PHẬt giáo nguyên thủy theravāda nền tảng phật giáO



tải về 1.48 Mb.
trang9/25
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích1.48 Mb.
1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   25

ÂN ĐỨC TĂNG
(SAṂGHAGUṆA)


Ân đức Tăng được đầy đủ trọn vẹn trong chư Thánh Tăng là những bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn. Ân đức Tăng vô cùng vi tế, sâu sắc, rộng lớn vô lượng vô biên mà chư Thánh Thanh Văn mới có đầy đủ trọn vẹn, còn chư phàm Tăng chỉ có được một phần nào, tùy theo khả năng của mỗi Ngài.

Trong kinh Dhajaggasutta [7] , Đức Phật dạy niệm 9 Ân đức Tăng như sau:

Suppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

Ujuppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

Ñāyappaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

Sāmīcippaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

Yadidaṃ cattāri purisayugāni aṭṭhapurisapuggalā esa Bhagavato sāvakasaṃgho. Āhuneyyo, Pāhuneyyo, Dakkhiṇeyyo, Añjalikaraṇīyo, Anuttaraṃ puññak-khettaṃ lokassa”.

Ý NGHĨA 9 ÂN ĐỨC TĂNG

1) Suppaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành nghiêm chỉnh đúng theo lời giáo huấn của Đức Phật.

2) Ujuppaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành trung thực đúng theo pháp hành Trung Đạo, không quanh co lầm lạc.

3) Ñāyappaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành theo pháp hành Bát Chánh Đạo chứng ngộ Niết Bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

4) Sāmīcippaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành giới-định-tuệ đúng đắn xứng đáng để chúng sinh tôn kính lễ bái cúng dường.

Cattāri purisayugāni atthapurisapuggalā: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn có 4 đôi thành 8 bậc Thánh (tính theo tâm Siêu tam giới).

Chư Thánh Thanh Văn có 4 đôi:

Nhập Lưu Thánh Đạo Nhập Lưu Thánh Quả
Nhất Lai Thánh Đạo Nhất Lai Thánh Quả
Bất Lai Thánh Đạo Bất Lai Thánh Quả
Arahán Thánh Đạo Arahán Thánh Quả


Chư Thánh Thanh Văn có 8 bậc Thánh:

4 Thánh Đạo + 4 Thánh Quả

Nhập Lưu Thánh Đạo
Nhất Lai Thánh Đạo
Bất Lai Thánh Đạo
Arahán Thánh Đạo


Nhập Lưu Thánh Quả
Nhất Lai Thánh Quả
Bất Lai Thánh Quả
Arahán Thánh Quả


5) Āhuneyyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ từ phương xa đem đến cúng dường quý Ngài, để mong được quả báu lớn.

6) Pāhuneyyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ dành cho những vị khách quý như quý Ngài.

7) Dakkhiṇeyyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, đem dâng cúng đến quý Ngài, để mong được quả báu tốt lành cho mình và những người thân quyến.

8) Añjalikaraṇīyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng cho chúng sinh chắp tay cung kính lễ bái cúng dường.

9) Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là phước điền cao thượng của chúng sinh không đâu sánh được.

* 9 Ân đức Tăng này chia ra làm 2 phần:

- Ân đức Tăng thứ nhất Suppaṭipanno cho đến Ân đức Tăng thứ tư Sāmīcippaṭipanno gồm có 4 Ân đức Tăng này thuộc về Ân đức nhân đã hành đúng theo Thánh Đạo (ariyamagga) hợp đủ 8 chánh, trở thành bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn có 4 đôi thành 8 bậc thánh.

- Ân đức Tăng thứ năm Āhuneyyo cho đến Ân đức Tăng thứ chín Anuttaraṃ puññak-khettaṃ lokassa gồm có 5 Ân đức Tăng này thuộc về Ân đức quả của 4 Ân đức nhân.

9 Ân đức Tăng này chỉ có chư Thánh Tăng mới có đầy đủ mà thôi, còn chư phàm Tăng là những bậc đang thực hành giới-định-tuệ, nên quý Ngài chưa có đủ 9 Ân đức này.

GIẢNG GIẢI VỀ 9 ÂN ĐỨC TĂNG

1- Ân đức Tăng thứ nhất: Suppaṭipanno

Suppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Xúp-pá-tí păn-nô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Suppaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành nghiêm chỉnh đúng theo lời giáo huấn của Đức Phật.

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn đã thực hành nghiêm chỉnh, đúng đắn hoàn toàn theo lời giáo huấn của Đức Thế Tôn, thực hành không tự làm khổ mình, không làm khổ người, không tự làm khổ mình lẫn người; thực hành đúng theo pháp hành giới - định - tuệ.



Hành giới: Chư Thánh Thanh Văn có đức tin hoàn toàn trong sạch nơi Tam Bảo, tôn trọng các điều giới, các pháp hành Tăng sự mà Đức Phật đã chế định ban hành, nên quý Ngài nghiêm chỉnh thực hành đúng đắn hoàn toàn theo lời giáo huấn của Đức Phật. Dù thấy lỗi rất nhỏ, quý Ngài cũng xem như lỗi rất lớn mà tránh xa, thà phải chịu hy sinh sinh mạng, chứ không để phạm giới.

Như tích chuyện một vị Tỳ khưu trong bộ Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), được tóm lược như sau:

Một bọn cướp gặp một vị Tỳ khưu ở ven rừng, chúng nghĩ rằng đã gặp điều xui xẻo, nên bọn cướp bắt vị Tỳ khưu ấy trói bằng một sợi dây rừng, rồi để nằm tại đó. Chẳng may, một đám lửa rừng cháy lan đến, nếu Ngài vùng dậy để tránh ngọn lửa, thì làm đứt sợi dây rừng còn tươi. Như vậy, Ngài sẽ bị phạm giới Pācittiya, mà Đức Phật đã chế định ban hành đến chư Tỳ khưu.

Ngài nghĩ rằng: “Sự chết là điều chắc chắn, nếu ta thoát chết hôm nay, thì sau này cũng phải chết, nhưng giới không trong sạch. Chẳng thà ta chịu chết với giới trong sạch, chứ không để phạm giới”.

Do nhờ giới trong sạch, Ngài tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc Arahán Thánh Đạo - Arahán Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh Arahán. Khi ấy, ngọn lửa rừng lan đến thiêu cháy Ngài. Ngài tịch diệt Niết Bàn tại nơi ấy.

Nếu trường hợp vị Tỳ khưu nào phạm giới nhẹ, thì nên tìm đến một vị Tỳ khưu khác xin sám hối Āpatti. Đó là cách làm cho giới của mình trở lại trong sạch, để làm nền tảng tiến hành thiền định, tiến hành thiền tuệ.



Hành định: Đó là tiến hành thiền định, chư Thanh Văn đã tiến hành thiền định để chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, các bậc thiền vô sắc, để làm nền tảng cho pháp hành thiền tuệ, hoặc để nhập các bậc thiền hưởng sự an lạc.

Hành tuệ: Đó là tiến hành thiền tuệ, chư Thanh Văn đã tiến hành thiền tuệ dẫn đến chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn trở thành bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Phật, gọi là chư Thánh Tăng.

Nếu hàng Thanh Văn đang thực hành đúng theo lời giáo huấn của Đức Phật, mà chưa chứng đắc Thánh Đạo- Thánh Quả và Niết Bàn, thì còn là hạng phàm Thanh Văn, gọi là chư phàm Tăng.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Supaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

2- Ân đức Tăng thứ nhì: Ujuppaṭipanno

Ujuppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Ú-chúp pá-tí-păn-nô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Ujuppaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành trung thực đúng theo pháp hành Trung Đạo, không quanh co lầm lạc.

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, đã hành trung thực nghĩa là mình đã phạm lỗi, thì không dấu lỗi của mình; không hành lừa dối nghĩa là mình không có đức, không có tài, thì không làm ra vẻ như người có đức, có tài, v.v... mà hành theo pháp hành Trung Đạo nghĩa là không hành tham đắm trong ngũ trần, cũng không hành tự ép xác, hành khổ hạnh.



Pháp hành Trung Đạo đó là pháp hành Bát Chánh Đạo, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới.

Nếu đã chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả rồi, thì trở thành bốn bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Phật, gọi là chư Thánh Tăng.

Nếu chưa chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả nào, thì vẫn còn là hàng phàm Thanh Văn, gọi là chư phàm Tăng.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Ujuppaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.



3- Ân đức Tăng thứ ba: Ñāyappaṭipanno

Ñāyappaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Nha-giáp-pá-tí-păn-nô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Ñāyappaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành theo pháp hành Bát Chánh Đạo chứng ngộ Niết Bàn, giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, đã nhận thức biết rõ rằng: Tam giới “dục giới, sắc giới và vô sắc giới” là ba hầm lửa ngùn ngụt cháy đỏ không ngừng thiêu đốt tất cả chúng sinh. Trong tam giới này không có một nơi nào thực sự được mát mẻ an lạc. Tất cả chúng sinh phải chịu cảnh nóng nảy do 11 thứ lửa: “Lửa tham dục, lửa sân hận, lửa si mê, lửa sinh, lửa già, lửa chết, lửa sầu não, lửa khóc than, lửa khổ thân, lửa khổ tâm, lửa thống khổ cùng cực”, cùng với 1.500 loại phiền não. Chỉ có Niết Bàn là pháp dập tắt được mọi thứ lửa, làm vắng lặng mọi phiền não, giải thoát mọi cảnh khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Pháp hành dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn đó là pháp hành Bát Chánh Đạo. Hành giả tiến hành pháp hành Bát Chánh Đạo hợp đủ 8 chánh, đó là lúc chứng ngộ Niết Bàn, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả, diệt đoạn tuyệt được mọi phiền não, đồng thời dập tắt mọi thứ lửa. Cho nên, chư Thánh Thanh Văn đã coi trọng phận sự chứng ngộ Niết Bàn lên ưu tiên hàng đầu. Dù lửa cháy trên đầu cũng xem thường, không quan tâm, vì họ nghĩ rằng: “Lửa cháy trên đầu chỉ thiêu đốt một kiếp hiện tại, còn các thứ lửa tham dục, lửa sân hận, lửa si mê,... không chỉ thiêu đốt, làm nóng nảy trong một kiếp hiện tại, mà còn thiêu đốt làm nóng nảy nhiều kiếp trong vị lai vô cùng, vô tận”. Cho nên, chư Thánh Tăng đã đặt ưu tiên hàng đầu tiến hành pháp hành Bát Chánh Đạo dẫn đến chứng ngộ Niết Bàn là trước hết.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Ñāyappaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.



4- Ân đức Tăng thứ tư: Sāmīcippaṭipanno

Sāmīcippaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Xa-mi-chíp-pá-tí-păn-nô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Sāmīcippaṭipanno: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc đã hành giới-định-tuệ đúng đắn xứng đáng để chúng sinh tôn kính lễ bái cúng dường.

Cattāri purisayugāni atthapurisapuggalā: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn có 4 đôi thành 8 bậc Thánh (tính theo tâm Siêu tam giới).

Chư Thánh Thanh Văn có 4 đôi:

Nhập Lưu Thánh Đạo Nhập Lưu Thánh Quả
Nhất Lai Thánh Đạo Nhất Lai Thánh Quả
Bất Lai Thánh Đạo Bất Lai Thánh Quả
Arahán Thánh Đạo Arahán Thánh Quả


Chư Thánh Thanh Văn có 8 bậc Thánh:

4 Thánh Đạo + 4 Thánh Quả

Nhập Lưu Thánh Đạo
Nhất Lai Thánh Đạo
Bất Lai Thánh Đạo
Arahán Thánh Đạo
Nhập Lưu Thánh Quả
Nhất Lai Thánh Quả
Bất Lai Thánh Quả
Arahán Thánh Quả

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, đã hành pháp hành Bát Chánh Đạo, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc 4 Thánh Đạo - 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, tham ái, ác pháp, trở thành bậc Thánh Arahán, là bậc xứng đáng được chúng sinh lễ bái cúng dường.

Những thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, cung kính lễ bái cúng dường bốn thứ vật dụng đến chư Thánh Tăng, để cầu mong được sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài. Để đáp ứng lại lòng mong ước của thí chủ cho được thành tựu như ý. Chư Tăng phải là bậc Thánh Tăng có giới đức hoàn toàn trong sạch, có định đức hoàn toàn, có tuệ đức hoàn toàn….

* Như tích Ngài Đại đức Ayyamitta [8] hành đạo trong động Kassaka gần một xóm nhà. Hằng ngày, Ngài đi khất thực trong xóm nhà ấy, có một gia đình nghèo khổ, chỉ có hai mẹ con có đức tin trong sạch. Hai mẹ con hằng ngày hộ độ để bát cúng dường đến Ngài và xem Ngài như là người thân trong gia đình.

Một hôm, người mẹ vào rừng, đi làm sớm, trước khi đi bà căn dặn con gái rằng:

- Này con gái yêu quý! Gạo ngon, sữa bò, bơ, đường thốt nốt,... mẹ để ở kia. Khi sư huynh con đến khất thực, con hãy lấy những thứ đó nấu để bát cho sư huynh, phần còn lại, con ăn nhé!

Người con gái hỏi:



- Thưa mẹ! Còn mẹ ăn gì?

Bà mẹ trả lời:



- Con à! Mẹ đã ăn cơm nguội ngày hôm qua còn lại với nước canh chua rồi.

Người con gái hỏi tiếp:



- Thưa mẹ! Còn buổi trưa mẹ ăn gì?

Bà mẹ bảo đứa con gái:



- Buổi trưa, con nấu cháo hạt tấm trộn với rau, để mẹ về ăn nghe!

Trong khi hai mẹ con bà thí chủ đang nói chuyện với nhau, khi ấy, Ngài Đại đức Ayyamitta đi khất thực đứng nghe được câu chuyện giữa hai mẹ con.

Ngài tự dạy mình rằng:

Này Ayyamitta, hãy lắng nghe đây! Bà thí chủ ăn cơm nguội còn lại với nước canh chua; trưa nay, bà ăn cháo hạt tấm với rau; còn những thứ gạo ngon, sữa bò, đường thốt nốt,... bà lại để giành nấu để bát cúng dường cho ngươi. Làm như vậy, không phải bà mong được những thứ của cải gì nơi ngươi, mà thật ra, bà mong thành tựu được quả báu an lạc nơi cõi người, cõi trời và Niết Bàn. Những quả báu mà bà mong ước, ngươi có thể đáp ứng được hay không? Vậy, nếu ngươi chưa diệt đoạn tuyệt được phiền não trầm luân, thì người không xứng đáng thọ nhận vật thực của bà thí chủ ấy!”

Sau khi tự dạy mình xong, Ngài không đi khất thực, mà trở về động cất bát, ngồi phát nguyện rằng:

Arahattam apāpuṇitvā na nikkhamissāmi”

Chưa chứng đắc đến Arahán Thánh Đạo - Arahán Thánh Quả và Niết Bàn, ta sẽ không ra khỏi nơi này.”

Do nhờ giới đức trong sạch làm nền tảng, Ngài tiến hành thiền tuệ, một thời gian không lâu đã chứng đắc đến Arahán Thánh Đạo - Arahán Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não trầm luân, mọi tham ái, mọi ác pháp trở thành bậc Thánh Arahán cao thượng.

Sau khi chứng đắc xong, thời gian vẫn còn sớm, nên Ngài đi khất thực. Ngài mặc y, mang bát vào xóm khất thực, đứa em gái chờ để bát cúng dường đến Ngài, nhìn thấy gương mặt của Ngài trong sáng thật đáng tôn kính lễ bái cúng dường.

Khi mẹ cô gái vừa về đến nhà, cô gái liền chạy ra đón mẹ và khoe rằng:



- Thưa mẹ! Hôm nay sư huynh có gương mặt khác thường hơn mọi ngày, gương mặt thật trong sáng lạ thường, thật xứng đáng tôn kính lễ bái cúng dường. Mẹ à!

Nghe vậy, bà thí chủ cảm thấy vô cùng sung sướng, hoan hỷ bảo rằng:



- Hôm nay, vị Đại đức, con trai quý báu của ta chắc đã hoàn thành xong phận sự của Tỳ khưu rồi thì phải!

Qua tích này, khiến phải suy tư rằng:

Thật ra, hàng phàm nhân không thể nào biết được tâm của bậc Thánh Nhân, song về thân của bậc Thánh Nhân được biểu hiện trên gương mặt trong sáng lạ thường, hành vi cử chỉ đi, đứng, nằm, ngồi, nói năng,... trang nghiêm khác thường. Do đó, phàm nhân có trí tuệ nhận thức tinh tế cũng có thể biết được đó là những bậc đáng được tôn kính.

Tương tự như trường hợp Ngài Đại đức Sāriputta. Khi còn là vị Đạo sĩ Upatissa, đệ tử của vị Đạo sư Sañcaya. Nhìn thấy Ngài Đại đức Assaji đang đi vào kinh thành Rājagaha để khất thực, với dáng đi từng bước nghiêm trang, đôi mắt nhìn xuống, vị Đạo sĩ Upatissa phát sinh đức tin trong sạch nơi Ngài Đại đức Assaji, bèn thầm nghĩ rằng: Vị tỳ khưu này chắc là bậc Thánh Arahán trong đời này. Ta nên gần gũi thân cận với Ngài, rồi thỉnh Ngài thuyết pháp tế độ ta.

Sau khi Ngài Đại đức Assaji độ vật thực xong, đạo sĩ Upatissa đến hầu đảnh lễ Ngài Đại đức, kính xin Ngài thuyết pháp. Ngài Đại đức Assaji thuyết một bài kệ gồm có 4 câu. Vị Đạo sĩ Upatissa vừa mới nghe 2 câu đầu liền chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu.

Như vậy, chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, là những bậc xứng đáng cho chúng sinh tôn kính lễ bái cúng dường.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Sāmīcippaṭipanno Bhagavato sāvakasaṃgho.

5- Ân đức Tăng thứ năm: Āhuneyyo

Āhuneyyo Bhagavato sāvakasaṃgho

(Cách đọc: A-hú-nây-dô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Āhuneyyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ từ phương xa đem đến cúng dường quý Ngài, để mong được quả báu lớn.

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, xứng đáng thọ nhận những vật dụng mà thí chủ từ phương xa đem đến cúng dường quý Ngài, để mong được những quả báu sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lớn lao và lâu dài.

* Như tích chuyện thiên nam trong cõi Tam Thập Tam Thiên:

Trong cõi người, những người Phật tử đã tạo mọi thiện pháp trong thời kỳ Phật giáo, sau khi mãn kiếp, do thiện nghiệp ấy cho quả tái sinh lên các cõi trời dục giới. Những thiên nam, thiên nữ có nhiều oai lực hơn các chư thiên đã tạo thiện pháp ngoài Phật giáo.

Như vị thiên nam Indaka sinh trong cõi trời Tam Thập Tam Thiên. Tiền kiếp vị thiên nam Indaka này sinh trong cõi người, trong thời kỳ Phật giáo, đã từng tạo nhiều thiện pháp như giữ giới, bố thí cúng dường đến Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng Tam Bảo,... Sau khi mãn kiếp người, do thiện nghiệp ấy cho quả tái sinh lên cõi trời Tam Thập Tam Thiên, có nhiều oai lực hơn chư thiên khác. Mỗi khi đến chầu Đức vua Sakka, vị thiên nam Indaka phát ra hào quang sáng chói, lấn áp bao trùm hào quang của các chư thiên khác, kể cả Đức vua trời Sakka. Cho nên, Đức vua cảm thấy tủi phận, vì mình là Đức vua mà hào quang lại thua kém chư thiên đã tạo phước thiện trong Phật giáo.

* Tích Đức vua trời Sakka

Một hôm, Đức vua trời Sakka dùng thiên nhãn thấy Ngài Đại đức Mahākassapa nhập diệt thọ tưởng suốt 7 ngày, đến ngày thứ 7 mới xả, Đức vua trời biết Ngài có tâm bi tế độ những người nghèo khổ nên chờ ngày Ngài xả diệt thọ tưởng; Đức vua trời Sakka truyền gọi bà Hoàng hậu Sujātā, cả hai cùng hiện xuống cõi người, hóa thành người già nghèo khổ, sống trong một cái chòi lá bên ven đường, đồ ăn đã sửa soạn sẵn. Đức vua trời hóa thành một cụ già đáng thương, đứng trông chờ Ngài Đại đức Mahākassapa đi khất thực tế độ chúng sinh nghèo khổ.

Vừa thấy Ngài Đại đức Mahākassapa từ xa đi đến, Đức vua trời bèn gọi Hoàng hậu Sujātā đã cải trang thành một bà già:

- Bà ơi! Ngài Đại đức đang đến trước cổng chòi mình, bà có gì đem ra để bát cúng dường đến Ngài không?

Bà Hoàng hậu bèn tâu lại với Đức vua rằng:



- Ông à! Ông kính thỉnh Ngài dừng lại để tế độ chúng ta.

Ngài đứng lại. Cả hai cung kính để bát cúng dường Ngài. Vật thực mà Ngài vừa thọ nhận phảng phất hương vị lạ thường. Ngài quán xét biết hai vợ chồng già này chính là Đức vua trời Sakka và Hoàng hậu Sujātā liền quở trách rằng:



- Lão Tăng tế độ người nghèo khổ, tại sao Đức vua và Hoàng hậu biến hóa làm người già giành của người nghèo như vậy?

Đức vua Sakka thưa rằng:



- Kính bạch Ngài Đại đức, kính xin Ngài có tâm bi tế độ chúng con. Tiền kiếp của chúng con làm mọi phước thiện, trong thời kỳ không có Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng xuất hiện trên thế gian. Chúng con cảm thấy tủi phận nghèo nàn, vì quả báu, oai lực không sánh được với chư thiên, mà tiền kiếp đã từng làm phước cúng dường đến Đức Phật, Đức Pháp, Đức Tăng.

Đức vua Sakka vô cùng hoan hỷ tự thốt lên rằng:

Aho! Dānaṃ paramadānaṃ Kassape suppatiṭṭhitaṃ” [9]

Ô! Được làm phước thiện bố thí đến Ngài Đại đức Mahākassapa, thật là phước thiện bố thí vô cùng cao thượng!”.

Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc có giới đức, có định đức, có tuệ đức, có giải thoát đức, có giải thoát tri kiến đức đầy đủ, xứng đáng thọ nhận những vật dụng mà thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, từ phương xa đem đến làm phước thiện bố thí. Sự bố thí cúng dường đó, dù ít dù nhiều, song quả báu của phước thiện lớn lao vô lượng không sao kể xiết.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Āhuneyyo Bhagavato sāvakasaṃgho.



6- Ân đức Tăng thứ sáu: Pāhuneyyo

Pāhuneyyo Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Pa-hú-nây-giô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Pāhuneyyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ dành cho những vị khách quý như quý Ngài.

Chư Thánh Tăng là bậc Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ dành cho những vị khách quý.



Khách quý có hai hạng:

- Khách quý hạng thường đó là bà con thân quyến, bạn bè, những người ân nhân,... của mình trong mỗi kiếp.

- Khách quý hạng đặc biệt đó là chư Thánh Tăng, chư phàm Tăng thật hiếm có trong thế gian, bởi vì Đức Phật Chánh Đẳng Giác xuất hiện trên thế gian là một điều khó được, khi nào có Đức Phật Chánh Đẳng Giác trên thế gian, thì khi ấy mới có chư Thánh Tăng, chư phàm Tăng. Thật vậy, có khi 1 a-tăng-kỳ kiếp trái đất trải qua 4 thời kỳ thành-trụ-hoại-không, mà không có một Đức Phật nào xuất hiện trên thế gian, thì cũng không có chư Thánh Tăng hay phàm Tăng.

Sự làm phước đến khách hạng thường sẽ được quả báu trong kiếp hiện tại và trong kiếp vị lai có giới hạn.

Sự làm phước đến khách hạng đặc biệt như chư Thánh Tăng, chư phàm Tăng sẽ được quả báu lớn lao trong kiếp hiện tại và trong vô lượng kiếp vị lai, không có giới hạn, lại còn làm duyên lành cho sự giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong tam giới; bởi vì, chư Thánh Tăng là phước điền cao thượng của chúng sinh. Vì vậy, chư Thánh Tăng là hạng khách quý nhất. Người thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, nên tôn kính đón rước, lễ bái cúng dường đến chư Thánh Tăng, chư phàm Tăng sẽ được nhiều quả báu quý giá, đáng hài lòng hoan hỷ.

* Trong bài kinh Kusalasutta [10] Đức Phật dạy:



Chư Tỳ khưu Tăng có giới đến gia đình, thì những người trong gia đình sẽ được 5 quả báu lớn lao như:

- Tỳ khưu có giới đến gia đình, những người trong gia đình nhìn thấy và phát sinh thiện tâm trong sạch, những người trong gia đình ấy, hành thiện pháp để được tái sinh lên cõi trời dục giới.

- Khi đón tiếp cung kính lễ bái, thỉnh ngồi trên những chỗ cao quý; những người trong gia đình ấy hành thiện pháp, để tái sinh vào trong gia đình thuộc dòng dõi cao quý.

- Ngồi chỗ cao quý, tiếp đãi mọi thứ cần thiết như dâng cơm nước, thuốc trị bệnh,...với thiện tâm trong sạch, hoan hỷ, không có tâm keo kiệt bỏn xẻn,... những người trong gia đình ấy hành thiện pháp để có được quả báu quyền cao chức trọng.

- Khi làm phước bố thí tùy theo khả năng của mình, những người trong gia đình ấy hành thiện pháp, để có được nhiều của cải tài sản, giàu sang phú quý.

- Khi được lắng nghe chánh pháp, vấn đạo,... những người trong gia đình ấy hành thiện pháp, để được phát triển trí tuệ, thấy rõ, biết rõ thực tánh của các pháp...

Này chư Tỳ khưu, khi Tỳ khưu có giới đến gia đình, thì những người trong gia đình sẽ được phát triển và tăng trưởng 5 chi pháp hành thiện này.

Chư Thánh Tăng là chư khách quý đặc biệt nhất. Trong vòng tử sinh luân hồi, mỗi chúng sinh có cơ hội tốt được chiêm ngưỡng, gần gũi, thân cận với chư thánh tăng không phải là điều dễ dàng! Thật ra những người đã từng gieo nhiều phước thiện được tích luỹ từ nhiều đời nhiều kiếp trong quá khứ; nay kiếp hiện tại này mới có được cơ hội tốt, có duyên lành gặp được chư thánh Tăng là chư khách quý đặc biệt cao thượng; những người ấy có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo đón tiếp, tôn kính, lễ bái cúng dường dù ít hay nhiều, chắc chắn sẽ có được quả báu lớn lao, đáng hài lòng cả trong kiếp hiện tại lẫn vô lượng kiếp vị lai, và còn tạo được duyên lành để giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong ba giới bốn loài.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Pāhuneyyo Bhagavato sāvakasaṃgho.

7- Ân đức Tăng thứ bảy: Dakkhiṇeyyo

Dakkhiṇeyyo Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Đắc-khí-nây-giô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Dakkhiṇeyyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, đem dâng cúng đến quý Ngài, để mong được quả báu tốt lành cho mình và những người thân quyến.

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng mà thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nơi thiện nghiệp và quả của thiện nghiệp, họ tin chắc rằng:

Khi làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tăng, họ sẽ được quả báu tốt lành, lớn lao đến cho mình trong kiếp hiện tại và vô lượng kiếp vị lai; hơn nữa, họ còn có thể hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho ông bà, cha mẹ, bà con quyến thuộc hay những ân nhân đã quá vãng của mình. Khi những chúng sinh ấy hay biết mà “sādhu” hoan hỷ phần phước thiện hồi hướng ấy. Nếu chúng sinh ấy đang ở trong cảnh khổ, thì chắc chắn được thoát khỏi cảnh khổ, liền tái sinh trong cõi thiện giới, cõi người hoặc cõi trời dục giới. Nếu chúng sinh đang ở trong cảnh an lạc, thì sự an lạc càng tăng trưởng gấp bội lần. Và họ còn có thể kính biếu phần phước thiện đó đến cho ông bà, cha mẹ, bà con thân quyến còn sống trên đời, những người ấy “sādhu” hoan hỷ phần phước thiện ấy cũng được phước hoan hỷ (pattānumodanā) và quả báu của phước thiện hoan hỷ này cũng không kém phần quan trọng.

Muốn thành tựu được những quả báu như vậy, thì thí chủ làm phước thiện bố thí cúng dường hướng đến chư Thánh Tăng; bởi vì, chư Thánh Tăng có Ân đức Dakkhiṇeyyo.

* Như tích Bố thí cơm cháy.

Trong bộ Vimānavatthu, tích Ācāmadāyikāvimāna được tóm lược như sau:

Một bà già nghèo khổ ăn mày, sống nhờ đằng sau hiên nhà người khác, người ta nhìn thấy bà đáng thương, nên thường cho cơm, cháo, miếng cơm cháy… để bà ăn sống qua ngày.

Một hôm, Ngài Đại đức Mahākassapa vừa xả diệt thọ tưởng, rồi quán xét nên đi khất thực để tế độ người nào. Bằng tuệ nhãn, Ngài nhìn thấy một bà già nghèo khổ, gần chết; nếu bà chết, thì có thể đọa địa ngục. Với tâm bi tế độ bà tránh khỏi cõi địa ngục, do nhờ phước thiện bố thí miếng cơm cháy, bà sẽ tái sinh lên cõi trời Hóa Lạc Thiên.

Quán xét thấy như vậy, buổi sáng hôm ấy, Ngài mặc y mang bát đi đến chỗ ở của bà. Trong khi đó, Vua trời Sakka biến hóa thành người già đem vật thực đến để bát dâng cho Ngài, Ngài biết người già đó là vua trời Sakka, nên bảo rằng:

- Này Đức vua trời, ông không nên giành phước báu của người nghèo khổ.

Ngài không chịu mở nắp bát, vẫn đứng yên trước bà già nghèo khổ kia. Bà nghĩ rằng: “Ngài Đại đức là bậc có giới đức lớn, được phần đông tôn kính, phận ta nghèo khổ không có gì quý giá để làm phước thiện bố thí đến Ngài, ta chỉ có nước cơm và miếng cơm cháy không ngon lành gì cả. Vả lại, còn đựng trong một đồ dùng không sạch sẽ, ta nào dám làm phước bố thí để bát đến Ngài được” Nên bà bạch rằng:



- Kính thỉnh Ngài đi nơi khác, bạch Ngài.

Ngài vẫn đứng yên không đi nơi khác, những người khác đem vật thực đến để bát dâng cúng, Ngài vẫn không mở nắp bát để nhận. Bà già nghĩ rằng: “Chắc chắn Ngài Đại đức đứng đây để tế độ ta”. Bà phát sinh đức tin trong sạch muốn làm phước thiện bố thí. Bà đem miếng cơm cháy đến, Ngài liền mở nắp bát, bà để vào trong bát cúng dường Ngài một cách tôn kính.

Ngài Đại đức tỏ vẻ muốn thọ thực, để cho bà thấy, càng phát sinh đức tin trong sạch, hoan hỷ trong việc phước thiện bố thí của bà. Mọi người hiểu ý, trải chỗ ngồi, Ngài ngồi thọ thực miếng cơm cháy ấy. Uống nước xong, Ngài thuyết pháp, làm cho bà già hoan hỷ trong phước thiện bố thí của mình, và cho bà biết được rằng: Bà đã từng là thân mẫu của Ngài trong tiền kiếp. Bà càng có đức tin trong sạch nơi Ngài Đại đức, và vô cùng hoan hỷ phước thiện bố thí đã làm. Về sau, bà chết, do năng lực phước thiện bố thí cho quả, được tái sinh làm thiên nam cõi Hóa Lạc Thiên (cõi thứ 5 trong 6 cõi trời dục giới) có nhiều oai lực, hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời ấy.

* Tích Sāriputtattheramātupeta [11] : Ngạ quỷ thân mẫu của Ngài Đại đức Sāriputta được tóm lược như sau:

Nữ ngạ quỷ tiền kiếp đã từng là thân mẫu của Ngài Đại đức Sāriputta kiếp thứ 5 trong quá khứ, kể từ kiếp hiện tại.

Tiền kiếp của nữ ngạ quỷ là vợ của ông Bàlamôn giàu có nhiều của cải. Ông Bàlamôn có đức tin trong sạch, có tác ý thiện tâm, thường làm phước thiện bố thí cúng dường vật thực, đồ uống, y phục… đến Samôn, Bàlamôn; bố thí, phân phát đến những người nghèo khổ, người qua đường…

Một hôm, ông Bàlamôn có công việc phải đi nơi khác, ông dạy bảo vợ ở nhà thay ông gìn giữ phong tục tập quán, lo công việc làm phước thiện bố thí cúng dường đến Samôn, Bàlamôn, phân phát vật thực, đồ dùng đến những người nghèo khổ đói khát…. Người vợ ở nhà không làm theo sự dạy bảo của chồng. Hễ có ai đến nương nhờ, bà ta buông lời mắng nhiếc, ăn phẩn, uống nước tiểu, liếm máu mủ, nước miếng…

Sau khi bà ta chết, do ác nghiệp ấy cho quả tái sinh vào hàng ngạ quỷ đói khát, ăn uống đồ dơ bẩn, ăn phẩn, uống nước tiểu, mủ, nước miếng… chịu bao nỗi khổ cực đói khát, lạnh lẽo do quả của ác nghiệp của mình đã tạo. Nữ ngạ quỷ nhớ lại tiền kiếp đã từng là thân mẫu của Ngài Đại đức Sāriputta, muốn đến nương nhờ Ngài, chư thiên giữ cổng ngăn cản không cho nữ ngạ quỷ vào. Nữ ngạ quỷ thưa với vị chư thiên rằng:



- Thưa chư thiên, tiền kiếp tôi đã từng là thân mẫu của Ngài Đại đức Sāriputta, xin chư thiên cho tôi được vào thăm Ngài.

Nữ ngạ quỷ được vào đứng khép nép, Ngài Đại đức Sāriputta nhìn thấy nữ ngạ quỷ, với tâm bi mẫn bèn hỏi:



- Này ngạ quỷ! Thân trần truồng, hình dáng đáng thương hại, ốm yếu da bọc xương, thân mình run rẩy. Ngươi là ai, lão Tăng tế độ ngươi thế nào?

Nghe Ngài hỏi, nữ ngạ quỷ thưa rằng:



- Kính bạch Ngài Đại đức, tiền kiếp của con đã từng là thân mẫu của Ngài, do nghiệp ác cho quả tái sinh làm ngạ quỷ chịu cảnh đói khát, đành phải ăn uống những đồ dơ như nước miếng, nước mũi, đàm người ta nhổ bỏ, uống nước vàng chảy ra từ xác chết, ăn uống đồ dơ của đàn bà, uống máu mủ của đàn ông bị chặt tay chân, uống máu mủ các loài động vật, sống không có nơi nương tựa, trong các nghĩa địa, bãi tha ma.

Kính bạch Ngài, xin Ngài làm phước thiện bố thí, rồi hồi hướng phần phước thiện ấy đến cho con. Nhờ phước thiện ấy, may ra con mới thoát khỏi cảnh khổ ngạ quỷ như thế này.

Ngài Đại đức Sāriputta lắng nghe lời nữ ngạ quỷ đã từng là thân mẫu trong tiền kiếp, phát sinh tâm bi mẫn, tìm cách cứu khổ nữ ngạ quỷ, Ngài bàn tính với Ngài Đại đức Mahāmoggallāna, Ngài Đại đức Anuruddha và Ngài Đại đức Mahākappina. Ngài Đại đức Mahāmoggallāna đi khất thực vào cung điện gặp Đức vua Bimbisāra. Đức vua thỉnh mời, yêu cầu Ngài cần những thứ vật dụng nào để Đức vua dâng cúng. Nhân dịp ấy, Ngài Đại đức Mahāmoggallāna thưa cho Đức vua biết chuyện nữ ngạ quỷ đã từng là thân mẫu của Ngài Đại đức Sāriputta, sống trong cảnh đói khổ không có nơi nương nhờ.

Nghe vậy, Đức vua truyền lệnh xây cất 4 cái cốc chỗ ở của chư Tỳ khưu Tăng. Khi xây cất xong, Đức vua làm lễ dâng đặc biệt đến Ngài Đại đức Sāriputta 4 cái cốc ấy.

Một lần nữa, Ngài Đại đức Sāriputta làm lễ dâng những cốc này đến chư Tỳ khưu Tăng từ bốn phương, có Đức Phật chủ trì, xin hồi hướng phần phước thiện này đến cho nữ ngạ quỷ đã từng là thân mẫu trong tiền kiếp. Nữ ngạ quỷ hoan hỷ phần phước thiện bố thí mà Ngài Đại đức Sāriputta hồi hướng. Ngay sau khi hoan hỷ phần phước thiện bố thí ấy, liền thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, tái sinh lên làm thiên nữ có hào quang sáng ngời, có thân hình xinh đẹp, y phục lộng lẫy, có lâu đài nguy nga tráng lệ, có đầy đủ của cải của chư thiên, hưởng sự an lạc cao quý trong cõi trời.

Hôm sau, vị thiên nữ ấy hiện xuống đảnh lễ Ngài Đại đức Mahāmoggallāna, Ngài hỏi thiên nữ rằng:

- Này thiên nữ, ngươi có sắc đẹp tuyệt trần, có hào quang sáng chói khắp mọi nơi, như vầng trăng sáng. Do phước thiện gì mà ngươi được sanh trong lâu đài nguy nga tráng lệ, có đầy đủ mọi thứ trong cõi trời, đáng hài lòng như vậy?

Này thiên nữ, ngươi có nhiều oai lực đặc biệt, ngươi tạo phước thiện gì, mà nay có được những quả báu đáng hài lòng như vậy?

Vị thiên nữ bạch với Ngài Đại đức Mahāmoggallāna rằng:



- Kính bạch Ngài Đại đức Mahāmoggallāna, trong tiền kiếp con từng là thân mẫu của Ngài Đại đức Sāriputta, do ác nghiệp cho quả tái sinh làm nữ ngạ quỷ chịu cảnh khổ đói khát đành phải ăn uống đồ dơ như máu, mủ…. Vừa qua, con đã đến hầu Ngài Đại đức Sāriputta, cầu xin Ngài có lòng bi mẫn cứu khổ con, Ngài đã làm phước thiện bố thí, xong hồi hướng đến cho con; con đã hoan hỷ phần phước thiện ấy, nên con thoát khỏi kiếp ngạ quỷ, được tái sinh làm thiên nữ có được tất cả như Ngài đã thấy.

Kính bạch Ngài Đại đức, con hiện xuống đây để đảnh lễ dưới chân Ngài và Ngài Đại đức Sāriputta là bậc Thánh thiện trí, có tâm bi mẫn cứu khổ chúng sinh trong đời.

Những tích như trên có rất nhiều trong Kinh Tạng và trong bộ Peṭavatthu, bộ Vimānavatthu.

Như vậy, chính mình không có cơ hội làm phước thiện, nhưng tâm hoan hỷ với phần phước của người khác, thì cũng được quả báu không kém, như tích Vihāravimāna [12] được tóm lược như sau:

* Tích Vihāravimāna:

Ngài Đại đức Anuruddha ngự lên cung trời Tam Thập Tam Thiên nhìn thấy một thiên nữ xinh đẹp có hào quang sáng ngời chiếu tỏa khắp mọi hướng, có một lâu đài nguy nga tráng lệ... Ngài muốn biết do thiện nghiệp nào mà vị thiên nữ này có được quả báu đáng hài lòng như vậy.

Vị thiên nữ bạch cho Ngài biết, tiền kiếp của cô là người bạn thân của bà đại thí chủ Visākhā trong kinh thành Sāvatthi. Bà Visākhā cho người xây cất một ngôi chùa Pubbārama, sau đó, làm lễ kính dâng ngôi chùa ấy đến chư Tỳ khưu tăng có Đức Phật chủ trì. Cô đã tham dự buổi lễ đó, và rất hoan hỷ phước thiện đó của bạn mình, do tâm hoan hỷ phần phước thiện bố thí cúng dường ấy, mà sau khi cô chết, do phước thiện hoan hỷ ấy cho quả tái sinh lên cõi trời Tam Thập Tam Thiên, trở thành một thiên nữ có những quả báu như vậy.

Chư Thánh Tăng là phước điền cao thượng của chúng sinh. Quý Ngài xứng đáng thọ nhận những thứ vật dụng của thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nơi thiện nghiệp và quả của thiện nghiệp, mong được quả báu tốt lành đến cho mình và những người thân quyến của mình.

Do đó, Ân đức Tăng này được gọi là Dakkhiṇeyyo Bhagavato sāvakasaṃgho.

8- Ân đức Tăng thứ tám: Añjalikaraṇīyo

Añjalikaraṇīyo Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Ánh-chá-lí-cá-rá-ni-giô phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Añjalikaraṇiyo: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là những bậc xứng đáng cho chúng sinh chắp tay cung kính lễ bái cúng dường.

Chư Thánh Tăng là bậc Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, xứng đáng cho chúng sinh chắp tay lễ bái cúng dường, để cầu mong được sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài trong kiếp hiện tại và vô lượng kiếp vị lai.

Chư Thánh Tăng là những bậc có giới đức hoàn toàn trong sạch, có định đức, tuệ đức, giải thoát đức, giải thoát tri kiến đức đầy đủ hoàn toàn, đã diệt đoạn tuyệt được mọi phiền não; nên thân, khẩu, ý của quý Ngài hoàn toàn trong sạch, không còn bị ô nhiễm bởi phiền não. Cho nên, chư Thánh Tăng xứng đáng cho tất cả chúng sinh: nhân loại, chư thiên, phạm thiên tôn kính, chắp tay lễ bái cúng dường.

* Tích Vua trời Sakka (Đế Thích) đảnh lễ chư Tăng trong kinh Saṃghavandanāsutta [13] , được tóm lược như sau:



- Này chư Tỳ khưu, khi Đức vua trời Sakka cõi Tam Thập Tam Thiên ngự xuống từ lâu đài Vejayanta, đảnh lễ chư Tỳ khưu Tăng.

Này chư Tỳ khưu, khi ấy Thiên tử Mātali, người đánh xe của Đức vua Sakka tâu rằng:

- Muôn tâu Đức Thiên Vương, loài người sinh từ nơi ô trược, có sắc thân ô trược, thường đói khát nghèo hèn, đáng lẽ nên cung kính Đức Thiên Vương. Vậy, vì sao Ngài lại đảnh lễ chư Tỳ khưu ấy. Xin Ngài giảng giải cho hạ thần hiểu rõ phạm hạnh của chư Tỳ khưu Tăng ấy như thế nào?

Đức vua trời Sakka giảng giải cho Mātali hiểu rõ rằng:



- Này Mātali, Trẫm thành kính đảnh lễ chư Tỳ khưu Tăng ấy, bởi vì, quý Ngài sống trong rừng, không có nhà, không cất giữ lúa gạo trong kho. Quý Ngài sống bằng hạnh đi khất thực, thọ dụng những vật thực đã chín và độ trước giờ ngọ, quý Ngài là bậc thiện trí, thuyết pháp chân thật đem lại sự lợi ích cho chúng sinh, quý Ngài sống nơi thanh tịnh với đời sống phạm hạnh cao thượng.

Này Mātali, nhóm chư thiên có oan trái với nhóm thiên Asura, và ngược lại nhóm thiên Asura cũng có oan trái với nhóm chư thiên, nhân loại có oan trái lẫn nhau; còn chư Tỳ khưu Tăng sống không oan trái, không thù hận. Chư thiên, nhân loại còn chấp thủ, riêng chư Thánh Tăng không còn chấp thủ.

Này Mātali, vì vậy, Trẫm cung kính đảnh lễ chư Tỳ khưu Tăng ấy.

Khi Mātali nghe xong lời giảng giải của Đức vua Sakka bèn tâu rằng:



- Muôn tâu Đức Thiên Vương, Ngài cung kính lễ bái đến chư Tỳ khưu Tăng nào, thì kẻ hạ thần cũng cung kính lễ bái đến chư Tỳ khưu Tăng ấy.

Đức vua trời Sakka cao cả nhất trong cõi Tam Thập Tam Thiên giảng dạy xong, cung kính đảnh lễ chư Tỳ khưu Tăng rồi lên xe ngự đi.

Chư Thánh Tăng là những bậc xứng đáng cho chư thiên, phạm thiên, nhân loại cung kính lễ bái cúng dường, và chư phàm Tăng là những bậc đang thực hành giới-định-tuệ, duy trì chánh pháp của Đức Thế Tôn cũng xứng đáng được cung kính lễ bái cúng dường.

Những chúng sinh có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, thường lễ bái cúng dường đến bậc có giới đức thanh tịnh sẽ được 4 pháp lành: sống lâu, sắc đẹp, an lạc, khỏe mạnh.

Như Đức Phật dạy:

Abhivādānasīlissa,


Niccaṃ vuḍḍhāpacāyino.
Cattāro dhammā vaḍḍhanti,
Āyu vaṇṇo sukhaṃ balaṃ
[14]

Đối với người thường lễ bái cúng dường,
Tỏ lòng tôn kính đến bậc Trưởng Lão,
Người ấy thường tăng trưởng bốn pháp lành,
Sống lâu, sắc đẹp, an lạc, khỏe mạnh.

Hoặc chúng sinh có đức tin nơi Tam Bảo, hết lòng thành kính lễ bái cúng dường đến Tam Bảo: Đức Phật Bảo, Đức Pháp Bảo, Đức Tăng Bảo, thì sẽ được 5 quả báu tốt lành là:



Āyu: Sống lâu trường thọ.
Vaṇṇa: Có sắc đẹp khả ái.
Sukha: Thân tâm thường được an lạc.
Bala: Thân tâm thường khỏe mạnh.
Paṭibhāṇa: Có trí tuệ sắc bén, nhanh trí.

Do đó, Ân đức Tăng này gọi là Añjalikaraṇīyo Bhagavato sāvakasaṃgho.



9- Ân đức Tăng thứ chín: Anuttaraṃ puññakkhettaṃ

Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa Bhagavato sāvakasaṃgho.

(Cách đọc: Á-nút-tá-răng pun-nhắc-khết-tăng lô-cắt-xá phá-gá-vóa-tô xa-vóa-cá-xăng-khô)



Anuttaraṃ puññakkhettaṃ: Chư Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn là phước điền cao thượng của chúng sinh không đâu sánh được.

Chư Thánh Tăng là bậc Thánh Thanh Văn đệ tử của Đức Thế Tôn, có giới đức (sila), định đức (samādhi), tuệ đức (paññā), giải thoát đức (vimutti), giải thoát tri kiến đức (vimuttiñāṇadassana) đầy đủ… là phước điền cao thượng của chúng sinh không nơi nào sánh được. Thật vậy, khi gieo giống phước thiện dù ít dù nhiều, cũng sẽ được quả báu vô lượng trong kiếp hiện tại và cả nhiều kiếp vị lai.

Một ví dụ để so sánh:

Chư Thánh Tăng ví như thửa ruộng màu mỡ.
Thí chủ có trí tuệ ví như người nông dân tài giỏi.
Tác ý thiện tâm bố thí ví như hạt giống tốt.

Người nông dân tài giỏi biết rõ thời vụ mùa màng, gieo hạt giống tốt trên thửa ruộng màu mỡ, chắc chắn khi thu hoạch sẽ được nhiều gấp bội. Cũng như vậy, thí chủ có trí tuệ, biết gieo giống phước thiện dù ít dù nhiều nơi chư Thánh Tăng, hoặc chư phàm Tăng phước điền cao thượng của chúng sinh, không nơi nào sánh được, họ chắc chắn sẽ được quả báu vô lượng ngay cả trong kiếp hiện tại lẫn vô lượng kiếp vị lai. Hơn thế nữa, gieo duyên lành sẽ hưởng được Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn Siêu tam giới.



* Tích thiên nữ Lajādevadhitā [15]

Tích thiên nữ Lajādevadhitā được tóm lược như sau:

Trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế, một cô bé nghèo được thuê giữ ruộng, cô mang theo một gói bắp rang để ăn trong ngày. Sáng hôm ấy, Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa xả diệt thọ tưởng (nirodhasamāpatti) xong, quán xét thấy nên tế độ cô bé nghèo, Ngài đã mặc y mang bát đi thẳng đến chỗ cô bé để khất thực. Nhìn thấy Ngài từ xa đến, cô bé vô cùng hoan hỷ liền ra đón và đảnh lễ Ngài xong, cô đem phần bắp rang để ăn trong ngày, xin làm phước bố thí để bát cúng dường Ngài. Trong khi đang hoan hỷ với phước thiện bố thí cúng dường đến Ngài Đại Trưởng Lão, lúc quay lại chỗ ở, cô bị một con rắn độc cắn chết. Do nhờ phước thiện cúng dường ấy cho quả tái sinh, làm thiên nữ có tên là Lajādevadhitā trong cõi trời Tam Thập Tam Thiên.

Sau đó, khi nhớ lại tiền kiếp của mình, thiên nữ Lajādevadhitā vô cùng biết ơn Ngài Đại Trưỡng Lão, cô hiện xuống chỗ ở của Ngài quét dọn, đem nước dùng..., cho Ngài, Ngài Đại Trưởng Lão không cho phép cô làm những công việc ấy, cô buồn tủi khóc. Đức Thế Tôn thấy vậy, liền hiện đến thuyết pháp tế độ thiên nữ. Sau khi nghe pháp, thiên nữ Lajādevadhitā chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu. Cô vô cùng hoan hỷ đảnh lễ Đức Thế Tôn và xin phép trở về cõi trời.

Ngay cả Đức vua Sakka cùng Hoàng hậu Sujātā ở cõi trời Tam Thập Tam Thiên hiện xuống làm phước bố thí cúng dường các vật thực đến Ngài Đại Trưởng Lão Mahākassapa để được phước thiện đặc biệt.

* Tích ông Puṇṇa

Tích ông Puṇṇa, người làm thuê của ông phú hộ Sumana được tóm lược như sau:

Trong thời kỳ Đức Phật Gotama còn tại thế, có gia đình ông Puṇṇa [16] nghèo khó, làm ruộng thuê của ông phú hộ Sumana, mọi người trong gia đình đều có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo.

Một buổi sáng ông đi cày ruộng, cũng vào buổi sáng hôm ấy, Ngài Đại đức Sāriputta xả diệt thọ tưởng (sau 7 ngày đêm), đi khất thực để tế độ gia đình ông Puṇṇa, nên Ngài đi thẳng về hướng ông Puṇṇa đang cày ruộng. Nhìn thấy Ngài Đại đức Sāriputta từ xa đến, ông Puṇṇa liền bỏ cày, đến hầu đảnh lễ Ngài, dâng cúng cây tăm xỉa răng và nước dùng, nước uống. Ngài Đại đức Sāriputta thọ nhận xong, đi theo đường hướng về nhà ông Puṇṇa, gặp vợ ông Puṇṇa đang đem cơm cho chồng. Bà đảnh lễ Ngài Đại đức Sāriputta xong, bạch rằng:



- Kính bạch Ngài Đại đức, kính xin Ngài từ bi thọ nhận phần vật thực phận nghèo khó của gia đình chúng con.

Ngài Đại đức Sāriputta từ bi tế độ thọ nhận tất cả phần vật thực, bà vô cùng hoan hỷ phát nguyện:



- Do nhờ phước thiện bố thí này của chúng con, cầu mong cho gia đình chúng con được một phần pháp mà Ngài đã chứng đắc.

Ngài Đại đức Sāriputta chúc phúc rằng:



- Mong cho gia đình các con được toại nguyện.

Bà vô cùng hoan hỷ đi trở về nhà, nấu lại phần cơm khác đem cho chồng, vội vàng mang cơm ra đồng ruộng, với tâm hoan hỷ phước thiện bố thí đến Ngài Đại đức Sāriputta, làm cho thân tâm của bà nhẹ nhàng, nhu nhuyến không sao giấu được.

Còn phần ông Puṇṇa, trễ giờ đói bụng, thả bò đi ăn cỏ, ông lên bờ ngồi dưới bóng mát cây, chờ đợi vợ, dầu đói bụng, nhưng tâm vẫn hoan hỷ, niệm tưởng lại việc làm phước thiện bố thí tăm xỉa răng và nước đến Ngài Đại đức Sāriputta. nhìn từ xa, ông thấy vợ mình đang đi đến trễ hơn mọi ngày, nhưng bà có vẻ khác thường, chắc chắn bà đang hoan hỷ một điều gì đó. Bà vừa đến nơi liền thưa với chồng rằng:

- Hôm nay, xin anh hoan hỷ thật nhiều! Sáng nay, em đem cơm cho anh, giữa đường gặp Ngài Đại đức Sāriputta đang đi khất thực, em phát sinh đức tin trong sạch, đem phần cơm của anh để bát cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta, Ngài không chê vật thực nghèo khó của chúng ta. Ngài Đại đức có tâm từ bi tế độ thọ nhận tất cả vật thực phần của anh, xin anh nên hoan hỷ phần phước thiện bố thí này!

Ông Puṇṇa vừa lắng nghe từng tiếng, từng câu làm cho ông phát sinh tâm thiện hỷ lạc đến cực độ, nên không thể theo dõi liên tục trọn vẹn lời nói của vợ ông. Sực tỉnh lại, ông muốn biết chắc chắn chính mình nghe đúng sự thật là như vậy không, nên ông bảo với vợ rằng:

- Này em, em hãy nói lại cho anh nghe một lần nữa!

Bà vợ thưa lại rõ ràng một lần nữa, lần này ông nghe rõ biết chắc chắn đúng sự thật như vậy rồi, ông vô cùng hoan hỷ phước thiện bố thí của vợ, đã đem phần cơm của mình cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta; tiếp theo ông nói cho vợ biết ông cũng vừa làm phước thiện bố thí cúng dường cây tăm xỉa răng và nước đến Ngài Đại đức Sāriputta. nghe xong, bà cũng vô cùng hoan hỷ việc phước thiện bố thí của chồng.

Hai vợ chồng cùng nhau hoan hỷ việc phước thí cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta. Dùng cơm xong, ông nằm niệm tưởng đến việc phước thiện bố thí vừa mới làm, mới thiu thiu giấc ngủ, ông bừng tỉnh lại, ngồi nhìn thấy phần đất ruộng vừa cày buổi sáng, đã hóa thành những thỏi vàng y (vàng ròng) làm cho ông hoa cả mắt; và vợ của ông cũng cảm thấy như ông vậy. Ông lấy lại bình tỉnh đi xuống ruộng, lấy lên một thỏi, đúng thật là thỏi vàng ròng; ông đem đến khoe và nói với vợ rằng:

- Này em, vợ chồng chúng ta đã làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta, do phước thiện bố thí ấy, liền cho quả báu đến vợ chồng chúng ta ngày hôm nay, chúng ta không thể nào giấu một số vàng lớn như thế này được!

Ông Puṇṇa lấy một số thỏi vàng bỏ vào khay, đem trình lên Đức vua và tâu rằng:



- Tâu Đức vua, sáng nay tiện dân đi cày ruộng, tất cả đất cày đều hóa thành những thỏi vàng ròng. Kính xin Đức vua truyền lệnh cho binh lính đem xe đến chở số vàng ấy về cất trong kho báu của Đức vua.

- Nhà người là ai? Đức vua hỏi.

Ông Puṇṇa tâu: - Tâu Đức vua, tiện dân là Puṇṇa, một nông dân nghèo khó làm thuê.



- Sáng nay, nhà ngươi đã làm được việc gì đặc biệt?

- Tâu Đức vua, tiện dân làm phước cúng dường cây tăm xỉa răng và nước dùng, nước uống đến Ngài Đại đức Sāriputta; còn phần vợ tiện dân làm phước cúng dường phần cơm của tiện dân đến Ngài Đại đức.

Đức vua truyền rằng:



- Này Puṇṇa, vợ chồng ngươi đã làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta, cho nên, quả báu phát sinh ngay trong ngày hôm nay. Vậy, ngươi muốn Trẫm làm gì?

Ông Puṇṇa tâu: - Tâu Đức vua, tiện dân xin Đức vua truyền lệnh đem ngàn chiếc xe đến thửa ruộng kia, để khuân tất cả số vàng ấy về cung điện.

Đức vua truyền lệnh đem hàng ngàn chiếc xe đến chở vàng ròng, quân lính trong triều nghĩ và nói rằng: “Vàng của Đức vua”, tức thì những thỏi vàng trở lại thành đất như cũ. Quân lính trong triều trở về tâu lên Đức vua sự việc xảy ra như vậy. Đức vua sáng suốt bèn truyền rằng:

- Các ngươi nghĩ như thế nào, khi nhặt lấy những thỏi vàng ấy?

- Tâu Bệ hạ, chúng hạ thần nghĩ và nói rằng: “Vàng của Đức vua”.

- Số vàng ròng kia không phải của Trẫm. Các người nên trở lại nghĩ và nói rằng: “Vàng của ông bà Puṇṇa rồi khuân số vàng ấy về đây. – Đức vua phán.

Họ vâng lệnh Đức vua trở lại nơi ấy.

Thật đúng vậy, lần này họ khuân toàn bộ số vàng ấy đem về, chất giữa sân rồng thành một đống vàng cao 80 hắc tay.

Ông Puṇṇa trở thành đại phú hộ

Đức vua cho truyền dân chúng trong thành hội họp tại sân rồng, bèn hỏi rằng:



- Trong kinh thành này, có người nào khác có số vàng lớn như thế này không?

Toàn thể dân chúng trong thành tâu:



- Tâu bệ hạ, không có người nào khác cả.

- Trẫm nên tấn phong ông Puṇṇa như thế nào mới xứng đáng? – Đức vua hỏi tiếp.

- Xin Hoàng Thượng tấn phong ông Puṇṇa địa vị đại phú hộ.

Đức vua phán rằng:



- Này Puṇṇa, từ nay ngươi là đại phú hộ, có tên Bahudhanaseṭṭhi: Phú hộ nhiều của cải.

Sau khi trở thành đại phú hộ Puṇṇa, gia đình ông càng có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng có Đức Phật chủ trì suốt 7 ngày. đến ngày thứ 7 Đức Phật thuyết pháp tế độ gia đình ông Puṇṇa, toàn gia đình ông đại phú hộ Puṇṇa, hai vợ chồng và đứa con gái tên Uttarā đều chứng đắc thành bậc Thánh Nhập Lưu.

Vợ chồng ông Puṇṇa làm phước thiện bố thí cúng dường đến Ngài Đại đức Sāriputta, sau khi xả diệt thọ tưởng, do năng lực phước thiện bố thí trong sạch và hội đủ nhân duyên ấy, liền cho quả báu trong ngày hôm ấy, trở thành đại phú hộ nhiều của cải thế gian và đặc biệt hơn nữa, toàn gia đình chứng đắc Nhập Lưu Thánh Đạo - Nhập Lưu Thánh Quả, trở thành bậc Thánh Nhập Lưu, thuộc pháp Siêu tam giới.

Những trường hợp trên, có không ít trong Phật giáo.

Chư Thánh Tăng là phước điền cao thượng của tất cả chúng sinh: Nhân loại, chư thiên, phạm thiên,... làm phước thiện cúng dường đến chư Thánh Tăng với thiện tâm trong sạch, sẽ được thành tựu quả báu trong cõi người (manussasampatti), thành tựu quả báu cõi trời (devasampatti) và đặc biệt thành tựu quả báu chứng ngộ Niết Bàn (Nibbānasampatti).

Thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, dù làm phước bố thí cúng dường đến chư phàm Tăng vẫn được thành tựu quả báu không kém. Thật vậy, Đức Phật dạy Ngài Đại đức Ānanda rằng:



- Này, Ānanda, trong thời vị lai sẽ có hạng người mang tên “Bhikkhu: Tỳ khưu”, chỉ còn mảnh y quấn cổ (hoặc cột ở cổ tay), là người phạm giới, hành ác pháp. Song những thí chủ có đức tin trong sạch nơi Tam Bảo, có tác ý thiện tâm làm phước thiện bố thí hướng đến cúng dường chư Tỳ khưu Tăng, dầu trong số Tỳ khưu phạm giới ấy.

Này Ānanda làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng trong thời vị lai ấy, Như Lai dạy rằng: Thí chủ vẫn có phước thiện vô lượng và quả báu vô lượng không sao kể xiết được. Như lai không hề dạy trực tiếp hoặc gián tiếp rằng: Thí chủ làm phước thiện bố thí cúng dường đến cá nhân thọ thí, sẽ có phước thiện nhiều hơn và có quả báu nhiều hơn làm phước thiện bố thí cúng dường đến chư Tỳ khưu Tăng thọ thí. [17]

Do đó, Ân đức Tăng này được gọi là Anuttaraṃ puññakkhettaṃ lokassa Bhagavato sāvakasaṃgho.

-ooOoo-

 




1   ...   5   6   7   8   9   10   11   12   ...   25


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương