diện cho thần. Dưới nhà vua là hội đồng cơ mật “Parisát” gồm đại biểu của những gia đình quý tộc tiếng tăm nhất. Trong bộ máy nhà nước cồng kềnh, đứng đầu là các thừa Tướng cùng nhiều chức thượng thư trông coi các bộ.

Đơn vị hành chính cơ sở ở địa phương là làng. Ấn Độ được chia thành nhiều khu vực hành chính lớn nhỏ khac nhau, đứng đầu các khu vực hành chính đó là những người trong hoàng tộc hoặc cận thần được nhà vua tin cẩn. Nhà vua cũng có một đội quân hùng hậu gồm đủ các binh chủng như bộ binh, kị binh, tượng binh…

Ở Trung Quốc bộ máy nhà nước cũng tiêu biểu cho kiểu nhà nước chuyên chế phương Đông. Nhà Hạ mở đầu cho nhà nước chiếm hữu nô lệ ở Trung Quốc. Đứng đầu nhà nước là nhà vua, dưới là “lục khanh” (6 chức tướng) giúp vua cai trị đất nước. Nhưng nhà nước hoàn chỉnh nhất là vào thời Tây Chu. Vua được coi là thiên tử (con trời), dưới vua là tầng lớp quý tộc quan lại phụ trách các công việc hành chính, quân đội, nông nghiệp… Vua và tước hiệu quý tộc được truyền lại cho con cháu.

Như vậy, ở phương Đông cổ đại đã xuất hiện và tồn tại một hình thức nhà nước đặc biệt.Nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền, còn gọi là chủ nghĩa chuyên chế phương Đông. Đặc trưng của kiểu nhà nước này là quyền lực vô hạn của nhà vua về thần dân và ruộng đất. Nhà vua đã cùng với bộ máy quan lại tổ chức quản lí xã hội tương đối chặt chẽ từ trung ương đến địa phương, trong đó hình pháp được đề cao.

Việc xuất hiện nhà nước và trình độ tổ chức quản lí xã hội ở phương Đông cổ đại đã góp phần xây dựng nên những nền văn minh rực rỡ ở khu vực này.
Vấn đề thứ 4

Những đặc điểm của văn minh phương Đông
Văn minh phương Đông rất rộng lớn về quy mô, lãnh thổ, rất đa dạng về màu sắc và có sự tồn tại rất lâu dài về mặt lịch sử. Khái quát cho đúng, cho hết những đặc điểm của văn minh phương Đông quả là một công việc không hề đơn giản, nếu không nói là hết sức khó khăn. Đây là vấn đề phức tạp và còn phải nghiên cứu nhiều. Ở đây chúng tôi mới chỉ tập hợp và nêu lên một số nhận xét bước đầu.
1. Văn minh phương Đông mang đậm tính chất văn minh nông nghiệp, văn minh sông nước.

Tính chất nông nghiệp, sông nước là đặc điểm nổi bật nhất, là bản sắc dễ thấy nhất của văn minh phương Đông. Đặc điểm này thuộc về loại hình văn minh: Văn minh phương Đông chủ yếu là văn minh gốc nông nghiệp, trong khi văn minh phương Tây chủ yếu thuộc loại hình gốc du mục và thương nghiệp. Tất nhiên nói như thế không có nghĩa là trong văn minh phương Đông không có các yếu tố du mục và thương nghiệp nhưng nhìn một cách tổng thể thì tính chất nông nghiệp, tính sông nước là nét chủ đạo.


a) Điều kiện địa lí tự nhiên của các quốc gia phương Đông nói chung đều thuận lợi cho sự phát triển nông nghiệp. Biểu hiện rõ nhất của các điều kiện này là sự có mặt của những con sông lớn: Sông Nile ở Bắc Phi; sông Tigrơ, sông Ơphơrat ở Tây Á; sông Ấn (Hindus), sông Hằng (Gangga) ở Ấn Độ; sông Hoàng Hà, sông Dương Tử (Trường Giang) ở Trung Quốc; sông Mekong ở bán đảo Trung - Ấn, sông Menam ở Thái Lan, sông Hồng ở Trung Quốc, Việt Nam, v.v. Lưu vực các con sông này tạo ra những đồng bằng rộng lớn, vựa lúa của phương Đông và thế giới. Và cũng chính từ các dòng sông ấy đã xuất hiện các nhà nước cổ đại – các nền văn minh phương Đông. Rõ ràng không phải ngẫu nhiên mà người ta lại đưa ra các cụm từ như “văn minh sông Nile”, “văn minh sông Hoàng Hà, Trường Giang”, “văn minh sông Ấn-sông Hằng”, v.v. Có thể nói, ngay từ đầu, văn minh phương Đông đã là văn minh nông nghiệp. Và đặc điểm này “đeo đuổi” văn minh phương Đông cho đến tận ngày nay.

Như vậy rõ ràng là sản xuất nông nghiệp gắn chặt với các quốc gia phương Đông, và đó là cơ sở tạo ra tính chất nông nghiệp- sông nước của văn minh phương Đông.


b) Tính chất nông nghiệp – sông nước được thể hiện ở rất nhiều bình diện văn minh và là sợi chỉ đỏ xuyên suốt quá trình phát triển của các nền văn minh phương Đông.

Những biểu hiện của tính chất nông nghiệp-sông nước của văn minh phương Đông rất đa dạng. Có thể nêu ra ở đây một vài ví dụ.

Trước hết xin nói về văn hoá vật chất liên quan đến những nhu cầu thiết yếu nhất của con người, đó là ăn, mặc, ở, đi lại.

Nguồn lương thực chính của người phương Đông chủ yếu là lúa gạo và các loại ngũ cốc do nền sản xuất nông nghiệp tạo ra. Người phương Đông thường ăn cơm với các loại thực phẩm mang tính tự cung tự cấp như rau, cá và một số loại thịt gia cầm. Các loại gia vị, hương liệu như ớt, tiêu, rau thơm, cari, v.v. vốn là sản phẩm của sản xuất nông nghiệp cũng được dùng phổ biến ở nhiều nơi.

Cách ăn mặc của cư dân phương Đông cũng phù hợp với công việc sản xuất nông nghiệp: Nói chung mặc ấm về mùa lạnh (hoặc ở xứ lạnh) và mát mẻ về mùa nóng (hoặc ở xứ nóng); mặc gọn gàng, tiện lợi (khố, váy, v.v.).

Nói chung, trừ một số khu vực dân cư theo loại hình kinh tế du mục nên ở lều di động, đa số cư dân còn lại sống trong một ngôi nhà cố định. Đó có thể là nhà “nửa nổi nửa chìm”, tức là đào sâu xuống lòng đất một chút, hoặc là ngôi nhà sàn tiện lợi về mọi mặt.

Trong số các phương tiện đi lại thì thuyền phổ biến ở nhiều nơi, và hình thức di chuyển này ở phương Đông rõ ràng trước hết gắn với sông nước, sau đó mới đến yếu tố thương mại.

Tính chất nông nghiệp của văn minh phương Đông còn được biểu hiện ở các tín ngưỡng và sinh hoạt văn hoá dân gian rất độc đáo của cư dân phương Đông.

Có thể nói bao trùm lên đời sống cư dân nông nghiệp phương Đông là niềm tin tín ngưỡng và các sinh hoạt văn hoá dân gian như lễ hội... Tín ngưỡng là cội nguồn của lễ hội. Lễ hội vừa là dịp tiến hành các nghi lễ có tính ma thuật để cầu xin thần linh giúp đỡ, xua đuổi tà ma, vừa là dịp để người dân vui chơi giải trí.

Trong số các loại tín ngưỡng tồn tại ở phương Đông, phổ biến nhất là tín ngưỡng sùng bái tự nhiên. Điều này hoàn toàn có cơ sở bởi sản xuất nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ở thời kì sơ khai khi khoa học kĩ thuật chưa phát triển, gần như tất cả đều phụ thuộc vào thiên nhiên, vào ý Trời. Vì vậy, ở khắp nơi, từ Đông Bắc Phi-Tây Á đến lưu vực sông Hoàng Hà rộng lớn v.v. đâu đâu người ta cũng thờ cúng các vị Thần liên quan đến sản xuất nông nghiệp như Thần Mặt trời, Thần Đất, Thần Nước, Thần Lúa, Thần Gió, Thần Sông...

Gắn liền với tín ngưỡng sùng bái tự nhiên là hàng loạt các lễ hội nông nghiệp như lễ hội té nước, lễ hội cầu mưa, cầu nắng, hội đua thuyền, lễ tịch điền, lễ hội mừng được mùa...

Nông nghiệp gắn liền với nông thôn. Tính chất nông nghiệp của phương Đông được nảy sinh, nuôi dưỡng và phát triển trong một mô hình xã hội đặc biệt: mô hình làng xã. Các công xã nông thôn, theo cách nói của K. Marx, có ảnh hưởng rất sâu đậm đến đời sống của cư dân nông nghiệp phương Đông.
2. Văn minh phương Đông nặng về tính cộng đồng

Trong sản xuất nông nghiệp, các gia đình nông dân cùng canh tác trên một cánh đồng, ruộng đất nhà này tiếp giáp ruộng đất nhà kia. Để có được năng suất, những người nông dân trong làng không thể không liên kết với nhau. Chỉ có đoàn kết con người mới chống được thiên tai. Muốn chống hạn, diệt sâu bọ,... cũng cần sức mạnh của cả làng. Môi trường canh tác mang tính tập thể như thế chính là cơ sở để nảy sinh tính cộng đồng.

Đặc trưng này của văn minh phương Đông khiến mỗi người khi hành động luôn luôn phải nghĩ đến cộng đồng, đến tập thể, xã hội. Trong làng, người dân thường tránh những việc làm phương hại đến tập thể. Từ đây nảy sinh quan điểm sống vì tập thể. Vì tập thể, người ta sẵn sàng hi sinh lợi ích cá nhân. Cũng vì thế mà người phương Đông thường đề cao nghĩa vụ, trách nhiệm (trong khi phương Tây thì coi trọng quyền lợi). Quả thực, trong việc chống chọi với thiên tai, địch hoạ, nếu không có tinh thần trách nhiệm được đề lên thành nghĩa vụ thì không thể có được chiến thắng.

Từ tính cộng đồng, từ sự đùm bọc làng xã, sau này truyền thống tốt đẹp ấy phát triển thành tinh thần dân tộcchủ nghĩa yêu nước phương Đông.

Nếu so sánh với văn hoá phương Tây thì cũng thấy một sự khác biệt nhất định. Có thể nói, trong quan hệ ứng xử, phương Tây thiên về cá thể, trọng lí. Điều này có điểm mạnh là phát huy cao độ sức sáng tạo cá nhân, tránh được sự dựa dẫm, ỷ lại.

Cũng có người cho rằng, ở phương Đông, tâm thức duy cộng đồng luôn luôn chiếm ưu thế đối với tâm thức duy cá nhân.


3. Hoà đồng, thuận tự nhiên

Đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên của văn minh phương Đông thường được đặt trong sự so sánh với đặc điểm chinh phục tự nhiên của văn hoá phương Tây. Văn hoá phương Tây thiên về giải thích, cải tạo thế giới. Tất nhiên nói như trên không có nghĩa là đối lập tuyệt đối giữa văn minh phương Đông và văn minh phương Tây trong vấn đề đối xử với môi trường tự nhiên.

Thái độ hoà đồng với tự nhiên của văn minh phương Đông đã được hình thành từ rất lâu và định hình trên cơ sở của những quan niệm về con người trong các học thuyết phương Đông. Theo nhiều tác giả, con người trong quan niệm của tất cả các tôn giáo phương Đông và trong hầu hết các học thuyết triết học phương Đông truyền thống đều không đối lập với giới tự nhiên. Nó luôn luôn được coi là một thành tố, một bộ phận của giới tự nhiên.

Có thể cắt nghĩa đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên bằng cơ sở kinh tế – xã hội của phương Đông.

Trước hết có thể giải thích bằng nền sản xuất nông nghiệp. Như đã nói ở trên, sản xuất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên. Bởi vậy từ trong tâm khảm của người dân, tự nhiên là đấng tối cao. Sản xuất nông nghiệp chỉ có thể đạt hiệu quả khi thuận theo tự nhiên. Một trong những biểu hiện của sự thuận theo ấy là tính thời vụ. Có thể nói, kinh nghiệm sống, nói cụ thể hơn là kinh nghiệm sản xuất, đã khiến cư dân nông nghiệp phương Đông phải hành động thuận theo tự nhiên. Trái ý tự nhiên, trái ý Trời sẽ bị trả giá. Không còn cách nào khác, Nhật Bản vẫn phải “sống chung với động đất”, Indonesia phải “sống chung với núi lửa”, Philippines phải “sống chung với bão” còn đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam thì phải chấp nhận “sống chung với lũ” như là một lẽ tự nhiên.

Một lí do khác nữa cắt nghĩa cho đặc điểm hoà đồng, thuận tự nhiên là ở tổ chức của xã hội truyền thống phương Đông, đó là xã hội nông nghiệp với chế độ công xã nông thôn. Chế độ này, như đã nói, mang lại cho mỗi đơn vị nhỏ bé (làng xã) một cuộc sống cô lập, tách biệt. Công xã tổ chức theo lối gia đình tự cấp, tự túc. Con người bị trói buộc bởi những quy tắc truyền thống, do đó hạn chế sự phát triển của lí trí, từ đó rất dễ trở thành nô lệ của những điều mê tín dị đoan. Những công xã nông thôn phương Đông, do vậy, hạn chế con người ở việc chủ yếu phục tùng những hoàn cảnh bên ngoài, phục tùng tự nhiên chứ không có ý thức và năng lực làm chủ hoàn cảnh, chinh phục tự nhiên. Đây cũng chính là lí do để chế độ chuyên chế phương Đông tồn tại và phát triển.




  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương