Thuyết bốN ÐẾ Gs. Minh Chi Chủ nhiệm bộ môn tôn giáo học và Phật giáo sử Việt Nam Trường Phật học Cao Cấp Thành phố Hồ Chí Minh 1996



tải về 468.78 Kb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích468.78 Kb.
  1   2   3   4   5   6   7
THUYẾT BỐN ÐẾ
Gs. Minh Chi
Chủ nhiệm bộ môn tôn giáo học và Phật giáo sử Việt Nam
Trường Phật học Cao Cấp Thành phố Hồ Chí Minh - 1996

Nguồn

http://thuvienhoasen.org

Chuyển sang ebook 22-7-2009

Người thực hiện : Nam Thiên – namthien@gmail.com

Link Audio Tại Website http://www.phatphaponline.org
Mục Lục

Bài giảng về Thuyết "Bốn Ðế'
(Bốn Chân lý Thánh)
Dàn bài

BỐN ÐẾ


NỘI DUNG BÀI THUYẾT PHÁP ÐẦU TIÊN : 

BA GIAI ÐOẠN NHẬN THỨC VÀ THỰC HÀNH THUYẾT BỐN ÐẾ

THUYẾT BỐN ÐẾ VÀ LÝ DUYÊN KHỞI

BỐN ÐẾ VÀ NGUYÊN LÝ TRỊ BỊNH

I. KHỔ ÐẾ

II. TẬP ÐẾ 


A.  PHIỀN NÃO 

1. NGUỒN GỐC CỦA TƯ TƯỞNG NGHIỆP LỰC : 

2. NGHIỆP LỰC LÀ MỘT SỨC MẠNH 

3. NGHIỆP LỰC LÀ SỨC MẠNH BỒI DƯỠNG NHÂN CÁCH 

4. NGHIỆP LỰC LÀ MỘT QUY LUẬT ÐẠO ÐỨC CÔNG BẰNG 

5. NGHIỆP LỰC LÀ MỘT LOẠI QUAN HỆ 

6. NGHIỆP LỰC LÀ MỘT CÁI GÌ KHÓ HIỂU : 

7. LƯỚI NGHIỆP VÀ 12 NHƠN DUYÊN : 

8. PHÂN LOẠI NGHIỆP

B. Ác nghiệp

9. TỔNG KẾT BÀI NGHIỆP–TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHIỆP VÀ BÀI HỌC NGHIỆP

Phụ lục của phần B:

PHỤ LỤC BÀI DIỆT ÐẾ


NIẾT BÀN LUẬN


Lời Nói Ðầu

Thuyết bốn Ðế, tức bốn Chân lý là căn bản, là cốt lõi tinh túy của đạo Phật, là nội dung bài thuyết pháp đầu tiên của Phật ở Vườn Nai (Bénarès). Cũng là một trong những lời căn dặn cuối cùng với các đệ tử trước khi Phật nhập Niết Bàn. Kinh Di Giáo kể lại lời Phật : 

“Này các Tỷ kheo, đối với thuyết bốn Ðế, có điều gì nghi hoặc thì mau mau hỏi đi, đừng để còn nghi hoặc mà không gạn hỏi...”. Lúc bấy giờ, Thế Tôn hỏi lại ba lần mà không ai nói cả. Vì sao như vậy ? Là vì trong Tăng chúng, không còn ai nghi hoặc về thuyết bốn Ðế nữa. Khi ấy, tôn giả A nậu lâu Ðà (Anuruddha) quan sát tâm tư trong chúng thấy như vậy bèn bạch Phật rằng: “Bạch Thế Tôn, mặt trăng có thể nóng lên, mặt trời có thể lạnh đi, còn Thế Tôn giảng bốn Chân lý thì không bao giờ đổi khác được. Thế Tôn nói chân lý về sự khổ thì thực là khổ, khổ không thể biến thành vui được. Tập đế là nhân của khổ không thế có nhân khác. Nếu khổ diệt tức là nhân diệt. Nhân diệt cho nên quả diệt. Ðạo diệt khổ là đạo chân chính. Không còn có đạo khác. Bạch Thế Tôn, trong Tăng chúng tâm tư đối với bốn Ðế đã quyết định, không còn nghi hoặc điều gì nữa...”

Chúng ta học pháp môn Tinh Ðộ, đọc Kinh A Di Ðà, cũng biết ở Cõi Cực Lạc, tiếng chim Ca lăng tần già hót cũng thành pháp âm giảng thuyết bốn Ðế. 

Tầm quan trọng của thuyết bốn Ðế được tất cả các bộ phái Phật giáo thừa nhận, dù là Nam phương hay Bắc phương, dù là Ðại hay Tiểu Thừa. Ðược phân công giảng dạy chủ đề này ở năm thứ tư nhiều khóa ở Trường Phật học cao cấp thành phố Hồ Chí Minh, tôi đã tham khảo nhiều tư liệu, nhằm lựa chọn một hình thức diễn đạt tương đối hợp lý và dễ hiểu nhất. 

Trong các tư liệu tham khảo, tôi tâm đắc nhất là tập bài giảng Bốn đế của giáo sư Trung Quốc Trương Trừng Cơ, trong cuốn “Phật học kim thuyên”. Đồng thời, tôi cũng tham khảo thêm hai tập sách : “Phật giáo căn bổn vấn đề nghiên cứu” do Trương Mạn Ðào chủ biên. Tập bài giảng của Giáo chủ Ðạt Lai Lạt Ma về bốn Ðế ớ Trường Ðại học Mỹ Harvard tháng 8 năm 1981 cũng giúp cho tôi nhiều tư liệu quý báu. Ngoài ra, có một số tài liệu tham khảo có giá trị khác, như bài viết về bốn Ðế của Giáo sư S. Radhakrishnan, trong bài tựa của ông cho bản dịch của ông của Kinh Dhammapada (Pháp Cú) v.v... các phần nói về bốn Ðế trong Luận Câu Xá và Luận Trung Quán (các bản sớ giải của Ðại sư Ấn Thuận và đại sư Diễn Bồi...) 

Với tư cách là kẻ hậu học. tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến các học giả uyên bác đó. 

Các từ sanskrit thường đặt trước từ Pali. Có ghi các từ viết tắt Skt. và P. 

Không thể ghi tất cả chữ Hán vì sẽ khó cho việc in ấn. Chỉ ghi một số chữ Hán cần thiết, ít gặp. Khi giảng, sẽ ghi thêm trên bảng đen. 

Tôi thành thật bày tỏ lòng cảm ơn chân thành đối với quý vị Ni sinh đã giúp hết mình trong việc in ấn tập bài giảng này.

MINH CHI 6/96 

Bài giảng về Thuyết "Bốn Ðế'
(Bốn Chân lý Thánh)
Dàn bài



BỐN ÐẾ


Ðức Phật sau khi thành đạo vài tuần dưới gốc cây Bồ Ðề, bèn lên đường đến vườn Nai, ngoại thành Bénarès (Ba la Nại), thuyết pháp cho năm người bạn đồng tu cũ, là các ông Kiều trần Như... được Phật lựa chọn như là những người có khả năng nhứt để tiếp thu giáo lý đạo Phật. Chủ đề của bài thuyết pháp đầu tiên của Phật là Bốn đế, tức là bốn chân lý. 

NỘI DUNG BÀI THUYẾT PHÁP ÐẦU TIÊN : 

Trong kinh “Chuyến pháp Luân” có ghi lại bài thuyết pháp đầu tiên của Phật về Bốn đế. Ðại khái như sau : 


“Này các Tỷ kheo, sanh là khổ, già cũng là khổ, bịnh cũng khổ, chết cũng khổ, gần kẻ mình không ưa là khổ; xa người mình yêu cũng khổ, cầu không được là khổ, chấp chặt năm uẩn là khổ. Như vậy khổ là một chân lý thánh (Khổ Thánh đế). 
Lại nữa, này các Tỷ kheo ! Dẫn tới luân hồi và tái sanh là lòng ham thích và thèm khát, nơi nào ham thích đều thèm khát mong cầu, đó là chơn lý thánh về nguyên nhân của sự khổ (Khổ tập thánh đế). 
Lại nữa, này các Tỷ kheo ! Xa lìa, đoạn trừ lòng ham thích, thèm khát nói trên, giải thoát không còn vưóng mắc, đó là chơn lý thánh diệt khổ (Khổ diệt Thánh đế). 
Lại nữa, này các Tỷ kheo ! Tám con đường đạo chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định là con dường diệt Khổ (Khổ diệt dạo thánh đế)
 

BA GIAI ÐOẠN NHẬN THỨC VÀ THỰC HÀNH THUYẾT BỐN ÐẾ

Ðối Với thuyết Bốn đế, giai doạn đầu tiên của người tu học là : 


(1). Thông suốt về mặt lý luận, nhận thức bốn đế là chơn lý không sai.
(2). Giai đoạn hai là căn cứ vào nhận thức lý luận đó, mà có hành động thực tiễn hằng ngày, về ý nghĩ, cũng như về lời nói và hành động, không bao giờ sai chệch. 
(3). Trên cơ sở thực hành được sự nhứt trí giữa lý luận và thực tiễn, con người đạt tới chỗ hoàn thiện về nhân cách. 

Sách Phât gọi đó là ba lần chuyển. Lần chuyển thứ nhứt là khai thị cho người nghe thấy được đạo lý (sau này, luận A Tỳ Ðàm gọi là kiến đạo), lần chuyển thứ hai gọi là khuyến khích người nghe sống và ứng xử theo đúng đạo lý đã được nghe (Luận A Tỳ Ðàm gọi là tu đạo) và giai đoạn ba là người tu đạo đạt tới thánh quả Vô lậu và được giải thoát. Luận A Tỳ Ðàm gọi là chứng đạo, người tu hành chứng đạo trở thành bậc Thánh vô lậu tức A La Hán. Vô lậu nghĩa là không còn khuyết điểm sai sót gì nữa.


 



  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương