TỦ SÁch thăng tiến giáo dân giáo dân hợp tuyển số 12 tháng 8/2014 VỚi chủ ĐỀ giáo dục gia đÌNH



tải về 0.52 Mb.
trang3/6
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.52 Mb.
1   2   3   4   5   6

Vậy thì chúng ta có thể nói một cách đơn giản, vằn gọn và dể hiểu như vầy: «Giáo dục Ki-tô giáo là cách Thiên Chúa huấn luyện, đào tạo con người để con người có khả năng và tấm lòng đón nhận mạc khải và sống theo mạc khải của chính Thiên Chúa. »


IV. CHÚNG TA TÌM THẤY NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP, CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC KI-TÔ GIÁO Ở ĐÂU?

- Trong Công Trình Tạo Dựng.

- Trong Lịch Sử Cứu Độ.

- Trong Bộ Thánh Kinh Cựu và Tân Ước.

- Trong Chương Trình và Nội Dung Giáo Dục Đức Tin của Giáo Hội:

* Công Đồng Va-ti-ca-nô II (16 văn kiện),

* Sách Giáo Lý Hội Thánh Công Giáo,

* Giáo Huấn của các Đức Giáo Hoàng,

* Thư Chung Hội Đồng Giám Mục Việt Nam (2007),

* Các Lớp Giáo Lý và

* Các Khóa Bồi Dưỡng của giáo xứ, giáo hạt, giáo phận.

Câu hỏi phải đặt ra ở đây là chúng ta (giới gia trưởng hiền mẫu, giáo xứ, giáo phận) đã khai thác nội dung phong phú, phương pháp tuyệt hảo và chương trình đầy đủ trên như thế nào?



V. KẾT LUẬN

Xin mượn lời kết của Thư Chung để chấm dứt phần trình bày ngắn ngủi này: “Giáo dục Ki-tô giáo là công trình học và sống làm con người và làm con Chúa. Ðây là trách nhiệm của mọi Ki-tô hữu mọi nơi mọi thời. Thế hệ trước có trách nhiệm chuyển giao đức tin cho thế hệ sau. Thế hệ sau tiếp nhận, củng cố và bàn giao cho thế hệ hậu sinh. Lịch sử là một cuộc hành trình qua đó Kitô hữu chia sẻ đức tin cho nhau dưới sự soi dẫn của Chúa Thánh Thần.”

“Giáo dục Kitô giáo còn là một sứ mạng cấp bách. Sự thay đổi choáng ngợp của nền văn minh thời đại không cho phép chúng ta chần chừ trì hoãn, nếu không muốn bị đẩy vào nguy cơ tụt hậu. Hơn bao giờ hết phương châm mà chúng ta phải nêu cao là: "Giáo dục hôm nay, xã hội và Giáo Hội ngày mai.”

Dưới sự bảo trợ của Mẹ La Vang, thánh Giuse, các thánh Tử Ðạo Việt Nam, xin mời anh chị em cùng chung vai gánh vác mọi phận vụ của công trình giáo dục Kitô giáo để, với đức tin sống động, Giáo Hội Việt Nam sẽ nỗ lực làm vinh danh Chúa hơn và góp phần xây dựng hạnh phúc cho mọi người. Hiệp thông cùng anh chị em trong tâm tình cảm tạ và tôn vinh Thiên Chúa” 


Giêrônimô Nguyễn Văn Nội

[II] ĐÀO TẠO LUÂN LÝ VÀ TÔN GIÁO TRONG GIÁO DỤC


Ghi chép từ hội nghị FABC về giáo dục tại Thái Lan (24-28.10.2007, Assumption University)

Từ ngày 24-28 tháng 10 năm 2007, tại Đại học Assumption, Thái Lan, đã diễn ra hội nghị về Đối thoại trong đào tạo luân lý và tôn giáo trong giáo dục, được tổ chức bởi Văn Phòng về Giáo Dục và Tuyên Uý Sinh Viên (Office of Education and Student Chaplaincy – OESC), trực thuộc Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC). Uỷ Ban Giáo Lý Đức Tin đã cử linh mục đại diện tham dự Hội nghị này. Bài viết sau đây là những ghi nhận tóm lược từ những gì diễn ra tại Hội nghị nêu trên. Xin trân trọng giới thiệu.

Liên Hội Đồng Giám Mục Á Châu (FABC) là tổ chức xuyên quốc gia nhằm liên kết Hội Đồng Giám Mục của các quốc gia tại Á châu trong tình hiệp thông, và chia sẻ với nhau những suy tư cũng như nỗ lực trong công cuộc loan báo Tin Mừng cho các dân tộc Á châu. Để thực hiện mục đích trên, FABC có nhiều Văn Phòng (Offices), mỗi văn phòng đặc trách một lãnh vực trong sinh hoạt mục vụ đa dạng của Hội Thánh. Như tên gọi của nó, Văn Phòng về Giáo Dục và Tuyên Uy Sinh Viên (Office of Education and Student Chaplaincy – OESC) quan tâm đặc biệt đến lãnh vực giáo dục và trong những năm qua, Văn phòng này đã tổ chức nhiều hội nghị về nhiều chủ đề khác nhau như : Đối thoại với Hồi giáo (2005), Công giáo gặp gỡ Khổng giáo, Lão giáo, và tôn giáo bình dân (2006), Dạy giáo lý trong gia đình: những thách đố từ thực tế của châu Á (2006). Cũng Văn phòng này đã tổ chức hội nghị về Đối thoại trong đào tạo luân lý và tôn giáo trong giáo dục, từ 24-28 tháng 10 năm 2007 tại Đại học Assumption, Thái Lan.

Hội nghị đã quy tụ khoảng 40 tham dự viên từ 15 quốc gia, hầu hết là đại diện các Ủy ban về giáo dục thuộc các Hội đồng giám mục. Phía Giáo hội Việt Nam có một linh mục đi thay cho Đức Cha Phaolô Bùi Văn Đọc (Chủ tịch Ủy ban Giáo lý đức tin), một bạn trẻ hiện đang học tại Manila, Philippines, và một bạn trẻ Việt Nam đang làm việc cho văn phòng Thanh Sinh Công châu Á tại Manila, Philippines.

TỪ NHỮNG GÌ ĐƯỢC NGHE

Trong ngày làm việc đầu tiên, hội nghị đã lắng nghe hai bài thuyết trình của cha Charles Morerod, O.P., khoa trưởng khoa Triết học tại Đại học Thánh Tôma, Roma, và của cha Vimal Tirimanna, Cssr., Thư ký thường trực của Ủy ban Thần học FABC. Với tựa đề Bốn thập niên đối thoại, cha Charles Morerod đã dựa vào những giáo huấn chính yếu của Công đồng Vaticanô II và của các vị giáo hoàng từ Đức Phaolô VI đến Đức Bênêđitô XVI để cho thấy quan điểm của Giáo Hội công giáo về đối thoại tôn giáo. Một đàng đối thoại là chọn lựa rõ ràng và xuyên suốt của Giáo Hội, đàng khác cần xác định những chuẩn mực để tránh những quan điểm sai lầm, vd. chủ thuyết loại trừ (exclusivism) hoặc chủ trương đa nguyên tôn giáo (religious pluralism), đồng thời để có thể tiến hành cuộc đối thoại thật sự hữu ích và phong phú. Bài thuyết trình của cha Vimal vẫn nhấn mạnh đến đối thoại tôn giáo nhưng đặt nó trong một bối cảnh cụ thể hơn là châu Á, đồng thời mang tính mục vụ hơn là lý thuyết khi tìm cách đưa cuộc đối thoại đó vào trong việc đào tạo luân lý và tôn giáo cho con người ngày nay.

Cùng với những bài thuyết trình mang tính lý thuyết và định hướng trên là những chia sẻ kinh nghiệm của nhiều anh chị em giáo dân về nỗ lực đào tạo luân lý và tôn giáo trong môi trường họ làm việc : giáo sư đại học, người cha trong gia đình, lãnh đạo sinh viên, phóng viên... Riêng phía Việt Nam, một bạn trẻ thuộc giáo phận Xuân Lộc hiện đang học ngành Truyền giáo tại Manila đã trình bày đề tài Giới trẻ Việt Nam trong tiến trình toàn cầu hoá ngày nay : những thời cơ và thách đố. Bài trinh bày này đã được hội nghị đón nhận rất tích cực và đầy thiện cảm.

Sau khi lắng nghe những định hướng thần học cũng như chia sẻ kinh nghiệm sống, sang ngày thứ hai, hội nghị tập trung vào việc phân tích và suy nghĩ về tình hình giáo dục luân lý và tôn giáo tại Á châu. Công việc này được tiến hành bằng cách tổng kết những bài tường trình của các quốc gia. Trước khi tham dự hội nghị, mỗi Giáo hội địa phương được yêu cầu gửi bài tường trình về tình hình giáo dục tại đất nước mình. Á châu là một đại lục mênh mông chiếm gần 2/3 dân số thế giới, vì thế tuy cùng sống tại Á châu nhưng tình hình giáo dục trong mỗi quốc gia có thể rất khác nhau. Trong khi Philippines được coi là đất nước đại đa số công giáo, thì tại nhiều đất nước khác, người công giáo chỉ là một thiểu số hết sức khiêm tốn. Trong khi hầu hết các Giáo hội hoạt động rất mạnh trong lãnh vực giáo dục học đường thì Việt Nam và Myanmar không hề có trường công giáo... Vì thế, những bản tường trình của các quốc gia giúp cho hội nghị có một tầm nhìn bao quát hơn về chủ đề đang quan tâm, đồng thời phát huy tình liên đới giữa các giáo hội chị em trong Á châu rộng lớn. Tình liên đới này được cụ thể hoá hơn nữa trong những buổi họp nhóm theo từng miền : Nam Á, Đông Nam Á, Trung Á, và Đông Bắc Á châu, bởi lẽ trong những cuộc họp nhóm đó, các tham dự viên không chỉ nghe những bài tường trình mà còn gặp gỡ chính con người và có thể đặt những câu hỏi mà mình quan tâm.

Ngày cuối cùng của hội nghị được dành cho việc tổng kết và lên kế hoạch. Ban Tổ chức sử dụng phương pháp SWOT (Strengths, Weaknesses, Opportunities, Threats – Những diểm mạnh, Những điểm yếu, Thuận lợi, Đe doạ) để tổng kết tình hình đào tạo luân lý và tôn giáo chủ yếu trong giáo dục học đường. Tất cả những tổng kết này sẽ được dùng làm tư liệu góp ý cho các giám mục Á châu để các ngài suy nghĩ và có những định hướng cụ thể.

ĐẾN NHỮNG ĐIỀU ĐỂ NGHĨ

Mặc dù chỉ chiếm một tỷ lệ hết sức khiêm tốn là 2%, Giáo Hội công giáo lại đóng vai trò rất tích cực trong công cuộc giáo dục tại Á châu đến nỗi giáo dục được coi là yếu tố chính yếu cho sự hiện diện của Giáo Hội trên đại lục này (x. Ecclesia in Asia, số 37). Hãy thử lấy đại học Assumption, nơi diễn ra hội nghị, làm ví dụ minh hoạ. Bất cứ ai đến đây đều phải ngỡ ngàng trước tầm vóc và quy mô rộng lớn của đại học này. Toạ lạc trên một vùng đất rộng 200 mẫu, campus của Assumption University là một tổng thể kiến trúc vĩ đại và hài hoà được dùng làm nơi học tập, nghiên cứu, sinh hoạt của 20.000 sinh viên đến từ 74 quốc gia, dĩ nhiên phần lớn từ các nước Á châu, trong đó có Việt Nam. Một đất nước như Thái Lan chỉ có 0.5% dân số là công giáo nhưng lại có một đại học công giáo ngang tầm với những đại học lớn trên thế giới, chưa kể đến những đại học công giáo khác như St. John University... Sự kiện đó đủ nói lên vai trò của Giáo Hội công giáo trong công cuộc giáo dục tại Á châu.

Tuy nhiên, việc đào tạo luân lý và tôn giáo, và sâu hơn nữa là chính căn tính công giáo của những đại học đó lại đang bị đặt thành vấn đề. Có thể nói đến những lý do từ phía bên ngoài cũng như từ phía bên trong. Thế giới ngày nay in đậm dấu ấn của chủ nghĩa tiêu thụ và chủ nghĩa tương đối, theo đó những giá trị tinh thần và đạo đức bị đặt xuống hàng thứ yếu. Đây quả là một thách đố rất lớn cho việc giáo dục luân lý nói chung, và cách riêng trong giáo dục học đường. Trong xu thế cạnh tranh giữa các đại học, các trường công giáo cũng phải phát huy nghiên cứu chuyên môn (academic research) đến mức tối đa, và nhiều khi coi nhẹ việc đào tạo luân lý, tôn giáo. Hơn thế nữa, đôi khi vì để theo kịp cái gọi là “xu thế tiến bộ của thời đại,” các trường công giáo cũng chấp nhận những lập trường về luân lý hoặc những khuynh hướng thần học vốn không phù hợp với giáo huấn truyền thống của Giáo Hội. Cuối cùng, như một trắc nghiệm cụ thể, câu hỏi được đặt ra cho giáo dục công giáo là liệu nền giáo dục đó có mang lại hiệu quả tích cực cho đời sống xã hội không? Trong một buổi họp nhóm, câu hỏi này đã được đặt ra cho một vị đại diện người Philippines : trong một đất nước mà nền giáo dục công giáo được coi là thống lĩnh và những nhà lãnh đạo đất nước đều được đón nhận nền giáo dục đó, tại sao tình trạng tham nhũng và bất công vẫn cứ lan tràn? Chắc chắn đây là câu hỏi rất đau đớn nhưng không nhằm công kích mà chỉ được nêu lên để tự tra vấn về giáo dục công giáo.

Đặt mình vào bối cảnh trên mới thấy rõ hơn ý nghĩa của chủ đề hội nghị là Đối thoại trong đào tạo luân lý và tôn giáo trong giáo dục. Nói đến định hướng mục vụ của FABC là nói đến cuộc đối thoại ba mặt : (1) với các tôn giáo, (2) với các nền văn hoá, (3) với người nghèo. Vì thế không lạ gì khi hai bài thuyết trình chủ chốt của hội nghị đều nhấn mạnh đến đối thoại tôn giáo. Tuy nhiên tôn giáo nào cũng cần quan tâm đến nền văn hoá hiện đại, hay như người ta nói ngày nay là văn hoá hậu hiện đại. Chính nền văn hoá đó đã và đang xói mòn và hủy diệt những giá trị đạo đức và tôn giáo, và đó là mối đe doạ cho mọi tôn giáo chứ không riêng gì công giáo. Do đó, việc đối thoại với nền văn hoá đó sẽ trở thành miền đất chung (common ground) cho cuộc đối thoại giữa các tôn giáo, nhằm bảo vệ và phát huy những giá trị tinh thần và tôn giáo thông qua con đường giáo dục.

Trông người lại nghĩ đến ta. Xem ra Giáo Hội Việt Nam có vẻ lạc lõng quá! Đi họp về giáo dục học đường trong khi mình không có lấy một trường công giáo thì lạc lõng là phải rồi. Nhưng chính trong hoàn cảnh khó khăn và eo hẹp đó, có thể ta lại quan tâm hơn đến những lãnh vực khác mà người có phương tiện không quan tâm đủ.

Trước hết là một lãnh vực liên quan trực tiếp đến giáo dục học đường, tức là những nhà trẻ do các nữ tu đảm trách. Không ít người trong Giáo Hội chỉ thấy đây là cách kiếm kế sinh nhai của các nhà dòng. Dĩ nhiên không thể phủ nhận sự thật này nhưng nếu chỉ có thế thì thật đáng buồn, nếu không nói là sự xúc phạm đối với các nữ tu. Tại sao lại không thấy giai đoạn nhà trẻ là giai đoạn hết sức quan trọng trong việc hình thành nhân cách của một con người? Tại sao lại không thấy giai đoạn này là giai đoạn căn bản để gieo trồng những giá trị đạo đức và tinh thần cho các em? Và nếu các phụ huynh – không chỉ công giáo mà rất nhiều người ngoài công giáo – mong ước được gửi con đến những nhà trẻ của các nữ tu công giáo, chẳng phải vì họ hi vọng rằng con cái họ sẽ được gieo trồng những giá trị đạo đức căn bản cho cuộc sống làm người trong tương lai đó sao? Đặt những câu hỏi như thế để nêu bật tầm quan trọng của công việc giáo dục nhà trẻ mà nhiều nhà dòng đang dấn thân vào. Đó thật sự là một dấn thân tông đồ rất đáng khuyến khích và cần phải phát huy hơn nữa, phát huy khả năng và nghiệp vụ chuyên môn cũng như phát huy ý thức sắc bén về việc giáo dục đạo đức và tôn giáo cho các em.

Một lãnh vực khác cần được nhắc đến ở đây là các lớp tình thương. Trong hội nghị, một bạn trẻ đại diện của Thái Lan than thở là học phí tại các trường công giáo đều quá cao so với mức sống trung bình của người dân, nên muốn vào cũng không được. Chính các vị có trách nhiệm về giáo dục công giáo tại Thái Lan cũng không phủ nhận sự thật đó. Giáo Hội dường như đứng trước ngõ bí vì nếu muốn phát triển trường học ở mức độ cao, đòi hỏi phải trang bị phương tiện hiện đại, đội ngũ giảng viên có trình độ và tiếng tăm... và như thế bắt buộc phải lấy học phí cao. Vậy phải làm gì để nền giáo dục công giáo cũng được mang tới cho những thành phần nghèo trong xã hội? Tại Việt Nam, trong hoàn cảnh không được mở trường công giáo, nhiều dòng tu và giáo xứ lại cố gắng mở các lớp tình thương để lo cho những trẻ em nghèo, những trẻ em đường phố, những trẻ em trong các gia đình có hoàn cảnh khó khăn... để các em cũng được học hành như các thiếu nhi khác, và để cuộc đời các em không sớm bị những tệ nạn xã hội quật ngã. Lại chẳng phải là sự dấn thân tông đồ tuyệt vời trong lãnh vực giáo dục đó sao?

Ngoài hai hình thức liên quan trực tiếp đến giáo dục học đường nêu trên, làm sao không thể không nói đến vai trò của gia đình trong việc giáo dục, đặc biệt là đào tạo những giá trị luân lý và tôn giáo. Một trong những nét văn hoá truyền thống của các dân tộc châu Á là nhấn mạnh đến gia đình. Gia đình chính là nhà trường đầu tiên và xuyên suốt cho việc đào tạo những giá trị đạo đức và tôn giáo. Hơn thế nữa, gia đình còn là nơi giáo dục hiệu quả nhất vì ở đó, những bài học luân lý và tôn giáo không chỉ được thông truyền như những kiến thức xuông mà như kinh nghiệm để sống và bầu khí quyển để thở. Những nhà giáo dục trong ngôi trường này là các bậc cha mẹ cũng không chỉ làm công việc giảng dạy như một công việc được trả lương nhưng như công việc của tình yêu (labor of love, một châm ngôn của các nhà giáo dục dòng Gabriel). Chính vì thế gia đình là nơi không thể thay thế trong công việc thông truyền những giá trị đạo đức và tinh thần cho con người, từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tuy nhiên, trong tiến trình toàn cầu hoá ngày nay, đời sống gia đình tại nhiều nước châu Á đang bị đe doạ. May mắn thay là tại Việt Nam, mối dây gia đình, cách riêng gia đình công giáo, còn khá bền chặt, và vì thế gia đình vẫn đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc đào tạo cho những giá trị đạo đức và tôn giáo cho thế hệ tương lai. Dù vậy, những gì đang diễn ra tại nhiều nước châu Á cũng như tại Việt Nam khiến ta không thể không quan tâm đến sự liên kết mật thiết giữa Mục vụ Gia đình và công việc giáo dục đức tin.

Cuối cùng, một điểm son của Giáo Hội Việt Nam là vai trò của các giáo xứ. Trong nhiều đất nước có trường công giáo, việc giáo dục đạo đức và tôn giáo được trao cho nhà trường, còn giáo xứ chỉ đóng vai trò khiêm tốn trong lãnh vực này. Tuy nhiên trong khuôn khổ học đường, nhiều khi việc giảng dạy các giá trị đạo đức và tôn giáo chỉ được coi như một môn học cung cấp kiến thức chứ không nhằm chuyển thông sự sống đức tin, và như thế chưa thể nói là đã đạt hiệu quả. Tại Việt Nam, việc giáo dục đức tin công giáo hoàn toàn do các giáo xứ đảm nhận. Trong khuôn khổ giáo xứ, các lớp giáo lý được tổ chức không chỉ nhằm chuẩn bị cho các thiếu nhi rước lễ lần đầu và chịu phép Thêm sức, nhưng còn tiếp tục huấn luyện cho đến khi trưởng thành. Hơn thế nữa, những giờ giáo lý tại các giáo xứ được gắn liền với đời sống phụng vụ và những sinh hoạt của xứ đạo, do đó có khả năng thông truyền sự sống đức tin cách sống động và hiệu quả hơn. Đây quả là điểm tích cực mà các giáo xứ cần phát triển mạnh mẽ hơn cho dù có không ít khó khăn.

ĐỂ KẾT

Dù phải sống trong hoàn cảnh còn eo hẹp về mặt giáo dục học đường, Giáo Hội công giáo tại Việt Nam vẫn luôn cố gắng để chu toàn trách nhiệm đào tạo đạo đức và tôn giáo cho thế hệ tương lai. Dẫu sao việc dấn thân xa hơn vào lãnh vực giáo dục học đường vẫn là niềm thao thức và mơ ước của nhiều người trong Giáo Hội, không để cạnh tranh quyền lực với bất cứ ai nhưng chỉ để chu toàn sứ mạng yêu thương và phục vụ của Chúa Kitô trên quê hương mình. Cũng ở đó phát sinh một lời hỏi : giả như ngay bây giờ, Giáo Hội được phép mở trường học như tại các quốc gia khác, liệu Giáo Hội đã sẵn sàng chưa, và có thể làm công việc đó với hiệu quả tốt nhất chưa?



+ Phaolô BÙI VĂN ĐỌC

Tổng giám mục TGP. Sài Gòn

Ngài viết bài này khi còn là giám mục Mỹ Tho

kiêm Chủ Tịch UBGLĐT - HĐGMVN



[III] GIÁO DỤC ĐỨC TIN TẠI VIỆT NAM HÔM NAY

Một sự kiện rõ rệt nhận thấy nơi giới tín hữu trưởng thành, là sự chênh lệch giữa các cá nhân về trình độ tôn giáo. Có những mức độ khác nhau về lòng mộ đạo, về hiểu biết giáo lý, về thói quen lui tới nhà thờ và lãnh nhận bí tích. Sự chênh lệch được hình thành do nhiều hoàn cảnh khác biệt, như nền giáo dục quá khứ, tập quán, số tuổi, và ảnh hưởng xã hội. Với những chênh lệch, đời sống đức tin của họ có những diễn biến khác nhau và có thể đi theo những chiều hướng khác nhau.

Thêm vào đó, là ảnh hưởng của cuộc sống hôm nay. Trong môi trường văn hoá và chính trị tích cực vô thần, người lớn phải có những lựa chọn về tín ngưỡng. Họ sẽ can đảm, hoặc sẽ sợ sệt trong việc xưng đạo, hành đạo, bênh đạo và truyền đạo. Chính sách kinh tế với kế hoạch phân bố lao động, và với cách làm ăn tập thể, mặc dầu không nhắm vào tôn giáo, nhưng cũng ảnh hưởng nhiều đến việc hành đạo. Khó tránh được những hạn chế về thời giờ, về phương tiện đi lễ đọc kinh. Cuộc sống mới dần dần cũng tạo nên lương tâm mới. Người ta dễ dàng phạm tội.

Tuy nhiên, chính vì gặp khó khăn thử thách, nhiều người lớn đã trở nên tốt hơn khi họ nhận ra chỉ có Chúa là Đấng cứu độ, đem lại hy vọng và lẽ sống. Nhiều người có suy nghĩ, khi nhìn thấy Giáo Hội Việt Nam hiện nay đang sống thực sự đời sống của mình với tinh thần khó nghèo, với lòng tin bất khuất, với niềm cậy trông trơ trụi, và với nỗ lực vươn lên không ngừng, thì càng lạc quan vững tin vào Chúa hơn nữa. Chưa bao giờ đạo Công Giáo Việt Nam, được đại chúng chú ý như ngày nay. Được chú ý hay bị chú ý cũng vẫn tốt hơn là bị quên lãng trong dửng dưng, lạnh nhạt.

Tình hình tổng quát trên đây cho thấy việc giáo dục đức tin cho giới trưởng thành là việc rất khó, nhưng phải cố gắng thực hiện.

Giáo dục cách nào? Đó là vấn đề đặt ra để suy nghĩ. Hoàn cảnh rất phức tạp. Đưa ra một kế hoạch qui mô phức tạp là điều không thực tế. Dưới đây là mấy gợi ý cho hoàn cảnh Việt Nam hôm nay. Áp dụng được nhiều ít là tùy nơi, tùy người.

1. Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn, là đưa họ vào một cộng đoàn, để đức tin của họ được nuôi dưỡng nâng đỡ trong cộng đoàn, nhờ cộng đoàn. Mặc dầu sống đức tin là nổ lực của bản thân mỗi người, để gặp gỡ Chúa, chọn lựa Chúa và sống với Chúa. Nhưng nổ lực cá nhân nếu muốn hữu hiệu, cần được hỗ trợ bởi nhiều người. Bình thường là thế. Cộng đoàn môi trường là gầy dựng, là sức mạnh bảo vệ. Cộng đoàn nói đây, cụ thể là một họ đạo, một xóm đạo, một nhóm bạn hữu. Chúa Kitô đã qui tụ những kẻ tin Ngài, để họ nương tựa vào nhau mà sống. Ecclesia là qui tụ, là hội lại. Tông huấn Evangeli Nuntiandi (1975), đề cao vai trò của những cộng đoàn trong việc loan báo Tin Mừng (số 58). Xã hội Việt Nam càng ngày càng đi sâu vào chế độ tập thể. Đời sống đức tin cũng nên đi sâu vào sức sống cộng đoàn, trong tinh thần hiệp nhất và hiệp thông. Hoàn cảnh càng khó, người Công Giáo càng cần gắn bó với cộng đoàn, nhất là gia đình.

Giáo dục đức tin người lớn là tìm đưa họ vào một điểm tụ. Dù ở nông trường, dù ở cơ quan, dù ở trại lính, dù ở vùng kinh tế mới, đi đâu, họ cũng tìm những người cùng tín ngưỡng, để quen, để biết nhau, để chia sẻ với nhau về cuộc sống, về tư tưởng và những sinh hoạt đạo đức.

2. Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn là vun trồng nơi họ một lòng sùng mộ bình dân nào đó, như mộ mến lần chuỗi Mân Côi, tôn sùng Đức Mẹ, làm việc Đức Mẹ Hằng Cứu Giúp, mặc áo Đức Mẹ, tôn kính thánh cả Giuse, thương giúp các linh hồn... Tông huấn Evangeli Nuntiandi khuyến khích điều đó như một phương cách giáo dục đức tin (số 48). Cách này rất có hiệu nghiệm tại nhiều địa phận Việt Nam. Trong những hoàn cảnh khó khăn, nhiều người giữ được đức tin chỉ nhờ có thế.

3. Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn là phải dùng lễ Chúa Nhật như một phương tiện thuận lợi nhất. Hiện nay, mọi sinh hoạt tôn giáo, thường thu gọn trong nhà thờ. Tại đây, linh mục gặp được giáo dân. Nhưng phần đông người lớn chỉ đến nhà thờ lễ Chúa Nhật. Vì thế, tất cả chương trình giáo dục tôn giáo cần được tập trung trong lễ đó: Vừa cầu nguyện, học hỏi giáo lý, vừa có phụng vụ Lời Chúa, vừa có bí tích, vừa có chia sẻ bác ái. Để được kết quả, thiết tưởng ngày Chúa Nhật:

- Về kinh đọc trước lễ, nên chọn những kinh có nhiều nội dung tín lý, luân lý và dạy cách sống đạo.

- Về giáo lý, nên chọn vắn gọn, rõ ràng trong sáng, hợp thời, để mọi người có thể đọc chung đối đáp thuộc lòng.

- Về giảng huấn, nên vắn gọn trong sáng, để tất cả mọi hạng người: Ngoan đạo, khô đạo, vô đạo và nghịch đạo, đều có thể tiếp thu, và tiếp thu đúng.

- Về phụng vụ, nên tổ chức lễ thật gọn, đẹp và nghiêm trang sốt sắng.

- Về bác ái, nên đem ý hướng xây dựng tinh thần yêu thương đoàn kết vào những gặp gỡ, trò truyện, và các sinh hoạt huynh đệ trước, sau buổi lễ.

4. Tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn phải chú trọng đến việc giáo dục gia đình. Chương trình có thể nhấn mạnh mấy điểm sau đây:

- Cần chuẩn bị kỹ hơn cho các đôi hôn phối để họ sống tốt và hạnh phúc trong đời sống gia đình.

- Hằng ngày, cần quan tâm đúng mức các buổi kinh tối, kinh sáng. Nên đọc chung với nhau.

- Nên tổ chức những ngày lễ của gia đình: Lễ bổn mạng, ngày sinh nhật, ngày giỗ. Nên chuẩn bị bằng việc xưng tội rước lễ.

5. Sau hết, tại Việt Nam hôm nay, giáo dục đức tin người lớn là phải quan tâm đến việc phát huy đức ái chân thành, quảng đại đối với dân tộc Quê Hương. Trong hoàn cảnh của chúng ta, lòng yêu Tổ Quốc chân thành và tích cực xây dựng Quê Hương là ngôn ngữ dễ hiểu nhất và mạnh mẽ nhất của Phúc Âm. Tích cực trong việc làm và xây dựng những liên hệ tốt, đó là một trách nhiệm mục vụ quan trọng, có ảnh hưởng lớn đến đời sống đức tin của mình và của cộng đoàn.

Trên đây là những gợi ý rút từ kinh nghiệm. Kinh nghiệm nhỏ bé, thì gợi ý cũng hạn hẹp. Hoàn cảnh càng giới hạn, thì việc giáo dục đức tin càng phải là một cố gắng. Cần những thiện chí trung kiên. Nhưng giải đáp sau cùng vẫn trong tay Chúa.

+ ĐGM. GBt. Bùi Tuần (18.05.2006)




1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương