TỨ niệm xứ Toát yếu: Tỳ-kheo-ni Pháp Quang



tải về 232.7 Kb.
trang3/5
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích232.7 Kb.
1   2   3   4   5

III/- QUÁN TÂM TRÊN TÂM

Tỳ-kheo tâm có tham, biết rằng tâm có tham.


Tỳ-kheo tâm không tham, biết rằng tâm không tham.
Tỳ-kheo tâm có sân, biết rằng tâm có sân.
Tỳ-kheo tâm không sân, biết rằng tâm không sân.
Tỳ-kheo tâm có si, biết rằng tâm có si.
Tỳ-kheo tâm không si, biết rằng tâm không si.
Tỳ-kheo tâm thâu nhiếp, biết rằng tâm thâu nhiếp.
Tỳ-kheo tâm tán loạn, biết rằng tâm tán loạn.
Tỳ-kheo tâm quảng đại, biết rằng tâm quảng đại.
Tỳ-kheo tâm hữu hạn, biết rằng tâm hữu hạn.
Tỳ-kheo tâm vô thượng, biết rằng tâm vô thượng.
Tỳ-kheo tâm có định, biết rằng tâm có định.
Tỳ-kheo tâm không định, biết rằng tâm không định.
Tỳ-kheo tâm giải thoát, biết rằng tâm giải thoát.
Tỳ-kheo tâm không giải thoát, biết rằng tâm không giải thoát.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán tâm trên nội tâm, sống quán tâm trên ngoại tâm, sống quán tâm trên nội ngoại tâm. Sống quán tánh sanh khởi trên tâm, sống quán tánh diệt tận trên tâm, sống quán tánh sanh diệt trên tâm. Y cứ hiện tiền tâm, Tỳ-kheo sống an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
* * *
---o0o---

IV/- QUÁN PHÁP TRÊN PHÁP

A. 1- Năm triền cái :


a) Tỳ-kheo nội tâm có ái dục, biết nội tâm có ái dục. Nội tâm không ái dục, biết nội tâm không ái dục. Ái dục chưa sanh nay sanh khởi, ái dục đã sanh nay đoạn diệt. Ái dục đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ.
b) Nội tâm có sân hận, biết nội tâm có sân hận. Nội tâm không sân hận, biết nội tâm không sân hận. Sân hận chưa sanh nay sanh khởi, sân hận đã sanh nay đoạn diệt. Sân hận đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ.
c) Nội tâm có thùy miên, biết nội tâm có thùy miên. Nội tâm không thùy miên, biết nội tâm không thùy miên. Thùy miên chưa sanh nay sanh khởi, thùy miên đã sanh nay đoạn diệt. Thùy miên đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ.
d) Nội tâm có trạo hối, biết nội tâm có trạo hối. Nội tâm không trạo hối, biết nội tâm không trạo hối. Trạo hối chưa sanh nay sanh khởi, trạo hối đã sanh nay đoạn diệt. Trạo hối đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ.
đ) Nội tâm có nghi, biết nội tâm có nghi. Nội tâm không nghi, biết nội tâm không nghi. Nghi chưa sanh nay sanh khởi, nghi đã sanh nay đoạn diệt. Nghi đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa, mỗi mỗi biết rõ.
2- Năm thủ uẩn :
Tỳ-kheo suy tư đây là sắc, đây là sắc sanh, đây là sắc diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là thọ, đây là thọ sanh, đây là thọ diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là tưởng, đây là tưởng sanh, đây là tưởng diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là hành, đây là hành sanh, đây là hành diệt.
Tỳ-kheo suy tư đây là thức, đây là thức sanh, đây là thức diệt.
3- Sáu nội ngoại xứ :
Tỳ-kheo biết : mắt duyên sắc, tai duyên thanh, mũi duyên hương, lưỡi duyên vị, thân duyên xúc, ý duyên pháp. Do đây kết sử phát khởi. Tỳ-kheo biết kết sử nay đoạn diệt, kết sử đã đoạn diệt, tương lai không sanh nữa.
B. 1- Bảy giác chi :
Tỳ-kheo biết rõ :
1) Nội tâm có niệm giác chi, nội tâm không niệm giác chi. Niệm giác chi chưa sanh nay sanh khởi, niệm giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
2) Nội tâm có trạch pháp giác chi, nội tâm không trạch pháp giác chi. Trạch pháp giác chi chưa sanh nay sanh khởi, trạch pháp giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
3) Nội tâm có tinh tấn giác chi, nội tâm không tinh tấn giác chi. Tinh tấn giác chi chưa sanh nay sanh khởi, tinh tấn giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
4) Nội tâm có hỷ giác chi, nội tâm không hỷ giác chi. Hỷ giác chi chưa sanh nay sanh khởi, hỷ giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
5) Nội tâm có khinh an giác chi, nội tâm không khinh an giác chi. Khinh an giác chi chưa sanh nay sanh khởi, khinh an giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
6) Nội tâm có định giác chi, nội tâm không định giác chi. Định giác chi chưa sanh nay sanh khởi, định giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
7) Nội tâm có xả giác chi, nội tâm không xả giác chi. Xả giác chi chưa sanh nay sanh khởi, xả giác chi đã sanh nay được tu tập viên thành.
2- Tứ Thánh Đế :
Tỳ-kheo như thật biết đây là khổ, đây là khổ tập, đây là khổ diệt, đây là khổ diệt đạo.
1) Thế nào là khổ :
Sanh, già, bệnh, chết, ân ái biệt ly, oán thù gặp gỡ, mong cầu không được, năm ấm xí thịnh (lẫy lừng).
2) Thế nào là khổ tập :
Tham ái đưa đến tái sanh. Cùng đi với hỷ, tham tìm cầu chỗ này chỗ kia. Thí dụ : dục ái, hữu ái và vô hữu ái.
Này các Tỳ-kheo! Tham ái sanh khởi ở đâu? An trụ ở đâu?
_ Sắc gì thân ái, sắc gì khả ái, tham ái sanh khởi ở đấy, an trụ ở đấy.
_ Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ; Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Là sắc thân ái, là sắc khả ái. Tham ái sanh khởi ở đấy, an trụ ở đấy.
_ Nhãn thức, nhĩ thức, tỵ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức ; Nhãn xúc, nhĩ xúc, tỵ xúc, thiệt xúc, thân xúc, ý xúc ; Nhãn thọ, nhĩ thọ, tỵ thọ, thiệt thọ, thân thọ, ý thọ. Là sắc thân ái, là sắc khả ái. Tham ái sanh khởi ở đấy, an trụ ở đấy.
_ Sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng ; Sắc tư, thanh tư, hương tư, vị tư, xúc tư, pháp tư ; Sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái ; Sắc tầm, thanh tầm, hương tầm, vị tầm, xúc tầm, pháp tầm ; Sắc tứ, thanh tứ, hương tứ, vị tứ, xúc tứ, pháp tứ. Là sắc thân ái, là sắc khả ái. Tham ái sanh khởi ở đấy, an trụ ở đấy.
3) Thế nào là khổ diệt :
Diệt tận tham ái, không luyến tiếc, sẽ hoàn toàn giải thoát. Xả ly tham ái ở đâu? Diệt trừ ở đâu?
_ Ở đời sắc gì thân ái, sắc gì khả ái, tham ái xả ly ở đấy, diệt trừ ở đấy.
4) Thế nào là khổ diệt đạo :
_ Bát chi chánh đạo :
· Chánh tri kiến : Thấy biết về khổ, tập, diệt, đạo.
· Chánh tư duy : Suy nghĩ về lìa dục, không sân, chẳng hại.
· Chánh ngữ : Không nói dối, không hai lưỡi, không ác khẩu, không thêu dệt.
· Chánh nghiệp : Không sát sanh, không trộm cắp, không tà dâm.
· Chánh mạng : Không tự nuôi sống bằng những phương tiện trưởng dưỡng 3 độc tham sân si.
· Chánh tinh tấn : Nỗ lực, không cho pháp ác sanh. Nếu ác đã sanh quyết trừ diệt. Thiện chưa sanh khiến sanh khởi. Thiện đã sanh khiến tăng trưởng.
· Chánh niệm : Tinh cần, tỉnh giác 4 niệm xứ.
· Chánh định :
_ Sơ thiền : Hỷ lạc do ly dục sanh nhờ tầm và tứ.
_ Nhị thiền : Diệt tầm và tứ, hỷ lạc do định sanh, nội tỉnh nhất tâm.
_ Tam thiền : Ly hỷ, chánh niệm tự giác, thân cảm lạc thọ.
_ Tứ thiền : Xả lạc, xả khổ, xả niệm, một bề thanh tịnh.
Như vậy Tỳ-kheo sống quán pháp trên nội pháp, sống quán pháp trên ngoại pháp, sống quán pháp trên nội ngoại pháp. Sống quán tánh sanh khởi trên các pháp, sống quán tánh diệt tận trên các pháp, sống quán tánh sanh diệt trên các pháp. Y cứ những pháp hiện tiền, Tỳ-kheo sống an trụ chánh tri với hy vọng hướng đến chánh trí, chánh niệm. Tỳ-kheo sống không nương tựa, không chấp trước một vật gì ở đời.
* * *
Này các Tỳ-kheo! Tu tập 4 niệm xứ muộn thì 7 năm, trung bình từ 1 đến 6 năm, sớm thì 7 tháng, sẽ chứng chánh trí ngay trong hiện tại.
Đây là con đường thanh tịnh độc nhất, diệt khổ ưu, thành chánh trí, chứng Niết-bàn.
Các Tỳ-kheo nghe pháp xong hoan hỷ tín thọ phụng hành.
* * *
ĐẠI Ý
Tứ : 4 ; Niệm : nhớ không quên ; Xứ : chỗ.
Tứ Niệm Xứ : 4 chỗ hằng quán chiếu.
Chữ Phạn
Smrti
Upasthana
Smrtyupasthana
Chữ Pali
Sati
Upatthana
Satipatthana
Chữ Việt

Niệm


Xứ

Niệm Xứ
Tứ Niệm Xứ là cửa vào giác ngộ, đứng vị trí chính yếu trong Phật giáo. Thế hệ này sang thế hệ khác, Tứ Niệm Xứ được học hỏi, thực tập và truyền bá một cách đặc biệt và cẩn trọng.


---o0o---

I- NIỆM THÂN


Hành giả quán :
1) Hơi thở.
2) Tư thế của thân.
3) Động tác của thân.
4) Các bộ phận của thân.
5) Những yếu tố tạo nên thân.
6) Sự tàn hoại của thân.
---o0o---

II- NIỆM THỌ


1) Ba thọ : Khổ thọ, lạc thọ, si thọ.
· Khổ thọ : Khổ khổ.
· Lạc thọ : Hoại khổ.
· Si thọ : Hành khổ.
2) Cảm giác sanh trụ dị diệt (vô thường).
---o0o---

III- NIỆM TÂM


Thấy rõ tham sân si khởi diệt. Quảng đại hay hẹp hòi ; an định hay động loạn ; ràng buộc hay giải thoát. Mỗi mỗi trạng thái của tâm đều tự giác.
---o0o---

IV- NIỆM PHÁP


A- _ Năm triền cái : Ái dục, sân hận, trạo hối, thùy miên, do dự (không quyết định).
_ Năm thủ uẩn : Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.
_ Mười tám giới : 6 căn, 6 trần, 6 thức.
B- _ Bảy giác chi : Niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả.
_ Bốn Thánh Đế : Khổ, Tập, Diệt, Đạo.
An vui và giải thoát là 2 yếu tố, có thì cùng có, không thì cùng không. Hành thiền có thể đạt an lạc giải thoát ngay trong giờ phút thực tập. Bản chất của tham đắm, giận hờn, lo lắng, sợ hãi đều là vô minh.
Trước hết cần ý thức được chúng rồi quán chiếu thẩm xét chúng. Dần dần vô minh tan biến, trí quan sát và cảnh chiếu soi trở thành nhất như. Vì không phải ta là quan sát viên mà ta đang quan sát ta.
---o0o---

XUẤT XỨ
Thời xưa, miền Bắc Ấn Độ kinh luật được kết tập bằng tiếng Sanscrit (chữ Phạn). Miền Nam Ấn Độ kinh luật được kết tập bằng chữ Pali. Kinh Tứ Niệm Xứ cả 2 bản chữ Phạn và Pali đều được truyền bá sang Việt Nam.


Kinh chúng ta học thuộc bộ phái Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ (Sarvastivada), được dịch từ Phạn ra Hán văn vào cuối thế kỷ thứ 4. Vào khoảng năm 1960, Hòa-thượng Thanh Từ dịch sang Việt văn.
Trong tạng Sanscrit, kinh Niệm Xứ đứng số 98 trong Trung A Hàm, mang số 26 trong Đại Tạng Tân Tu. Bộ Tăng Nhất A Hàm số 12 cũng có kinh này nhưng để tên là kinh Nhất Nhập Đạo Phẩm. Hòa-thượng Nhất Hạnh dịch sang tiếng Việt, tên là kinh Con Đường Vào Đạo Duy Nhất.
Kinh Niệm Xứ đứng số 10 của Trung Bộ và số 22 của Trường Bộ trong tạng Pali. Tạng Pali thuộc bộ phái Théravada, một bộ phái đã duy trì đầy đủ tam tạng, nhờ địa bàn hành đạo tương đối an ổn ở Tích Lan. Kinh Niệm Xứ tiếng Pali đã được Hòa-thượng Minh Châu Việt dịch khoảng năm 1970.
---o0o---



1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương