PHÁt triển hệ thống tín dụng nông thôN Ở việt nam1



tải về 187.14 Kb.
trang1/3
Chuyển đổi dữ liệu11.09.2017
Kích187.14 Kb.
  1   2   3

PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM1


Tại các nước đang phát triển, một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển là hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Trong đó, tín dụng là công cụ hiệu quả kích thích các hoạt động tạo thu nhập, giúp người nghèo kiểm soát tài nguyên, đề cao vị thế trong các giao dịch kinh tế cũng như quan hệ xã hội để giúp người nghèo vượt khỏi đói nghèo. Một số bài học rút ra từ kinh nghiệm phát triển tín dụng nông thôn ở châu Á là:


  • Phương châm “mang ngân hàng đến với người dân” là chìa khóa thành công. Hệ thống tài chính chính thức mở rộng mạng lưới chi nhánh, lập văn phòng giao dịch bán thời gian ở ấp / thôn, mở quầy ngay tại chợ nông thôn.

  • Kết nối nguồn cung tín dụng với huy động tiết kiệm. Dịch vụ tài chính nông thôn giúp cho người dân có cả chỗ vay tiền lẫn chỗ gửi tiền (dù là những khoản tiết kiệm rất nhỏ). Tiết kiệm bảo đảm khả năng phát triển bền vững của tín dụng, tăng tính tự chủ của người đi vay.

  • Cho vay phải phối hợp với chương trình phát triển nông thôn. Tín dụng cần được bổ sung bằng tiến bộ kỹ thuật, cơ sở hạ tầng, hỗ trợ vật tư đầu vào như hạt giống, phân bón, có thị trường trao đổi sản phẩm do nông dân làm ra. Các chương trình tín dụng nông thôn cần kết hợp các nội dung phát triển cộng đồng như xây dựng năng lực cho cán bộ địa phương, bồi đắp tinh thần tương thân tương trợ, gắn kết xã hội thông qua những đội, nhóm vay chung cùng chịu trách nhiệm.

  • Làm giảm chi phí giao dịch đối với người cho vay lẫn người đi vay, giảm chi phí giao dịch của các tổ chức tín dụng bằng cách hoàn thiện công tác thẩm định dự án, tinh giản quá trình xét duyệt đơn xin vay, hợp lý hóa bộ máy thu hồi nợ, đào tạo cán bộ tín dụng có khả năng đi sâu đi sát với quần chúng để nhanh nhạy nắm bắt và đáp ứng nhu cầu về vốn cũng như nắm rõ gia cảnh của khách hàng để quản lý tín dụng cho tốt.

  • Áp dụng hình thức cho vay theo nhóm chịu trách nhiệm chung. Nhóm tín dụng chia sẻ rủi ro và tự quản lý làm tăng khả năng thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Mỗi thành viên của nhóm là người bảo lãnh cho tất cả các thành viên khác.

  • Chú trọng đến khả năng sinh lợi có ý nghĩa quan trọng với sự ổn định dài hạn của một chương trình tín dụng nông thôn.


Việt Nam có khoảng 13 triệu nông hộ (chiếm gần 80% dân số), trong đó hơn một nửa (6,7 triệu) thuộc diện có thu nhập thấp. 40% doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn cho rằng thiếu vốn là khó khăn lớn nhất. Việt Nam rõ ràng cần có hệ thống tín dụng nông thôn vững mạnh để cải thiện kinh tế xã hội, đáp ứng nhu cầu vốn cho hoạt động kinh tế (cả nông nghiệp lẫn phi nông nghiệp) nhằm nâng cao đời sống ở nông thôn. Một số hướng phát triển hệ thống tín dụng nông thôn ở Việt Nam là:

  • Xác định đúng hình thức can thiệp của chính phủ. Chính phủ cần can thiệp trực tiếp trong những trường hợp đặc biệt như khắc phục hậu quả thiên tai, hay ưu tiên hỗ trợ vùng sâu, vùng xa, miền núi, hải đảo, vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, chính phủ không nhất thiết phải cung cấp tín dụng với số lượng nhiều và giá rẻ. Ngược lại những biện pháp can thiệp theo cách cũ như áp đặt lãi suất hay tỉ lệ dự trữ bắt buộc quá cao lại bóp nghẹt tăng trưởng của các tổ chức tín dụng, cản trở thị trường tín dụng tự giác nông thôn phát triển.

  • Tạo cầu nối giữa tín dụng chính thức và tín dụng phi chính thức. Nếu khai thác và phối hợp được thế mạnh của hai khu vực này sẽ có nhiều nguồn tín dụng với chất lượng cao hơn cho người dân ở nông thôn, nhất là người nghèo.

  • Chú trọng phát triển bền vững. Cần thay đổi lối suy nghĩ “chương trình tín dụng là hoạt động từ thiện” để giảm động cơ trợ cấp lãi suất mà thực sự chỉ mang lại lợi ích cho một số ít người. Áp dụng mức lãi suất đủ để trang trải chi phí và có mức lợi nhuận hợp lý, tự huy động đủ nguồn vốn mà không trông đợi vào những nguồn ngân sách hay vốn vay ưu đãi, tuân thủ những quy tắc và tập quán hoạt động tài chính lành mạnh… là những cách giúp cho các định chế tài chính nông thôn tự đứng vững trên đôi chân của mình về lâu về dài.

  • Phạm vi phục vụ, và những dịch vụ phụ trợ. Tuy đã nỗ lực phục vụ các hộ nghèo, Ngân Hàng Nông nghiệp (NHNN&PTNT) còn chưa đáp ứng nhu cầu của các vùng xa xôi hẻo lánh và miền núi, nơi có tỉ lệ nghèo đói cao nhất cần nỗ lực lập các tổ cho vay lưu động của NHNN&PTNT, nhưng có lẽ do điều kiện đường sá trắc trở, vẫn còn nhiều nơi nằm ngoài mạng lưới phục vụ. Ở những địa phương có trình độ dân trí thấp, các tổ chức tín dụng chính thức ngoài việc cho vay nên hướng dẫn người dân sử dụng vốn hợp lý, và có phương án quản lý nợ và rủi ro.

  • Đa dạng hóa các loại hình tín dụng nông thôn. Cần loại bỏ động cơ “chỉ phục vụ khách hàng lớn”. Phải có giải pháp khuyến khích đáp ứng nhu cầu vay vốn của nông dân dù lớn dù nhỏ, đảm bảo công bằng trong tín dụng nông thôn, góp phần tăng thu nhập và giảm đói nghèo. Tăng hiệu quả của đồng vốn bằng cách hoàn thiện việc thẩm định dự án, đánh giá mức rủi ro của người đi vay.

  • Đẩy mạnh huy động tiết kiệm. Xoá bỏ sự ngộ nhận là người nghèo không thể tiết kiệm, các chương trình tín dụng ngoài việc tập trung vào việc cho vay, phải để ý đến mảng tiết kiệm. Nỗ lực toàn diện để huy động tiền gửi từ dân thay đổi, cơ cấu lãi suất với những quy định của NHNN về mức trần lãi suất tiền gửi hiện hạn chế các tổ chức tín dụng thu hút tiết kiệm.

  • Quan tâm nhiều hơn đến phụ nữ nông thôn. Cấp tín dụng trực tiếp cho phụ nữ để tăng cơ hội giúp họ tham gia hoạt động kinh tế, thoát khỏi tình trạng lệ thuộc, nâng cao lòng tự tin và khả năng tự chủ của phụ nữ.

  • Đơn giản hoá các yêu cầu và thủ tục cho vay. Các tổ chức tín dụng chính thức thường yêu cầu người đi vay phải có tài sản thế chấp, phổ biến nhất là đất hay nhà, và một bộ hồ sơ xin vay tiền thường cần tới gần 10 con dấu và chữ ký của các cấp khác nhau. Thủ tục phiền hà và quy định rắc rối cản trở người dân có trình độ văn hóa thấp, và làm nảy sinh nguy cơ gây nhũng nhiễu.

  • Nới rộng yêu cầu về mục đích sử dụng vay vốn. Các tổ chức tín dụng chính thức chủ yếu cho vay phục vụ sản xuất nông nghiệp, bỏ rơi hoạt động kinh doanh phi nông nghiệp và những khách hàng khác ở nông thôn nhưng không làm nông nghiệp. Hoạt động phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ khá lớn trong kinh tế nông thôn. Cần loại bỏ những quy định ngặt nghèo về mục đích sử dụng vốn vay tạo phân biệt đối xử với người nghèo, khiến họ khó thoát ra cái vòng luẩn quẩn đói nghèo.

MỞ ĐẦU

Tại các nước đang phát triển, một bộ phận quan trọng của chiến lược phát triển là hoạt động xóa đói giảm nghèo, đặc biệt là ở khu vực nông thôn. Trong đó, hoạt động tín dụng là cách kích thích các hoạt động tạo thu nhập để giúp người nghèo vượt khỏi đói nghèo. Tín dụng không giống như những yếu tố đầu vào thông thường như hạt giống hay phân bón. Tín dụng giúp người nghèo nắm quyền kiểm soát các nguồn tài nguyên, có tiếng nói trọng lượng hơn trong các giao dịch kinh tế cũng như quan hệ xã hội. Trong lý thuyết phát triển kinh tế, khả năng tiếp cận tín dụng là một yếu tố quan trọng để “trao quyền” cho người nghèo.

Việt Nam có khoảng 13 triệu nông hộ (chiếm 80% tổng số hộ), trong đó hơn một nửa (6,7 triệu) thuộc diện có thu nhập thấp. Khoảng 90% người nghèo sống ở nông thôn, và 45% dân số nông thôn sống dưới ngưỡng nghèo đói. Theo một khảo sát các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 40% đơn vị cho biết thiếu vốn là khó khăn lớn nhất.2 Cần phải có một hệ thống tín dụng nông thôn vững mạnh để đáp ứng được nhu cầu vốn cho hoạt động kinh tế (cả nông nghiệp lẫn phi nông nghiệp) cũng như đời sống ở nông thôn, tạo nên đà phát triển kinh tế xã hội.


  1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    1. Tài chính chính thức hay phi chính thức

Ở các nước đang phát triển, hệ thống tài chính có dạng song hành, tức là cùng tồn tại khu vực tài chính chính thức và khu vực tài chính phi chính thức. Khu vực tài chính phi chính thức ước tính chiếm từ 30% đến 80% nguồn cung tín dụng nông thôn, trong khi chưa đến 5% nông dân ở châu Phi, 15% ở châu Mỹ La Tinh, và 25% ở châu Á tiếp cận được với tín dụng chính thức.3

Nếu khu vực tài chính chính thức như các ngân hàng thương mại, các ngân hàng phát triển nông thôn hoạt động mạnh sẽ giúp tín dụng nông thôn đạt hiệu quả. Tuy nhiên, ở các nước đang phát triển, khu vực chính thức thường thường không cung cấp dịch vụ tài chính cho nông thôn hiệu quả, nhất là cho người nghèo. Khu vực tài chính chính thức thường cho rằng, cho người nghèo vay có rủi ro cao (tỉ lệ vỡ nợ cao), tốn kém (chi phí giao dịch cao). Để khắc phục những nhược điểm này, họ áp dụng những thủ tục rắc rối cộng với những quy định nghiêm ngặt như yêu cầu thế chấp của các định chế chính thức khiến cho rất nhiều đối tượng cần vay vốn ở nông thôn không tiếp cận được với tín dụng chính thức. Do đó, các định chế tài chính chính thức thường thích giao dịch với khách hàng lớn có nhu cầu tín dụng lớn, không chú trọng đến các doanh nghiệp nông thôn quy mô nhỏ, các hộ gia đình thu nhập thấp, các nông dân không có đất. Ngoài ra, các định chế chính thức thường tập trung vào thành thị, hạn chế nhu cầu tín dụng của người dân ở nông thôn.

Thiếu vốn buộc người dân ở nông thôn tìm đến bà con, bạn bè, láng giềng, người cho vay nặng lãi, chủ đất, các hội tiết kiệm-tín dụng tự phát, những hội tương trợ ..., đây là khu vực tín dụng phi chính thức. Tại các vùng nông thôn của những nước đang phát triển, khu vực phi chính thức đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết nhu cầu tín dụng rất cụ thể và thiết thực của người dân, như vốn để sản xuất nhỏ, vay ăn giáp hạt, trang trải những chi tiêu đột xuất trong gia đình. Ở một số vùng, đây là nguồn tín dụng duy nhất dành cho người nghèo. Nhìn chung, tín dụng phi chính thức góp phần giúp nông dân đối phó kịp thời những tình huống cấp bách như mất mùa, mất việc, bệnh tật hay ma chay trong gia đình.

So với khu vực chính thức, khu vực phi chính thức có nhiều đặc điểm phù hợp với người nghèo ở nông thôn như: gần gũi với nông hộ, nằm ngay trong ấp/thôn; hoạt động linh hoạt, các điều khoản tín dụng đáp ứng nhu cầu cụ thể và tương xứng với khả năng của từng khách hàng; thủ tục giao dịch đơn giản gọn nhẹ, ít phiền hà; quy tắc dễ hiểu và dễ thực hiện4; tín dụng nhanh chóng đến tay người có nhu cầu vay vốn; các giao dịch chủ yếu dựa vào chữ tín, quan hệ cá nhân giữa người cho vay và người đi vay.

Tuy nhiên, tín dụng phi chính thức cũng có nhiều hạn chế và nhược điểm, nhất là lãi suất rất cao, có khi lên đến 5-10% / tuần, hay 10-20% / tháng; kèm theo những ràng buộc như mua nguyên vật liệu, hàng hóa tiêu dùng, hoặc bán sản phẩm hay sức lao động, gây bất lợi cho người đi vay; các khoản vay có giá trị nhỏ và rất ngắn ngày, không kích thích hoạt động đầu tư trung hạn và dài hạn của nhà nông.


    1. Tín dụng là hoạt động phúc lợi xã hội hay tài chính?

Khi phát triển hệ thống tài chính phục vụ nông thôn, có một câu hỏi thường bị bỏ qua hoặc không được xem xét một cách thỏa đáng là: nên xem các chương trình tín dụng nông thôn là các chương trình phúc lợi xã hội thuần túy, hay là những dịch vụ tài chính bình thường? Để trả lời câu hỏi này, cần tìm hiểu quá trình tiến triển của những cách tiếp cận tín dụng nông thôn.

Trong cách tiếp cận truyền thống (hay kiểu cũ), để kích thích nông nghiệp tăng trưởng và giảm nghèo đói, chính phủ nhiều nước áp dụng những biện pháp can thiệp trực tiếp, ví dụ như các chương trình tín dụng có chỉ đạo, cấp tín dụng với giá ưu đãi … Thông thường, chính phủ lập những tổ chức tín dụng quốc doanh chuyên trách, giao cho các tổ chức này nguồn vốn với giá ưu đãi (ví dụ từ các định chế tài chính quốc tế) rồi đem cho vay lại với lãi suất thấp hơn mức thị trường. Các tổ chức quốc tế cũng hết sức ủng hộ hình thức tín dụng được trợ cấp này. Ví dụ, Ngân hàng Thế giới đã cho vay 16,5 tỉ đô-la đối với các chương trình tín dụng nông nghiệp trước năm 1992.

Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau đó đã cho thấy những kiểu can thiệp trực tiếp như vậy thường kém hiệu quả, và thường làm chậm lại, chứ không phải đẩy nhanh, bước phát triển của thị trường tài chính nông thôn. Những chương trình đó thường thất bại (phạm vi phục vụ hạn chế và có nhiều tổn thất)5 do ch ú trọng vào mục tiêu cấp càng nhiều tín dụng càng tốt (xem như một tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động), nhưng lại bỏ qua những khía cạnh như chất lượng của danh mục cho vay, khả năng huy động tiết kiệm, phát triển kinh tế phi nông nghiệp, và hiệu quả của thị trường tài chính.

Một trong những hậu quả xấu của hình thức trợ cấp tín dụng là hiện tượng “làm hỏng nông dân”: Khi tiếp cận tín dụng bao cấp, người cho vay đã chấp nhận rủi ro cao, sẵn sàng hy sinh nợ nếu đối tượng cho vay không trả nổi. Người đi vay không coi nợ vay là tiền hỗ trợ sẽ hình thành tâm lý chây ỳ, thậm chí quịt nợ. Trả nợ chậm, thiếu nợ trở thành phong trào chung rồi chuyển thành tập quán n ông dân quịt nợ cho vay giảm nghèo được sẽ chuyển sang quịt mọi khoản nợ khác của các ngân hàng kinh doanh thương mại, kết quả là hoạt động tín dụng trong cả khu vực bị phá hỏng. Không ngân hàng nào dám cho vay, dành hoàn toàn thiểu vốn vay.

Bắt đầu từ thập niên 1980 xuất hiện cách tiếp cận kiểu mới về tín dụng nông thôn. Cách tiếp cận này tuy vẫn đặt trọng tâm vào tăng thu nhập và giảm đói nghèo ở nông thôn, nhưng đề nghị chính phủ giảm bớt can thiệp để đảm bảo hiệu quả của thị trường tài chính nông thôn, đồng thời khuyến khích huy động tiết kiệm, áp dụng các tập quán và chuẩn mực tài chính đúng đắn (ví dụ dùng phân tích chi phí-lợi ích trong hoạt động tín dụng). Theo những người ủng hộ cách tiếp cận này, cần tập trung vào ba điểm:


  • Tạo ra một môi trường chính sách thuận lợi, ví dụ như đảm bảo tính ổn định kinh tế vĩ mô, bãi bỏ (hoặc chí ít là hạn chế) những chính sách quá thiên vị cho thành thị, tiến hành những cải cách tổng quát hơn đối với khu vực tài chính.

  • Hoàn thiện các thể chế luật pháp và quản lý điều tiết để tạo thuận lợi cho giao dịch tài chính, ví dụ như thủ tục đăng ký và cấp sổ đỏ xác nhận chủ quyền đất, cải tổ luật giao dịch bảo đảm, giảm bớt quy định quản lý (nhất là những áp đặt về lãi suất) đối với các tổ chức tín dụng.

  • Chính phủ vẫn có thể có những can thiệp trực tiếp nhưng chỉ khi nào cần để khắc phục những thất bại thị trường.

    1. Lãi suất: ưu đãi hay để thị trường quyết định?

Một câu hỏi quan trọng là làm sao để duy trì khả năng phát triển bền vững của một chương trình tín dụng: nên áp dụng lãi suất cho vay ưu đãi (có trợ cấp) hay lãi suất thị trường?

Một suy nghĩ phổ biến là người nghèo (đối tượng chính của hầu hết các chương trình tín dụng nông thôn) không đủ sức trả lãi theo mức thị trường. Do vậy, lãi suất cho vay thường được trợ cấp rất nhiều (thấp hơn lãi suất phổ biến trên thị trường), và thường được ấn định ở mức thấp hơn mức lạm phát, khiến cho lãi suất thực tế có giá trị âm. Trên lý thuyết, ở mức lãi suất thực âm, nhu cầu tín dụng sẽ trở nên vô hạn, cung không thể đáp ứng cầu, mặt khác giá trị thực của nguồn vốn cho vay sẽ giảm dần, nói cách khác là nguồn cung thu hẹp lại. Cung thấp hơn c ầu thì giá trị vốn vay thực tế tăng lên. Sự chênh lệch giữa giá áp đ ặt giả tạo và giá thực tạo ra động l ực tham nhũng của cơ chế xin cho. Do đó, tín dụng có thể sẽ không đến được đúng đối tượng cần phục vụ, mà lọt vào tay những người có thế lực hoặc có quan hệ tốt, và những người này lại đem tín dụng giá rẻ cho vay lại với lãi suất cao hơn; vô hiệu hóa ý định cung cấp tín dụng giá rẻ cho người thực sự cần. Ngoài ra, người được vay vốn giá rẻ có xu hướng xem tín dụng là một hình thức trợ cấp (hay nói nôm na là “tiền chùa”); nảy sinh tâm lý quịt nợ. Trong tình hình đó, các chương trình tín dụng sẽ không thể tiếp tục hoạt động nếu không có những khoản trợ cấp lớn của chính phủ (tăng thêm gánh nặng ngân sách) hoặc bơm thêm vốn từ bên ngoài. Do vậy, để bảo đảm khả năng phát triển bền vững về dài hạn, một chương trình tín dụng cần phải áp dụng lãi suất đủ để trang trải chi phí hoạt động cũng như bảo vệ giá trị thực của nguồn vốn.



Kinh nghiệm tại nhiều nước cho thấy tín dụng được trợ cấp không phải là chìa khóa cho thành công của tài chính ở cơ sở. Nhu cầu chính của người nghèo, là dễ dàng và nhanh chóng vay được được vốn, và chi phí giao dịch thấp (thủ tục đơn giản và nhanh chóng nhận được tiền), chứ không phải tín dụng giá rẻ. Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy mức lãi suất thị trường sẽ đảm bảo cả tính công bằng lẫn tính hiệu quả trong cung cấp tín dụng cho nông dân.

    1. Chính sách cho nông dân hay chính sách cho chính ngân hàng?

Khi nhà nước ban hành nhiều chính sách ưu đãi vốn vay cho nông dân thì tưởng như mọi việc đã được giải quyết, chính sách về thủ tục ngày càng đơn giản (việc thế chấp dễ hơn, thay bằng sổ đỏ, chuyển sang tín chấp…), thời hạn cho vay dài hơn (cho vay trung hạn, dài hạn…), lượng vốn vay tăng lên (từ 10 triệu lên 20 triệu), các điều kiện về đối tượng, mục đích vay, cũng cải thiện đáng kể. Tuy nhiên, đi vào thực tế, việc vay vốn của nông dân vẫn gặp nhiều khó khăn, không chỉ đối với người nghèo mà ngay cả trang trại, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ nông thôn cũng thường xuyên phàn nàn về thủ tục và điều kiện vay vốn. Một trong những nguyên nhân nằm ngay trong nội bộ ngân hàng. Ở Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển.“ngân hàng thương mại” chưa thực sự là doanh nghiệp kinh doanh. Nhân viên ngân hàng không được hưởng chính sách thưởng doanh số, ngược lại phải chịu phạt khi gặp rủi ro. Cũng như vậy, chi nhánh ngân hàng chưa được hưởng lợi thỏa đáng từ lợi nhuận kinh doanh. Kết quả là hoạt động của ngân hàng hướng về bảo toàn vốn, tối đa hóa an toàn thay vì tối đa hóa lợi nhuận, tối đa hóa qui mô phục vụ. Xu hướng thích phục vụ khách hàng thành phố, khách hàng lớn là điều tất nhiên. Muốn khắc phục tình trạng này, cần triệt để cải tổ hệ thống tín dụng nông thôn theo 2 hướng:

  • Thương mại hoá ngân hàng thương mại, khuyến khích doanh nghiệp và nhân viên mở rộng doanh số cùng với phòng tránh rủi ro.

  • Tổ chức hệ thống tín dụng của hợp tác xã, lấy phục vụ xã viên làm mục tiêu, đảm bảo lãi xuất đủ bù đắp chi phí và rủi ro trong hoạt động.

    1. Đo lường hiệu quả hoạt động của các chương trình tín dụng nông thôn
Làm sao biết một chương trình tín dụng nông thôn đóng góp như thế nào vào việc tăng thu nhập và giảm nghèo đói? Khó mà trả lời chính xác câu hỏi này vì ít khi thấy rõ người vay sử dụng tiền làm gì. Nhiều nhà nghiên cứu như Jacob Yaron và đồng nghiệp6 đã đưa ra một khuôn khổ mới dựa trên phạm vi phục vụ và khả năng tự phát triển bền vững để xem xét thành quả của các chương trình tín dụng. Theo cách đánh giá này, những ưu tiên tài chính nông thôn nào cung cấp nhiều dịch vụ có hiệu quả cho khách hàng ưu ti ên thì có tác động làm tăng thu nhập và giảm nghèo đói.
Khả năng tự phát triển bền vững được đánh giá bằng chỉ số mức độ phụ thuộc vào trợ cấp. Chỉ số này thể hiện mức phần trăm mà lãi suất cho vay trung bình của cơ quan tín dụng cần phải tăng lên để có thể tự phát triển bền vững nếu không có trợ cấp. Các phương pháp kế toán thông thường không ghi nhận các khoản trợ cấp dành cho các tổ chức tài chính nông thôn; do đó không phản ánh đúng chi phí xã hội để duy trì những đơn vị này. Do trợ cấp được dùng khá phổ biến trong tài chính nông thôn, ghi nhận mức độ phụ thuộc vào trợ cấp có ý nghĩa quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả của tín dụng nông thôn.
Phạm vi phục vụ được đo lường bằng cách kết hợp nhiều chỉ tiêu, chẳng hạn như số lượng khách hàng, giá trị của danh mục cho vay và tỉ lệ tăng trưởng hàng năm, tỉ lệ khách hàng nữ (đặc biệt quan trọng ở những xã hội phân biệt đối xử với phụ nữ), giá trị khoản vay trung bình (làm chỉ tiêu đại diện cho mức thu nhập của khách hàng), v.v…


Hình 1: Đánh giá hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính nông thôn

Tiêu chí đánh giá





Khả năng

tự phát triển bền vững

Phạm vi phục vụ

khách hàng mục tiêu





Chỉ số mức độ phụ thuộc vào trợ cấp

Đo lường các khoản trợ cấp nhận được so với lãi suất thu được

Chỉ số phạm vi phục vụ

Đo lường phạm vi phục vụ khách hàng và chất lượng của các dịch vụ dành cho khách hàng

Ví dụ về trợ cấp:

  • Trợ cấp lãi suất cho các khoản vay ưu đãi

  • Chi phí cơ hội của vốn cổ phần

  • Miễn dự trữ bắt buộc

  • Trang thiết bị miễn phí do chính phủ / nhà tài trợ cung cấp

  • Tỉ lệ thất thoát nợ do chính phủ bù

  • Đào tạo miễn phí cho nhân viên do chính phủ / nhà tài trợ cung cấp

  • Tỉ lệ các khoản vay ngoại tệ do chính phủ nhận

Ví dụ về các chỉ tiêu:

Mức độ thâm nhập thị trường

  • Số lượng và tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của các tài khoản tiết kiệm và cho vay

  • Giá trị và tỉ lệ tăng trưởng hàng năm của nguồn vốn cho vay và tiền gửi tiết kiệm

  • Số lượng chi nhánh và nhân viên

  • Giá trị khoản vay trung bình, và biên độ số tiền vay

  • Tỉ lệ % khách hàng nông thôn

  • Tỉ lệ % khách hàng nữ

Chất lượng dịch vụ

  • Chi phí giao dịch mà khách hàng phải chịu

  • Tính linh hoạt và tính phù hợp của dịch vụ

  • Mạng lưới phân phối


Nguồn: Yaron, Benjamin, & Piprek (1997)


  1. HIỆN TRẠNG TÍN DỤNG NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM

    1. Tổng quan

Trước đổi mới, lĩnh vực tài chính Việt Nam hoàn toàn do nhà nước độc quyền, với các đặc trưng chính là trợ cấp lan tràn, lãi suất thực âm, và cơ cấu lãi suất nghịch đảo (tức là lãi suất tiền gửi cao hơn lãi suất cho vay). Trước năm 1988, Việt Nam chỉ có hệ thống ngân hàng một cấp, với Ngân hàng Nhà nước (NHNN) và hai tổ chức chuyên ngành là Ngân hàng Đầu tư và Phát triển, và Ngân hàng Ngoại thương (Vietcombank). Nhìn chung, Ngân hàng Nhà nước có hai chức năng chính: 1) phân bổ các nguồn vốn của chính phủ cho các đơn vị kinh tế theo kế hoạch trung ương, và 2) chuyển những khoản thặng dư từ các đơn vị kinh tế trở lại ngân sách nhà nước.

Năm 1988, Việt Nam bãi bỏ hệ thống ngân hàng một cấp, và bắt đầu áp dụng hệ thống hai cấp, với Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò như một ngân hàng trung ương. Hai đơn vị trực thuộc NHNN được tách ra thành hai ngân hàng thương mại quốc doanh là Ngân hàng Công Thương và Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam. Những bước phát triển quan trọng nhất ảnh hưởng đến khu vực tài chính nông thôn trong giai đoạn chuyển tiếp từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường là những thay đổi về cơ cấu tài chính chính thức và bán chính thức và cách thức hoạt động của hệ thống ngân hàng. Những thay đổi bao gồm sự sụp đổ của những hợp tác xã tín dụng truyền thống trong giai đoạn 1989-1990, và sự hình thành nhiều loại tổ chức mới nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn.

Về cơ bản, hệ thống tài chính phục vụ nông thôn ở Việt Nam gồm ba mảng chính. Thứ nhất là khu vực chính thức với hai tổ chức thuộc chính phủ là Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, Ngân hàng phục vụ người nghèo, các quỹ tín dụng nhân dân chịu sự giám sát của NHNN, và các ngân hàng cổ phần tư nhân. Thứ hai, khu vực bán chính thức có sự tham gia của các tổ chức quần chúng và các tổ chức phi chính phủ. Thứ ba, khu vực phi chính thức gồm các nguồn tín dụng trong xã hội như từ gia đình, thân nhân, bạn bè và láng giềng, từ những người cho vay lãi và các hội (họ/hụi).
Biểu 1: Các khoản vay của nông hộ chia theo nguồn vay



Nguồn: Điều tra Mức sống Dân cư Việt Nam 1997-1998.


Biểu 2: Lãi vay trung bình hàng tháng của nông hộ chia theo nguồn vay, 1997-1998



Nguồn: Điều tra Mức sống Dân cư Việt Nam 1997-1998.


    1. Cơ cấu thị trường

      1. Khu vực chính thức:

  • Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNN&PTNT) được thành lập năm 1988 sau khi tách ra từ bộ phận tín dụng nông nghiệp của NHNN, thực sự hoạt động vào tháng 12/1990, sau khi luật ngân hàng có hiệu lực kể từ ngày 1/10/1990. NHNN&PTNT tiếp quản mạng lưới chi nhánh của NHNN ở nông thôn. Tính đến cuối năm 2001, NHNN&PTNT có khoảng 2600 chi nhánh nằm rải rác khắp đất nước.

Để tăng phạm vi phục vụ khách hàng ở nông thôn, NHNN&PTNT đã có một số đổi mới như lập các tổ cho vay lưu động, đặt văn phòng giao dịch ở cấp cơ sở. Đến cuối năm 1998, ngoài trụ sở chính ở Hà Nội và hai văn phòng vùng, NHNN&PTNT có chi nhánh ở 61 tỉnh thành, 527 chi nhánh quận huyện, 604 chi nhánh ngân hàng liên xã và 75 tổ cho vay lưu động. (McCarty, 2001). Ngân hàng áp dụng hình thức cho vay theo nhóm cùng chịu trách nhiệm chung. Mỗi nhóm có từ 10 đến 20 người. Các thành viên trong nhóm thỏa thuận cùng chịu trách nhiệm trả nợ. Cán bộ ngân hàng giữ liên hệ mật thiết với trưởng nhóm. Tuy nhiên, không có đơn xin vay chung cả nhóm, mà mỗi đơn xin vay sẽ được giải quyết cá nhân. Tương tự, những người có gửi tiền tiết kiệm cũng có sổ tiết kiệm riêng. Ngoài ra, ngân hàng còn phối hợp với những tổ chức quần chúng để cung cấp các dịch vụ tài chính cho hội viên của những tổ chức quần chúng đó. Những tổ chức quần chúng như Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân đứng ra lập những nhóm được bão lãnh để vay tiền, và có bảo đảm chung là sẽ hoàn trả nợ vay. Nhờ đó, ngân hàng đã nhanh chóng mở rộng đối tượng khách hàng được phục vụ. Ví dụ, chỉ trong thời gian từ 1994 đến 1997, tỉ lệ nông hộ vay được tiền của ngân hàng tăng từ 9% lên đến 40%.

Ban đầu, ngân hàng gần như chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp nhà nước. Nhưng khi các thành phần kinh tế tư nhân chiếm lĩnh hoạt động sản xuất nông nghiệp, ngân hàng đã chuyển sang tập trung cho vay với nông hộ. Tháng 7/1991, ngân hàng chính thức được phép cho nông hộ vay, và chỉ trong vòng sáu tháng ngân hàng đã cho 558.680 hộ vay với tổng số tiền khoảng 405 tỉ đồng. Trong năm 1998, 63% dư nợ cho vay của ngân hàng là dành cho các nông hộ.



Các nông hộ muốn vay cũng phải có tài sản thế chấp (và thường phải có bảo lãnh của chính quyền xã), và chỉ được vay dưới 70% giá trị tài sản thế chấp. Tuy ngân hàng có chức năng cung cấp tín dụng với mọi kỳ hạn, các khoản vay thường là ngắn hạn và trung hạn, và 75% các khoản vay là dưới 12 tháng. Lãi vay thường là 1% / tháng (hoặc 1,5% / tháng đối với vay dài hạn).

: images -> 2006
2006 -> Lúa gạo Việt Nam Giới thiệu
2006 -> Nghiªn cøu triÓn väng quan hÖ kinh tÕ th­¬ng m¹i viÖt nam – trung quèc ViÖn nghiªn cøu th­¬ng m¹i 2000 Lêi nãi ®Çu
2006 -> B¸o c¸o tæng kÕt ®Ò Tµi
2006 -> BÁo cáo nghiên cứu khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản chính của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập afta
2006 -> NGÀnh lúa gạo việt nam nguyễn Ngọc Quế Trần Đình Thao Hà Nội, 5-2004 MỤc lụC
2006 -> Hµ Néi, th¸ng 10 n¨m 2006
2006 -> §inh Xun Tïng Vò träng B×nh TrÇn c ng Th¾ng Hµ NéI, th¸ng 12 N¡M 2003
2006 -> Nhãm nghiªn cøu: Hoµng Thuý b ng (M. Sc) NguyÔn V¨n NghÖ (mba) Lª Hoµng Tïng
2006 -> ¶nh h­ëng cña viÖc Trung Quèc vµo wto vµ mét sè bµi häc cho ViÖt Nam1
2006 -> Bé n ng nghiÖp vµ ph¸t triÓn n ng th n B¸o c¸o tæng quan ngµnh chÌ viÖt Nam


  1   2   3


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương