TÁC ĐỘng của enso đẾn thời tiếT, khí HẬU, MÔi trưỜng và kinh tế XÃ HỘI Ở việt nam gs. Tskh nguyễn Đức Ngữ



tải về 214.74 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu10.08.2016
Kích214.74 Kb.

Hội thảo chuyên đề về Đa dạng sinh học và Biến đổi khí hậu: Mối liên quan tới Đói nghèo và Phát triển bền vững

Hà Nội, Ngày 22-23 tháng 5, 2007

___________________________________________________________________________________________________


TÁC ĐỘNG CỦA ENSO ĐẾN THỜI TIẾT, KHÍ HẬU, MÔI TRƯỜNG VÀ KINH TẾ - XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

GS.TSKH Nguyễn Đức Ngữ, Trung tâm KHCN Khí tượng Thủy văn và Môi trường (CHMEST)

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (VUSTA), Và các cộng tác viên



_________________________________________________________________

Mở đầu

“El Nino” là từ được dùng để chỉ hiện tượng nóng lên dị thường của lớp nước biển bề mặt ở khu vực xích đạo trung tâm và Đông Thái Bình Dương, kéo dài 8 - 12 tháng, hoặc lâu hơn, thường xuất hiện 3 - 4 năm 1 lần, song cũng có khi dày hơn hoặc thưa hơn.

“La Nina” là hiện tượng lớp nước biển bề mặt ở khu vực nói trên lạnh đi dị thường, xảy ra với chu kỳ tương tự hoặc thưa hơn El Nino.

ENSO là chữ viết tắt của các từ ghép El Nino Southern Oscillation (El Nino - Dao động Nam) để chỉ cả 2 hai hiện tượng El Nino và La Nina và có liên quan với dao động của khí áp giữa 2 bờ phía Đông Thái Bình Dương với phía Tây Thái Bình Dương - Đông Ấn Độ Dương (Được gọi là Dao động Nam) để phân biệt với dao động khí áp ở Bắc Đại Tây Dương).

Hiện tượng El Nino và La Nina có ảnh hưởng đến thời tiết, khí hậu toàn cầu với mức độ khác nhau và rất đa dạng. Tuy nhiên, đối với từng khu vực cụ thể, vẫn có thể xác định được những ảnh hưởng chủ yếu có tính đặc trưng của mỗi hiện tượng nói trên.

Hiện tương El Nino và La Nina thể hiện sự biến động dị thường trong hệ thống khí quyển - đại dương với quy mô thời gian giữa các năm, có tính chu kỳ hoặc chuẩn chu kỳ. Trong tình hình biến đổi khí hậu - sự nóng lên toàn cầu, hiện tượng ENSO cũng có những biểu hiện dị thường về cường độ. Nghiên cứu hiện tượng ENSO để hiểu biết về cơ chế vật lý, đặc điểm và quy luật diễn biến cũng như những hậu quả tác động của chúng, chúng ta có thể cảnh báo trước sự xuất hiện của ENSO, những ảnh hưởng có thể xảy ra đối với thời tiết, khí hậu và kinh tế - xã hội để có những biện pháp phòng, tránh hiệu quả, hạn chế và giảm nhẹ thiệt hại do ENSO gây ra.



  1. Khái quát về cơ chế vật lý của ENSO

Dao động Nam và Hoàn lưu Walker

Dao động Nam (Southern Oscillation) là sự dao động của khí áp quy mô lớn, từ năm này qua năm khác ở 2 phía Đông và Tây của khu vực xích đạo Thái Bình Dương, được Gilbert I.Walker phát hiện vào cuối những năm 20 của thế kỷ trước. Hơn 40 năm sau, Jacob Bjerknes (1966) thừa nhận có sự dao động cỡ lớn trong hoàn lưu tín phong của Bán cầu Bắc và Nam ở Thái Bình Dương và ông cho rằng nó có liên quan với Dao động Nam. Khi tín phong mạnh, nước tương đối lạnh có nguồn gốc nước trồi ở xích đạo thuộc bờ biển Nam Mỹ được hình thành bởi áp lực của gió Đông lên bề mặt đại dương, mở rộng về phía Tây tới trung tâm Thái Bình Dương. Sự chênh lệch khí áp giữa Đông (cao) và Tây (thấp) và nhiệt độ giữa Đông (thấp) và Tây (cao) trên khu vực xích đạo Thái Bình Dương dẫn đến chuyển động ngược chiều của không khí ở tầng thấp (gió Đông) và trên cao (gió Tây); ở phía Đông có chuyển động giáng, ở phía Tây có chuyển động thăng của không khí, tạo thành một hoàn lưu khép kín, được Bjerknes gọi là Hoàn lưu Walker. Chênh lệch nhiệt độ và khí áp giữa Đông và Tây Thái Bình Dương càng lớn, hoàn lưu Walker càng mạnh, ngược lại, chênh lệch nhiệt độ và khí áp giảm, hoàn lưu Walker yếu đi.


Hình 1.1: Sơ đồ hoàn lưu Walker trong điều kiện bình thường

Thông thường, nhiệt độ nước biển giảm dần theo độ sâu nên từ mặt biển đến độ sâu khoảng vài trăm mét, nhiệt độ ở vùng biển phía Tây Thái Bình Dương cao hơn phía Đông, tạo ra một lớp nước chuyển tiếp giữa lớp nước bên trên nóng hơn với lớp nước bên dưới lạnh hơn, có độ nghiêng từ Đông sang Tây Thái Bình Dương, thường được gọi là “nêm nhiệt” (the Thermocline). Độ sâu của nêm nhiệt ở bờ phía Tây khoảng 200m, giảm dần về bờ phía Đông chỉ còn vài chục mét. Khi hoàn lưu Walker mạnh lên, hoạt động của nước trồi tăng lên, độ nghiêng của nêm nhiệt lớn hơn, trái lại, khi hoàn lưu Walker yếu đi, nước trồi bị hạn chế, độ nghiêng của nêm nhiệt giảm đi.



    1. Tương tác đại dương - khí quyển

Tương tác đại dương - khí quyển là quá trình trao đổi nhiệt, ẩm, động lượng, năng lượng giữa lớp nước bề mặt đại dương với lớp không khí bên trên, chủ yếu thông qua hoạt động đối lưu và các xoáy khí quyển. Trên khu vực phía Tây xích đạo Thái Bình Dương (vùng bể nóng (the warm pool)), nơi có hội tụ của gió Đông và gió Tây tầng thấp, thường diễn ra hoạt động đối lưu sâu trong nhánh phía Tây của hoàn lưu Walker. Mây, mưa nhiều và lượng bức xạ phát xạ sóng dài (OLR) từ mặt biển thường không vượt quá 240w/m2. Do đó, lượng bức sóng ngắn từ mặt trời (Qsw) thường nhỏ hơn lượng tiềm nhiệt bốc hơi (Qe).

Trái lại, ở vùng xích đạo phía Đông Thái Bình Dương, trong nhánh phía Đông của Hoàn lưu Walker thường có chuyển động giáng của không khí, hoạt động đối lưu bị hạn chế, ít mây, mưa. Lượng bức xạ phát xạ sóng dài từ mặt biển thường đạt những giá trị cực đại (>280w/m2). Bức xạ sóng ngắn từ mặt trời cũng đạt những giá trị lớn nhất và thường lớn hơn lượng tiềm nhiệt bốc hơi.

Khi hoàn lưu Walker hoạt động yếu hơn bình thường (gió Đông tầng thấp yếu, trong khi gió Tây ở vùng phía Tây Thái Bình Dương xích đạo phát triển mạnh lên), vùng đối lưu sâu ở Tây Thái Bình Dương bị dịch chuyển về phía Đông đến trung tâm Thái Bình Dương, làm tăng cường các chuyển động xoáy của khí quyển ở vùng này, lượng mây và mưa tăng lên; OLR giảm, lượng nhiệt và lượng ẩm từ đại dương chuyển vào khí quyển giảm đi. Trái lại, ở vùng phía Tây Thái Bình Dương xích đạo, đối lưu bị hạn chế, lượng mây và mưa giảm đi; OLR tăng, lượng nhiệt và ẩm từ đại dương chuyển vào khí quyển tăng lên.




    1. Cơ chế hoạt động của ENSO

    2. Dưới áp lực của gió Đông tầng thấp, mặt biển khu vực xích đạo Thái Bình Dương nghiêng về phía Đông (mực nước biển ở bờ phía Tây Thái Bình Dương cao hơn ở bờ phía Đông khoảng 30 - 70cm). Khi hoàn lưu Walker suy yếu hoặc bị tách thành 2 phần, áp lực của gió Đông lên mặt biển giảm đi, kéo theo sự suy yếu của nước trồi và dòng chảy hướng Tây, nước biển từ vùng bể nóng Tây Thái Bình Dương nhanh chóng đổ dồn về phía Đông, tạo thành một sóng đại dương xích đạo (sóng Kelvin) lan truyền về phía Đông và nhiệt từ vùng bể nóng được vận chuyển về vùng trung tâm và Đông Thái Bình Dương, làm cho nước biển bề mặt ở vùng này nóng lên dị thường. Kết quả là chênh lệch nhiệt độ nước biển giữa vùng phía Đông và phía Tây giảm đi, độ sâu của nêm nhiệt ở bờ phía Tây giảm đi, trong khi ở bờ phía Đông tăng lên, trao đổi nhiệt thẳng đứng trong lớp nước xáo trộn đại dương mạnh mẽ hơn.

Sóng Kelvin lan truyền tới bờ phía Đông Thái Bình Dương trung bình mất khoảng 50 ngày và bị phản xạ trở lại. Sự phản xạ này gây ra một sóng đại dương (sóng Rossby) chuyển động về phía Tây với thời gian trung bình khoảng 6 tháng, qua đó, lớp nước bề mặt ấm lại được vận chuyển về phía Tây. Sự phản xạ qua lại của các sóng Kelvin và Rossby ở 2 bờ của Thái Bình Dương quyết định độ dài và tính không ổn định trong các pha của một chu trình El Nino. Như vậy, có thể thấy sóng Kelvin làm giảm chênh lệch nhiệt độ giữa Đông và Tây Thái Bình Dương (hiệu ứng âm), trái lại, sóng Rossby cho hiệu ứng dương. Trên thực tế, sự duy trì một thời gian dài (12 - 14 tháng) hiện tượng nóng lên dị thường của nhiệt độ nước biển bề mặt ở trung tâm và Đông Thái Bình Dương xích đạo (1 chu trình El Nino) chứng tỏ hiệu ứng nhiệt bình lưu do sóng Kelvin tạo ra lớn hơn hiệu ứng nước trồi do sóng Rossby gây ra ở vùng biển này. Ở vùng biển phía Tây Thái Bình Dương xích đạo, sự thay đổi (giảm đi) của nhiệt độ mặt nước biển trong chu trình El Nino không lớn như ở vùng trung tâm và Đông Thái Bình Dương xích đạo, chứng tỏ hiệu ứng nhiệt do các sóng Kelvin và sóng Rossby bị triệt tiêu nhiều.

Khi hoàn lưu Walker mạnh hơn bình thường, áp lực gió Đông lên mặt biển tăng lên, có thể dẫn đến một chu trình ngược lại với chu trình El Nino (chu trình La Nina) do hoạt động của nước trồi mạnh hơn và bình lưu lạnh hướng Tây tăng lên, làm cho vùng biển trung tâm và Đông Thái Bình Dương lạnh đi dị thường.


    1. Những nhân tố bất ổn định chính có tác động đến hoàn lưu Walker trên khu vực Thái Bình Dương, khởi động cho một chu trình ENSO

1/ Sự biến động của áp cao cận nhiệt đới Thái Bình Dương về cường độ, phạm vi và vị trí tâm áp cao, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của tín phong 2 bán cầu.

2/ Sự bạo phát gió Tây trên vùng biển xích đạo Tây Thái Bình Dương, liên quan đến hoạt động của các áp cao Nam Ấn Độ Dương và áp cao Châu Úc.

3/ Dao động trong mùa Madden - Julian (MJO) với chu kỳ 30 - 60 ngày trên khu vực Đông Ấn Độ Dương và Tây Thái Bình Dương xích đạo.

4/ Hoạt động dị thường của các xoáy thuận nhiệt đới trên vùng biển xa xích đạo, khu vực trung tâm Thái Bình Dương, liên quan đến hoạt động của đới gió Tây vĩ độ trung bình.



  1. Diễn biến của ENSO trong thời kỳ 1951 - 2005

    1. Chỉ tiêu xác định các chu trình ENSO

Trong nghiên cứu này quy định:

Một chu trình El Nino là thời kỳ liên tục, kéo dài từ 6 tháng trở lên, có trị số trung bình trượt 5 tháng của chuẩn sai tháng nhiệt độ trung bình mặt nước biển () ở vùng NINO.3 (50N - 50S, 1500W - 900W), lớn hơn hoặc bằng 0,50C.



Một chu trình La Nina là thời kỳ liên tục, kéo dài từ 6 tháng trở lên có trị số trung bình trượt 5 tháng của chuẩn sai tháng nhiệt độ trung bình bề mặt nước biển ở vùng NINO.3 nhỏ hơn hoặc bằng 0,50C.

    1. Các chu trình El Nino và La Nina trong thời kỳ 1951 - 2005

Bảng 1: Các đợt ENSO nóng (El Nino)

Số TT

Đợt El Nino

Tháng bắt đầu

Tháng kết thúc

Thời gian kéo dài

Cực đại SSTA (0C) và tháng xuất hiện

1

1951/1952

6/1951

1/1952

8

1.3

10/1951

2

1953

3/1953

11/1953

9

1.1

9/1953

3

1957/1958

4/1957

5/1958

14

1.8

12/1957

4

1963/1964

6/1963

2/1964

9

1.2

12/0963

5

1965/1966

5/1965

2/1966

10

1.8

12/1965

6

1968/69/70

9/1968

2/1970

18

1.4

12/1969

7

1972/1973

4/1972

3/1973

12

2.6

12/1972

8

1976/1977

6/1976

2/1977

9

1.2

9,10/1976

9

1979

7/1979

12/1979

6

1.2

9/1979

10

1982/1983

4/1982

9/1983

18

3.6

1/1983

11

1986/87/88

9/1986

1/1988

17

2.0

9/1987

12

1991/1992

4/1991

6/1992

15

1.7

1/1992

13

1993

2/1993

8/1993

7

1.5

5/1993

14

1997/1998

4/1997

6/1998

15

3.9

12/1997

15

2002/2003

7/2002

1/2003

7

1.4

11,12/2002

Ghi chú: Các đợt có gạch dưới là đợt El Nino mạnh

Bảng 2: Các đợt ENSO lạnh (La Nina)

Số TT

Đợt La Nina

Tháng bắt đầu

Tháng kết thúc

Thời gian kéo dài

Cực đại SSTA (0C) và tháng xuất hiện

1

1949/1950

Cuối 1949

4/1950

-

-1.7

2/1950

2

1954/55/56

5/1954

2/1956

22

-2.0

11/1955

3

1964/1965

4/1964

1/1965

10

-1.2

12/1964

4

1967/1968

9/1967

4/1968

8

-1.3

2/1968

5

1970/1971

6/1970

12/1971

19

-1.5

12/1970

6

1973/1974

6/1973

3/1974

10

-1.4

1/1974

7

1975/1976

4/1975

3/1976

12

-1.5

12/1975, 1/1976

8

1984/1985

10/1984

12/1985

15

-1.2

12/1984

9

1988/1989

4/1988

3/1989

12

-1.7

11, 12/1988

10

1998/99/00

10/1998

3/2000

18

-1.6

1/2000

Ghi chú: Các đợt có gạch dưới là các đợt La Nina mạnh

    1. Nhận xét về đặc điểm phân bố và diễn biến của các chu trình ENSO

1/ Trong 55 năm (1951 - 2005) đã xảy ra:

  • 15 đợt El Nino, trong đó:

  • Đợt dài nhất (1968 - 1970 và 1982 - 1983): 18 tháng.

  • Đợt ngắn nhất (1979): 6 tháng.

  • Trung bình một đợt: 12 tháng.

  • 10 đợt La Nina, trong đó:

  • Đợt dài nhất (1954 - 1956): 22 tháng.

  • Đợt ngắn nhất (1967 - 1968): 8 tháng.

  • Trung bình một đợt: 13 tháng.

  • Có 6 lần 2 đợt El Nino kế tiếp nhau, nhưng chỉ có một lần 2 đợt La Nina kế tiếp nhau.

2/ Có 8 đợt El Nino mạnh (SSTA trung bình tháng ≥ 1,50C)

Có 6 đợt La Nina mạnh (SSTA tháng lớn nhất ≤ -1,50C)

3/ Hầu hết các đợt ENSO bắt đầu vào mùa xuân (tháng 3 - tháng 5), trong đó nhiều nhất là tháng 4, kết thúc vào mùa đông hoặc mùa xuân (tháng 12 - tháng 4).


  • Chưa có đợt El Nino mạnh nào bắt đầu vào giữa mùa đông hay mùa hạ.

  • Chưa có đợt La Nina mạnh nào bắt đầu vào giữa mùa đông.

4/ Thời kỳ mạnh nhất (cực đại) của mỗi đợt ENSO là giữa mùa đông (tháng 12 - tháng 1).

5/ Mỗi đợt ENSO đều thể hiện rõ 7 giai đoạn, mỗi giai đoạn kéo dài 2 - 3 tháng



  1. Giai đoạn trước khi bắt đầu.

  2. Giai đoạn bắt đầu.

  3. Giai đoạn phát triển.

  4. Giai đoạn chuyển tiếp.

  5. Giai đoạn cực trị.

  6. Giai đoạn suy yếu.

  7. Giai đoạn tan rã.

  1. Tác động của ENSO đến một số yếu tố và hiện tượng khí tượng thủy văn.

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến hoạt động của bão và áp thấp nhiệt đới

Trong 45 năm (1956 - 2000), có 311 cơn bão và áp thấp nhiệt đới (sau đây gọi chung là xoáy thuận nhiệt đới - XTNĐ) ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam, trung bình mỗi năm có 6,9 cơn, trung bình mỗi tháng có 0,58 cơn

Bảng 3: Tần số XTNĐ trung bình tháng và năm
ảnh hưởng trực tiếp đến Việt Nam (1956 - 2000)


Tháng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Năm

Tần số

0

0

0,1

0,1

0,1

0,7

0,7

1,2

1,4

1,3

1,0

0,3

6,9

Cùng thời gian trên có tổng số 150 tháng El Nino với 63 XTNĐ ảnh hưởng trực tiếp, trung bình mỗi tháng El Nino có 0,42 cơn, ít hơn trung bình nhiều năm khoảng 28%. Trong khi đó, trung bình mỗi tháng La Nina có 0,80 cơn (86 cơn/107 tháng), nhiều hơn trung bình nhiều năm khoảng 38%.

Trong cả mùa bão (từ tháng 6 đến tháng 12), trung bình nhiều năm có 6,64 cơn, mỗi tháng mùa bão có 0,95. Trong điều kiện El Nino, trung bình cả mùa bão có 4,83 cơn, mỗi tháng mùa bão có 0,69 cơn, ít hơn trung bình nhiều năm khoảng 27%. Trái lại, trong điều kiện La Nina, trung bình mùa bão có 9,17 cơn, mỗi tháng mùa bão có 1,31 cơn, nhiều hơn trung bình nhiều năm khoảng 38%. Ngoài ra, trong điều kiện El Nino, xoáy thuận nhiệt đới thường tập trung vào giữa mùa bão (tháng 7, 8, 9), trong điều kiện La Nina, XTNĐ thường nhiều hơn vào nửa cuối mùa bão (tháng 9, 10, 11).



    1. Ảnh hưởng của ENSO đến tần số front lạnh

Trong những năm El Nino và La Nina, số front lạnh ảnh hưởng đến nước ta đều ít hơn bình thường. Tỷ lệ giữa tổng chuẩn sai dương và tổng chuẩn sai âm của tần số front lạnh qua Hà Nội của các tháng trong năm chỉ bằng 70%. Thời gian kết thúc hoạt động của không khí lạnh ở Việt Nam sớm hơn bình thường

Bảng 4: Chuẩn sai tần số front lạnh qua Hà Nội

trong các tháng El Nino và La Nina

Dấu chuẩn sai

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

Tổng số

El Nino

Dương

7

4

1

2

5

7

2

1

7

9

9

6

60

âm

4

7

7

10

8

6

11

12

7

4

4

7

87

La Nina

Dương

0

2

2

3

5

3

0

4

4

7

4

8

42

âm

4

6

6

5

2

6

8

4

5

4

7

3

60

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến nhiệt độ

Ở hầu hết các vùng trong cả nước, nhiệt độ trung bình các tháng trong điều kiện El Nino đều cao hơn bình thường, mùa đông chênh lệch rõ rệt hơn mùa hè, các khu vực phía Nam chịu ảnh hưởng rõ hơn ở phía Bắc. Trái lại, trong điều kiện La Nina, nhiệt độ trung bình các tháng thấp hơn bình thường, ở phía Bắc chịu ảnh hưởng nhiều hơn ở phía Nam

Bảng 5: Tỷ lệ giữa tổng số chuẩn sai dương và tổng số chuẩn sai âm của nhiệt độ trung bình các tháng trong các điều kiện El Nino và La Nina

Trạm

Lạng Sơn

Sơn La

Hà Nội

Vinh

Đà Nẵng

Pleiku

Cần Thơ

Tân Sơn Nhất

Trung bình

El Nino

1.4

1.5

1.2

1.2

1.8

1.3

1.6

2.0

1.5

La Nina

0.7

0.5

0.7

0.7

0.6

0.6

0.6

0.7

0.6

Ngoài ra, hiện tượng El Nino, nhất là các đợt El Nino mạnh (1982 - 1983, 1997 - 1998) còn gây ra nhiều kỷ lục về nhiệt độ cao nhất tuyệt đối ở nhiều nơi. Ngược lại, hiện tượng La Nina lại gây ra những kỷ lục về nhiệt độ tối thấp tuyệt đối

Bảng 6: Một số kỷ lục nhiệt độ cao nhất tuyệt (Tx) và thấp nhất tuyệt đối (Tm) trong các đợt El Nino và La Nina

Trạm

Lạng Sơn

Sơn La

Hà Nội

Vinh

Đà Nẵng

Pleiku

Cần Thơ

Tân Sơn Nhất

El Nino

TX (tháng/năm)

37.6 (7/83)

36.3 (3/98)

39.4 (6/83)

39.6 (6/98)



40.0 (5/98)

40.1 (6/98)

38.9 (5/98)

36.0 (4/98)

39.3 (5/98)

Tm (tháng/năm)







5.4 (1/77)

10.6 (11/79)






13.1 (2/77)

8.6 (2/77)

16.5 (12/63)




La Nina

TX (tháng/năm)




39.5 (6/99)




40.0 (5/88)




37.3 (3/99)




39.7 (1/99)

Tm (tháng/năm)

-1.7 (2/68)

-1.5 (12/75)



-0.2 (12/75)

5.0 (2/68)

5.9 (1/74)

5.1 (12/99)



9.4 (12/99)

10.2 (1/74)



6.1 (12/75)

14.8 (1/63)




    1. Ảnh hưởng của ENSO đến lượng mưa

Mức thâm hụt lượng mưa trong từng đợt ENSO được định nghĩa là hiệu số giữa tổng lượng mưa thực tế trong từng đợt ENSO với tổng lượng mưa trung bình nhiều năm của cùng thời kỳ, ở một địa điểm nào đó, biểu thị bằng % (DR). Kết quả nghiên cứu cho thấy, hầu hết các đợt El Nino gây thâm hụt lượng mưa ở hầu hết các vùng, DR phổ biến từ 25 đến 50%, hầu hết các đợt La Nina gây ra lượng mưa vượt trung bình nhiều năm ở các tỉnh ven biển Trung Bộ và Tây Nam Bộ, nhưng gây ra thâm hụt lượng mưa ở Bắc Bộ, Tây Nguyên và Đông Nam Bộ (bảng 6: Mức thâm hụt lượng mưa trong các đợt ENSO ở một số địa điểm).

Đáng chú ý là, đa số các đợt ENSO gây ra tình trạng hụt mưa, song một số đợt El Nino, La Nina đã cho những kỷ lục về lượng mưa lớn nhất trong 24h và số tháng liên tục hụt mưa ở một số nơi, cho thấy ENSO làm tăng tính biến động của mưa ở Việt Nam.



    1. Ảnh hưởng của ENSO đến mực nước biển ở vùng ven biển và hải đảo Việt Nam.

El Nino gây ra hiệu ứng âm (∆h < 0), trái lại La Nina gây ra hiệu ứng dương (∆h > 0) đối với mực nước biển ở ven biển và hải đảo nước ta.

Bảng 7: Mức thâm hụt mưa trong điều kiện ENSO ở một số địa điểm

Đặc trưng

Vinh

Đà Nẵng

Nha Trang

Phan Thiết

Plei Ku

Buôn Ma Thuột

Đà Lạt

Ghi chú

Số đợt El Nino gây hụt mưa trong toàn đợt trên tổng số 11 đợt được xem xét

6/11

8/11

9/11

10/11

7/11

10/11

8/11




Độ hụt mưa TB 1 đợt El Nino (%)

22,6 (12,4)

17,6 (12,8)

24,1 (19,7)

13,4 (12,2)

17,4 (11,1)

21,7 (19,7)

19,0 (13,8)

Số trong ( ) là TB trong tổng số 11 đợt El Nino được xem xét

Số đợt La Nina gây hụt mưa trong toàn đợt trên tổng số 8 đợt được xem xét

3/8

3/8

1/7

5/8

5/8

3/7

3/7




Độ hụt mưa TB 1 đợt La Nina (%)

15,0 (5,6)

19,2 (7,2)

47,2 (5,9)

17,0 (10,6)

18,0 (11,3)

20,9 (8,9)

9,7 (5,5)

Số trong ( ) là TB trong tổng số 8 đợt La Nina được xem xét

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến độ mặn nước biển vùng ven biển và hải đảo Việt Nam.

Nhìn chung, ảnh hưởng của El Nino làm tăng độ mặn, trái lại La Nina là giảm độ mặn của nước biển ở vùng ven biển và hải đảo nước ta.

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến dòng chảy sông ngòi ở Việt Nam.

  • Trong những năm El Nino, phần lớn các trạm có dòng chảy năm nhỏ hơn trung bình nhiều năm từ 10% trở lên, những năm El Nino mạnh có thể giảm tới 50 - 60%.

  • Trong những năm La Nina, dòng chảy năm các sông thường lớn hơn trung bình nhiều năm, có năm, ở một số sông, lớn hơn tới 80 - 100%.

  • Đối với dòng chảy mùa lũ cũng có đặc điểm tương tự: trong những năm El Nino thường nhỏ hơn giá trị dòng chảy trung bình nhiều năm, tỷ lệ (%) giữa dòng chảy mùa lũ và dòng chảy trung bình nhiều năm đạt 65 - 95%, trái lại, trong những năm La Nina, tỷ lệ này thường là 101 - 110%, ở một số vùng lên tới 130 - 140% (vùng núi Bắc Bộ, Trung Bộ và Tây Nguyên). Tuy nhiên, tính biến động của đặc trưng này trong điều kiện ENSO rất lớn, không loại trừ có năm El Nino, dòng chảy mùa lũ lớn hơn dòng dảy trung bình nhiều năm, ngược lại, trong những năm La Nina, dòng chảy mùa lũ nhỏ hơn dòng chảy trung bình nhiều năm.

  • Đối với dòng chảy mùa cạn, trong những năm El Nino, lượng dòng chảy 3 tháng liên tục nhỏ nhất ở hầu hết các trạm đều nhỏ hơn trị số trung bình nhiều năm của thời kỳ tương ứng và đạt khoảng 80 - 90%, trái lại, trong những năm La Nina - lớn hơn trị số trung bình nhiều năm và đạt 101 - 140%. Đối với dòng chảy tháng nhỏ nhất cũng có tình hình tương tự.

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến sản lượng thủy điện.

Quan hệ giữa lưu lượng nước trung bình năm với sản lượng năm của 4 nhà mày thủy điện là Hòa Bình, Thác Bà, Trị An, Đa Nhim là đồng biến, với hệ số tương quan 0,5 - 0,8. Do đó, có thể thấy ảnh hưởng của El Nino có thể làm giảm sản lượng thủy điện, trong khi ảnh hưởng của La Nina góp phần thuận lợi cho việc tăng sản lượng thủy điện của các nhà máy nêu trên.

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến sản xuất nông nghiệp.

  • Trong điều kiện El Nino, năng suất lúa bình quân của vụ Đông Xuân giảm so với vụ trước đó, nhất là ở vùng trung du Bắc Bộ, trái lại năng suất lúa vụ mùa tăng, nhất là ở vùng Bắc Trung Bộ.

  • Trong điều kiện La Nina, năng suất lúa bình quân vụ Đông Xuân và vụ mùa đều tăng so với vụ trước đó, trong đó vụ Đông Xuân rõ nhất ở đồng bằng Bắc Bộ, vụ mùa rõ nhất ở đồng bằng sông Cửu Long.

  • Trong điều kiện ENSO, diện tích cà phê cho thu hoạch và sản lượng cà phê đều tăng so với vụ trước: những năm La Nina, diện tích cà phê lớn hơn những năm El Nino, song sản lượng cà phê những năm El Nino cao hơn những năm La Nina.

    1. Ảnh hưởng của ENSO đến đời sống và sức khỏe con người.

  • Theo thống kê, từ 1977 đến 2000, tổng số người bị chết và mất tích do thiên tai là 14.962, trong đó xảy ra vào những năm ENSO chiếm 64% (El Nino 43%, La Nina 21%).

  • Tỷ lệ số người mắc bệnh sốt xuất huyết trên 100.000 người trong thời kỳ 1976 - 1998 có quan hệ với hiện tượng El Nino với hệ số tương quan từ 0,4 đến 0,6. Riêng đợt El Nino 1997 - 1998, cả nước có 51 tỉnh, thành phố có dịch sốt xuất huyết với tỷ lệ bình quân 306/100.000 người.

  1. Khả năng dự báo sự tác động của ENSO đến các yếu tố và hiện tượng khí tượng thủy văn.

Trên cơ sở phân tích mối quan hệ giữa các đặc trưng của ENSO (chỉ số Dao động Nam SOI, độ lệch chuẩn nhiệt độ mặt nước biển ở các vùng NiNo) với các yếu tố khí hậu và hiện tượng khí tượng thủy văn, đã xây dựng được một số mô hình thống kê dự báo mùa (3 tháng) trên cơ sở các thông tin về ENSO đối với các yếu tố và hiện tượng khí tượng thủy văn sau đây:

  1. Tần suất xoáy thuận nhiệt đới trên khu vực Biển Đông và Việt Nam.

  2. Nhiệt độ không khí trung bình và cực trị.

  3. Lượng mưa (tổng lượng và cực đại).

  4. Lưu lượng dòng chảy tại một số điểm trên lưu vực sông Hồng.

  5. Hạn hán.

Các kết quả dự báo đều được đánh giá bằng các chỉ số đánh giá dự báo: FI (Forecasting Index), tỷ lệ thành công HR (Hit Rate), sai số quân phương (RMSE), phương sai rút gọn (RV) và độ tinh xảo (Heidke) và cho kết quả tốt.

  1. Một số giải pháp nhằm hạn chế tác động xấu và thiệt hại do ENSO gây ra.

Ngoài các giải pháp công trình liên quan đến thủy lợi, rừng phòng hộ, bảo vệ giải ven biển..., các giải pháp phi công trình chủ yếu là:

  1. Quy hoạch và quản lý tổng thể các lưu vực sông, hệ thống các hồ chứa nước.

  2. Điều chỉnh cơ cấu sản xuất, mùa vụ ở một số vùng nhằm thích ứng với ảnh hưởng của ENSO.

  3. Xây dựng và hoàn thiện các phương án theo dõi, cảnh báo, dự báo tác động của ENSO.

  4. Tăng cường công tác tổ chức, quản lý thiên tai của Nhà nước và của các ngành đối với tác động của ENSO như một bộ phận của chiến lược quốc gia về phát triển bền vững.

  5. Tiếp tục tăng cường công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho công chúng về ENSO và những giải pháp phòng tránh.

Tài liệu tham khảo:

  1. Nguyễn Đức Ngữ và CTV; Tác động của ENSO đến thời tiết, khí hậu, môi trường và kinh tế xã hội ở Việt Nam - Báo cáo tổng kết khoa học đề tài nghiên cứu khoa học độc lập cấp nhà nước. Hà Nội 2002.

  2. Số liệu chuẩn sai nhiệt độ bề mặt nước biển các tháng trên các vùng NINO thời kỳ 1951 - 2005. Trung tâm dự báo khí hậu quốc gia Hoa Kỳ.





Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương