PHÁt biểu khai mạc kỳ họp bất thường lần thứ ba, HĐnd tỉnh khoá V



tải về 0.98 Mb.
trang1/20
Chuyển đổi dữ liệu14.08.2016
Kích0.98 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   20
PHÁT BIỂU KHAI MẠC

Kỳ họp bất thường lần thứ ba, HĐND tỉnh khoá V

-----------------



Kính thưa: - Đồng chí Hồ Xuân Mãn - Uỷ viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy và các đồng chí trong Ban TV Tỉnh uỷ;

- Kính thưa đồng chí Nguyễn Xuân Lý - Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh;

- Kính thưa đồng chí Trần Phùng - Chủ tịch UBMTTQVN tỉnh;

- Thưa các vị đại biểu Quốc hội;

- Thưa các vị đại biểu HĐND tỉnh;

- Thưa tất cả các vị đại biểu tham dự kỳ họp.
Căn cứ Luật tổ chức HĐND và UBND năm 2003, Quy chế hoạt động của HĐND năm 2005 qui định về việc tổ chức kỳ họp bất thường, theo đề nghị của UBND tỉnh, hôm nay, HĐND tỉnh tiến hành kỳ họp bất thường lần thứ 3 để xem xét, thông qua một số đề án chuyên đề theo kế hoạch đã được HĐND tỉnh thông qua tại Nghị quyết số 5i/2005/NQ-HĐND ngày 07/12/2005. Thay mặt HĐND tỉnh, tôi nhiệt liệt chào mừng các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, các vị đại biểu Quốc hội, các vị đại biểu HĐND tỉnh, lãnh đạo các cấp, các ngành, các cơ quan, tổ chức, đơn vị, các phóng viên báo chí đã đến tham dự và đưa tin về kỳ họp; xin gửi đến các đồng chí lãnh đạo và tất cả quý vị lời chúc sức khỏe; chúc kỳ họp bất thường lần thứ ba HĐND tỉnh khoá V thành công tốt đẹp.

Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,


Để thực hiện thắng lợi mục tiêu phấn đấu mà Đại hội lần thứ XIII Đảng bộ tỉnh đã đề ra, HĐND tỉnh phải nhanh chóng thể chế hoá phương hướng nhiệm vụ, các mục tiêu, giải pháp, chính sách của Đảng thành các nghị quyết, quyết định về chương trình hành động về mặt Nhà nước; nhằm tạo ra sự nhất trí cao về chính trị và tinh thần trong toàn xã hội; động viên nỗ lực, quyết tâm cao nhất của các cấp, các ngành trong việc cụ thể hoá và tổ chức thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ kinh tế - xã hội. Với nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, kỳ họp bất thường lần này HĐND tỉnh sẽ bàn, quyết định cụ thể hoá Nghị quyết của Đại hội thành nghị quyết về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 của tỉnh. Xác định những nhiệm vụ trọng tâm của HĐND, UBND các cấp, các ngành trong thời gian tới. Bên cạnh nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để xây dựng, bảo tồn và phát huy các thiết chế văn hoá của một thành phố di sản, thành phố Festival, thành phố du lịch đang đặt ra cho chúng ta những nhiệm vụ mới. Vì vậy, việc HĐND tỉnh xem xét, thảo luận về chính sách bảo vệ nhà vườn để thống nhất quyết định những chủ trương, biện pháp hữu hiệu nhằm giữ gìn và phát huy giá trị to lớn về văn hoá vật thể và phi vật thể chứa đựng trong đối tượng này vì đây là một thiết chế gắn liền với di sản văn hoá lịch sử cố đô Huế.

Tại kỳ họp bất thường lần này, HĐND tỉnh cũng sẽ xem xét, ban hành Nghị quyết về thu phí, lệ phí sử dụng tạm thời lòng, lề đường, phí thoát nước, phí vệ sinh bến cá, cảng cá, lệ phí giữ xe qua đêm; Nghị quyết về việc đặt tên đường phố tại thành phố Huế; Nghị quyết về quy định tạm thời một số chế độ, định mức chi tiêu tài chính phục vụ cho hoạt động của HĐND tỉnh, nhiệm kỳ 2004-2009; Nghị quyết về phê chuẩn kết quả bầu cử Uỷ viên UBND tỉnh, thành viên Ban Pháp chế, thành viên Ban Văn hoá - Xã hội, nhiệm kỳ 2004 - 2009. Song song với việc xem xét, ban hành các nghị quyết chuyên đề, HĐND tỉnh sẽ giám sát tại kỳ họp với nội dung “Tình hình triển khai, thực hiện các dự án phát triển các khu đô thị, khu tái định cư mới và chính sách tạo vốn từ quỹ đất”; nghe UBND tỉnh báo cáo tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết 4d/2005/NQ-HĐND về việc thông qua chủ trương lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nghĩa trang, nghĩa địa nhân dân trên địa bàn. Đây là những nội dung hết sức quan trọng nhằm tạo sự thống nhất trên địa bàn trong việc thu phí, lệ phí; khắc phục những hạn chế trong việc thực hiện các dự án xây dựng khu đô thị mới; thực hiện một cuộc vận động lớn trong toàn xã hội để nhanh chóng đổi mới tập quán mai táng cho phù hợp với tình hình mới. Tất cả những nội dung nêu trên đều nhằm tạo thêm nguồn lực để thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển nhanh, bền vững hơn.


Thưa các đồng chí và quý vị đại biểu,

Chúng ta tổ chức kỳ họp bất thường lần này trong lúc cả nước đang ra sức nỗ lực phấn đấu, lập thành tích cao nhất chào mừng Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, tiến tới kỷ niệm 31 năm ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam thống nhất đất nước, chào mừng Festival Huế 2006. Mặc dù thời gian của kỳ họp ngắn, nhưng khối lượng công việc của kỳ họp khá nặng nề, với tinh thần khẩn trương, nghiêm túc, tôi đề nghị các đại biểu nêu cao tinh thần trách nhiệm, tập trung nghiên cứu kỹ các tài liệu, tờ trình và dự thảo các nghị quyết; thông qua thực tiễn hoạt động và tình hình cụ thể của địa phương, tích cực tham gia thảo luận, cân nhắc mọi khía cạnh để giúp HĐND tỉnh có cơ sở quyết định chính xác các đề án nói trên, góp phần thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2006 -2 010; tăng cường hiệu quả, hiệu lực quản lý nhà nước ở các cấp, các ngành; thiết thực lập thành tích chào mừng Đại hội Đại biểu lần thứ X của Đảng sắp đến.



Thay mặt Thường trực HĐND tỉnh, tôi xin tuyên bố khai mạc kỳ họp bất thường lần thứ ba, HĐND tỉnh khoá V.

Xin cám ơn.

ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM


TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 777/TTr-UB Huế, ngày 16 tháng 3 năm 2006



TỜ TRÌNH


Về việc xin ý kiến về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội

5 năm 2006 - 2010 tỉnh Thừa Thiên Huế



Kính gửi: Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế

- Căn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26/11/2003;

- Căn cứ Nghị quyết số3k/2004/NQ-HĐND5 về kế hoạch xây dựng và ban hành Nghị quyết chuyên đề của HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2005;

Ủy ban nhân dân tỉnh kính trình Hội đồng nhân dân tỉnh Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010 tỉnh Thừa Thiên Huế với những nội dung chủ yếu sau:

Thực hiện Chỉ thị số 33/2004/CT-TTg ngày 23 tháng 9 năm 2004 của Thủ tướng Chính phủ về xây dựng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 -2010; Công văn số 7681/BKH-TH ngày 30/11/2004 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về hướng dẫn xây dựng kế hoạch; chấp hành Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIII; Uỷ ban nhân dân tỉnh trình Hội đồng nhân dân tỉnh những nội dung chủ yếu sau:



I. Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005

Năm năm qua nhờ nỗ lực phấn đấu, phát huy nội lực, đoàn kết nhất trí, kết hợp sức mạnh của toàn dân với sự giúp đỡ nhiệt tình, quý báu của Trung ương, của các tổ chức, cá nhân, bạn bè trong và ngoài nước, tỉnh ta đã đạt được những thành tựu quan trọng trên tất cả các lĩnh vực.

Kinh tế tăng trưởng cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Đã huy động tốt hơn các nguồn lực, nhất là nguồn nội lực. Đầu tư có trọng điểm tạo chuyển biến mới về kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội. Quá trình đô thị hóa tạo khởi sắc về diện mạo đô thị và nông thôn. Các vùng đồng bằng, đô thị, vùng gò đồi miền núi, vùng đầm phá ven biển được đầu tư theo các chương trình dự án trọng điểm đã phát huy tốt hơn thế mạnh của từng vùng. Việc ban hành và thực thi các chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư, đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, cải cách thủ tục hành chính, v.v... tạo động lực thúc đẩy phát triển sản xuất trong nhân dân và cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh. Công tác xóa đói, giảm nghèo được đẩy mạnh, không còn hộ đói, giảm mạnh hộ nghèo. Các chính sách xã hội được bảo đảm. Đời sống nhân dân các vùng được cải thiện rõ rệt. Các mặt xã hội có bước phát triển tốt. Quốc phòng, an ninh được tăng cường, hoạt động đối ngoại được mở rộng. Sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân được phát huy.

Kết quả thực hiện các chỉ tiêu chủ yếu của kế hoạch 5 năm (2001- 2005) dự ước đạt mức độ sau:

1. Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) bình quân hàng năm tăng 9,5%, (kế hoạch 8-9%).

- Giá trị sản xuất công nghiệp - xây dựng tăng: 16,3% (kế hoạch 14 - 15%)

- Giá trị sản xuất nông lâm ngư nghiệp tăng: 8,4% (kế hoạch 3,5 - 4%)

- Giá trị các ngành dịch vụ tăng: 8,1% (kế hoạch 7-8%)

2. GDP bình quân đầu người năm 2005: đạt 580 USD (kế hoạch 550-600 USD)

3. Doanh thu du lịch tăng: 19% (kế hoạch 20%)

4. Sản lượng lương thực có hạt bình quân hàng năm đạt: 231.000 tấn (kế hoạch 220.000 tấn)

5. Giá trị kim ngạch xuất khẩu đến năm 2005: 40 triệu USD (kế hoạch 55-60 triệu USD)

6. Tổng nguồn vốn đầu tư toàn xã hội: 11.984 tỷ đồng (kế hoạch 12.000-12.500 tỷ đồng)

7. Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên: 1,3% (kế hoạch 1,4%)

8. Phổ cập THCS (trong độ tuổi 15-20):150/150 xã, phường, thị trấn (kế hoạch 100% xã, phường, thị trấn)

9. Tỷ lệ học sinh huy động vào hệ ngoài công lập: 23% (kế hoạch 20-30%)

10. Lao động được đào tạo nghề đến năm 2005 là 25% (kế hoạch 25%)

11. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi SDD năm 2005 còn 23% (kế hoạch 20-23%)

12. Tỷ lệ hộ dùng điện: 95% (kế hoạch 90%)

13. Tỷ lệ hộ nông thôn sử dụng nước sạch: 75% (kế hoạch 70%)

14. Lao động được giải quyết việc làm: 14 nghìn lao động (10-12 nghìn lao động)

15.Tỷ lệ hộ nghèo còn 8% (kế hoạch 10%)

16. Hoàn thành cơ bản kiên cố hoá kênh mương ở vùng đồng bằng và vùng trọng điểm ở vùng miền núi, ven biển. (kế hoạch hoàn thành cơ bản kiên cố hoá kênh mương ở vùng đồng bằng và vùng trọng điểm ở vùng miền núi, ven biển)

17. Hoàn thành cơ bản nhựa hoá tỉnh lộ; bê tông hoá 70% đường giao thông nông thôn.(kế hoạch nhựa hoá 80% đường tỉnh lộ; bê tông hoá 70% đường giao thông nông thôn vùng đồng bằng và vùng trọng điểm ven biển miền núi).

Tuy nhiên, những thành tựu và tiến bộ đạt được chưa đủ để tỉnh trở thành một trong những địa phương phát triển năng động của cả nước do những hạn chế chủ yếu sau:

- Kinh tế đã phát triển tích cực nhưng quy mô còn nhỏ, chất lượng tăng trưởng chưa cao. Nguồn lực và tiềm năng trong tỉnh chưa được huy động tốt. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Trình độ công nghệ còn lạc hậu, năng suất lao động thấp hơn bình quân chung cả nước. Môi trường kinh doanh chưa thực sự thuận lợi để thu hút các nguồn lực cho đầu tư phát triển, nhất là nguồn lực đầu tư nước ngoài. Sắp xếp và đổi mới DNNN chậm, nhiều doanh nghiệp Nhà nước làm ăn thua lỗ chưa được xử lý kịp thời. Kinh tế ngoài quốc doanh phát triển chậm so với nhiều tỉnh trong cả nước, nhất là làng nghề, trang trại, hộ sản xuất hàng hoá lớn; nhận thức về cơ hội và thách thức của quá trình hội nhập khu vực và quốc tế còn hạn chế; việc xây dựng thương hiệu chưa được quan tâm, số doanh nhân năng động, sáng tạo, có ý trí vươn lên làm giàu còn ít.

- Công tác quy hoạch còn chậm, chất lượng thấp, định hướng quy hoạch nhiều mặt chưa rõ, tầm nhìn chưa đủ dài nên chỉ sau thời gian ngắn đã lạc hậu; thiếu gắn kết giữa các qui hoạch, nhất là qui hoạch chung với qui hoạch chi tiết. Quản lý nhà nước về qui hoạch, phát triển đô thị còn nhiều mặt yếu kém.

- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư xã hội chưa cao. Tình trạng dàn trải trong bố trí kế hoạch chậm được khắc phục, lựa chọn ưu tiên đầu tư ở một số dự án, công trình chưa hợp lý. Công tác tư vấn lập dự án, thiết kế, giám sát còn yếu. Hạ tầng kỹ thuật tuy đã được cải thiện đáng kể nhưng vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới.

- Tài nguyên thiên nhiên chưa được khai thác sử dụng có hiệu quả. Môi trường sinh thái, nhất là vùng ven biển đầm phá đang ngày càng xấu đi.

- Thu nhập bình quân đầu người thấp hơn mức bình quân chung cả nước. Ý thức vươn lên làm giàu, chủ động XĐGN của người dân còn yếu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số. Tình trạng thiếu việc làm vẫn là vấn đề gay gắt, nhất là trong thanh niên. Công tác xã hội hóa các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa, xã hội.. còn yếu.

- Nguồn nhân lực, nhất là các chuyên gia đầu ngành và năng lực cán bộ một số cấp, ngành, lĩnh vực còn yếu, nhất là cấp cơ sở; thiếu năng động, nhạy bén và sáng tạo trong tổ chức thực hiện, chưa đáp ứng yêu cầu hội nhập và sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

- An ninh chính trị vẫn còn nhân tố gây mất ổn định chưa được loại trừ, đặc biệt là trong đấu tranh chống địch lợi dụng tôn giáo. Công tác nắm tình hình có lúc thiếu kịp thời. Việc chấp hành kỷ cương, pháp luật chưa nghiêm, đầu tư chưa đúng mức cho địa bàn xung yếu. Trong tổ chức thực hiện còn có biểu hiện thiếu gắn kết phát triển kinh tế - xã hội với nhiệm vụ quốc phòng - an ninh. Tình trạng tiêu cực, tham nhũng, buôn lậu, gian lận thương mại, tệ nạn xã hội chưa được ngăn chặn triệt để. Tai nạn giao thông nghiêm trọng có xu hướng gia tăng.

- Công tác quản lý Nhà nước có mặt còn chồng chéo, kỷ cương, kỷ luật hành chính chưa nghiêm; cải cách hành chính kết quả chưa cao; dân chủ cơ sở chưa phát huy mạnh mẽ. Công tác điều hành có mặt chưa tốt, nhất là ở cơ sở. Phân công, phân cấp và phối hợp giữa các ban, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ.

II. Về định hướng phát triển kinh tế xã hội 5 năm thời kỳ 2006 - 2010

Bước vào kế hoạch 5 năm (2006 - 2010) trong bối cảnh hội nhập toàn diện về kinh tế, tình hình quốc tế và trong nước sẽ có những tác động mạnh đến khả năng phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nghị quyết số 39/NQ/TW ngày 16/8/2004 Bộ Chính trị về phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an quốc phòng, an ninh vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ đến năm 2010, Quyết định số 148/2004/QĐ-TTg, ngày 13/8/2004 của Chính phủ về phương hướng chủ yếu phát triển kinh tế - xã hội vùng kinh tế trọng điểm miền Trung đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020, Quyết định số 209/2005/QĐ-TTg ngày 24 tháng 8 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ Về việc công nhận thành phố Huế là đô thị loại I thuộc tỉnh, Quyết định số 04/2006/QĐ-TTg ngày 05 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Về việc thành lập Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô và Quyết định số 26/QĐ-TTg ngày 06/1/2006 Phê duyệt Định hướng phát triển Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô đến năm 2020 là những văn bản quan trọng của Đảng và Nhà nước tạo thêm cơ hội và điều kiện thuận lợi để tỉnh phát triển và hội nhập. Căn cứ việc thực hiện kế hoạch 5 năm 2001 - 2005 và khả năng tác động của các nhân tố mới, Uỷ ban nhân dân tỉnh trình phương án phát triển kinh tế xã hội thời kỳ 5 năm 2006 - 2010 như sau:

1. Mục tiêu tổng quát:

Phát huy tối đa các tiềm năng, lợi thế, khai thác tốt mọi nguồn lực xã hội, tạo bước phát triển kinh tế nhanh và bền vững theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn liền đẩy nhanh quá trình đô thị hóa; Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, chủ động, tích cực hội nhập. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tạo nhiều việc làm, ổn định và cải thiện tốt đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của nhân dân. Phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết; giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh. Phấn đấu đưa Thừa Thiên Huế trở thành tỉnh phát triển mạnh của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung và cả nước, thành thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố Huế - thành phố Festival của Việt Nam.



2. Các chỉ tiêu chủ yếu:

2.1. Chỉ tiêu kinh tế:

- Tổng sản phẩm trong tỉnh (GDP) tăng bình quân trên 15%/năm.

Trong đó: Công nghiệp - xây dựng tăng 20-21%;

Các ngành dịch vụ tăng 14 – 15 %.

Nông - lâm - ngư nghiệp tăng 4,5-5%;

Cơ cấu các ngành kinh tế trong GDP dự kiến: Công nghiệp - xây dựng 43 - 44 %, các ngành dịch vụ từ 44 - 45%, nông, lâm, thủy sản từ 11 - 12%.

- Doanh thu du lịch tăng bình quân 32%/năm, lượt khách du lịch 2,5 triệu;

- Giá trị xuất khẩu 300 triệu USD vào năm 2010.

- Tổng đầu tư toàn xã hội 40.000 - 45.000 tỷ đồng.

- Thu ngân sách Nhà nước trên địa bàn năm 2010 đạt trên 2500 tỷ đồng.

2.2 Chỉ tiêu xã hội đến năm 2010:

- Tỷ lệ phát triển dân số tự nhiên 1,2%.

- Tỷ lệ hộ dùng điện 98%; mật độ điện thoại 35 máy/100 dân.

- Hoàn thành phổ cập trung học ở thành phố Huế và các huyện đồng bằng.

- Lao động được đào tạo nghề đạt 40% tổng lao động xã hội.

- Tỉ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng còn dưới 20%.

- Giải quyết việc làm mới trên 14 nghìn lao động/năm.

- Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 10%.

- Tỷ lệ đô thị hoá đạt 40 - 45%.

2.3. Chỉ tiêu phát triển môi trường:

- Tỷ lệ hộ sử dụng nước sạch 95%;

- Tỷ lệ che phủ rừng đạt 55% vào năm 2010.

- 95% các khu đô thị, khu công nghiệp, các cụm công nghiệp và làng nghề được xử lý nước thải, thu gom và xử lý chất thải rắn.



3. Các nhiệm vụ và giải pháp chính:

Một là, phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm cao hơn kế hoạch 5 năm 2001 - 2005. Chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động theo hướng tăng nhanh tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, khai thác tiềm năng của các ngành dịch vụ.

Thường xuyên cập nhật, rà soát, bổ sung các qui hoạch tổng thể kinh tế xã hội, qui hoạch phát triển ngành và sản phẩm chủ yếu; nhất là các qui hoạch khu du lịch, khu đô thị, qui hoạch sử dụng đất tạo căn cứ xây dựng cơ chế, chính sách phù hợp để thu hút đầu tư, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý.

Chủ động khảo sát, thăm dò các nguồn tài nguyên thiên nhiên cung cấp thông tin cho các nhà đầu tư trong nghiên cứu, lựu chọn dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.

Tăng cường quản lý Nhà nước về qui hoạch, thực hiện quy định về quản lý đầu tư và xây dựng, quản lý kiến trúc, bảo vệ cảnh quan môi trường; Phát huy vai trò kiểm tra, giám sát cộng đồng đối với việc công khai và tổ chức thực hiện dự án qui hoạch.



Hai là, thúc đẩy các hoạt động ứng dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất, kinh doanh, quản lý kinh tế, quản lý xã hội. Nâng cao năng lực cạnh tranh của từng sản phẩm, từng doanh nghiệp và toàn bộ nền kinh tế.

Khuyến khích đổi mới công nghệ sản xuất, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản lý sản xuất - kinh doanh, ứng dụng công nghệ thông tin, tạo chuyển biến trong tiếp cận kinh tế tri thức để tăng hàm lượng công nghệ trong sản phẩm hàng hoá và dịch vụ. Tỉnh sẽ áp dụng chính sách hỗ trợ các đơn vị đổi mới và ứng dụng công nghệ tiến bộ vào sản xuất kinh doanh. Thực hiện việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, gắn các hoạt động nghiên cứu khoa học công nghệ với với các hoạt động của doanh nghiệp.

Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách toàn diện. Thực hiện các chính sách hỗ trợ đào tạo, đào tạo lại, sử dụng và phát huy có hiệu quả đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ khoa học, công nghệ, các nghệ nhân và công nhân lành nghề; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực cho các ngành công nghiệp, du lịch, thuỷ sản, quản lý đô thị…

Ba là, phát huy các lợi thế so sánh, chủ động hội nhập, mở rộng liên doanh, liên kết, hợp tác quốc tế để tạo thị trường, thu hút vốn đầu tư, công nghệ, tăng nhanh tỷ lệ xuất khẩu.

Hỗ trợ nghiên cứu phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu sản phẩm hàng hoá đặc sản. Đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến đầu tư - thương mại- du lịch, chú trọng khai thác các thị trường tiềm năng.

Bổ sung các chính sách, biện pháp thu hút đầu tư vào khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, sản xuất và mở rộng kinh doanh xuất nhập khẩu.

Vận dụng đúng đắn và sáng tạo các chính sách kinh tế, xã hội nhằm phát huy sức mạnh vật chất, trí tuệ và tinh thần của nhân dân cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Tạo lập môi trường đầu tư bình đẳng, minh bạch, thông thoáng để các thành phần kinh tế phát triển. Hoàn thành sắp xếp, đổi mới và cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước.



Bốn là, tập trung xây dựng cơ sở hạ tầng, thực hiện các chính sách thông thoáng nhất, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, phù hợp với thông lệ quốc tế cho các loại hình kinh doanh để đẩy mạnh thu hút các dự án đầu tư trong và ngoài nước vào Khu kinh tế Chân Mây - Lăng Cô. Khai thác tối đa các tiềm năng, lợi thế, liên kết chặt chẽ với các khu kinh tế trong vùng trở thành hạt nhân tăng trưởng của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung.

Năm là, khai thác tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để phát triển kinh tế - xã hội. Hoàn thiện cơ bản kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội; ưu tiên đầu tư và kêu gọi đầu tư cho các nhiệm vụ đột phá, vào các vùng trọng điểm; hỗ trợ các vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số tiến kịp các vùng khác trong tỉnh. Xây dựng tỉnh thành thành phố trực thuộc Trung ương.

Phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế và bố trí hợp lý các điểm dân cư tạo chuyển biến nhanh về cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động ở khu vực nông thôn. Phát triển ngành nghề với các quy mô vừa và nhỏ theo hướng khai thác lợi thế từng vùng, phù hợp nhu cầu thị trường; phát triển nhanh thị trường nông thôn, đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, tăng thu nhập từ các hoạt động ngành nghề; thúc đẩy quá trình đô thị hoá nông thôn.



Sáu là, đổi mới sự nghiệp giáo dục đào tạo, coi nhiệm vụ nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Nâng cao chất lượng giáo dục ở các cấp học, bậc học; tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Phối hợp xây dựng đại học Huế thành trung tâm đào tạo đa ngành chất lượng cao, trung tâm nghiên cứu khoa học phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của khu vực miền Trung và cả nước.

Bảy là, phát triển sự nghiệp y tế, văn hóa thông tin, thể dục thể thao. Cải thiện các chỉ tiêu sức khoẻ của nhân dân; phối hợp xây dựng hoàn thiện các thiết chế của Trung tâm y tế chuyên sâu miền Trung. Khai thác và phát huy các giá trị văn hóa vật thể, phi vật thể, các giá trị di sản văn hóa Huế, xây dựng đô thị Huế tương xứng với vị trí đô thị loại I, thành phố Huế - thành phố Festival.

Tám là, giảm nhanh số hộ nghèo; giải quyết việc làm cho người lao động. Phát triển mạng lưới an sinh xã hội trợ giúp người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn. Tăng nhanh mức sống vật chất và tinh thần của nhân dân, thực hiện bình đẳng giới và tiến bộ phụ nữ. Giải quyết có hiệu quả những vấn đề bức xúc của xã hội.

Chín là, tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường. Gắn phát triển kinh tế xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường tự nhiên; sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; ngăn ngừa và kiểm soát có hiệu quả ô nhiễm môi trường; chủ động phòng tránh và hạn chế tác động xấu của thiên tai.

Mười là, tạo chuyển biến sâu sắc trong cải cách hành chính, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, nhũng nhiễu dân; tăng cường kỷ cương, củng cố khối đại đoàn kết; đẩy mạnh phong trào thi đua “người tốt, việc tốt”.

Củng cố quốc phòng an ninh, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, khu vực phòng thủ vững chắc tạo thuận lợi cho công cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.


Trên đây là nội dung chủ yếu Báo cáo Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 - 2010, UBND tỉnh kính trình Hội đồng nhân dân thông qua./.
TM. UBND TỈNH THỪA THIÊN HU

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Xuân Lý
ỦY BAN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH THỪA THIÊN HUẾ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Số: 871/TTr-UBND Huế, ngày 23 tháng 3 năm 2006



TỜ TRÌNH

Về việc thông qua Đề án “Chính sách bảo vệ nhà vườn Huế giai đoạn 2006-2010”



Kính gửi: Hội đồng nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế
Nhà vườn ở Huế là tài sản quý giá góp phần tạo nên đặc trưng văn hóa Huế, có lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển gắn với quá trình đô thị hóa của Huế. Song trải qua hàng trăm năm tồn tại, chịu tác động tiêu cực của khí hậu, thời tiết, thiên tai, chiến tranh, cùng với sự thiếu quản lý bảo vệ nên số lượng, cũng như những yếu tố về nghệ thuật kiến trúc của nhà vườn đã và đang suy giảm nghiêm trọng. Với tốc độ đô thị hoá cao, chênh lệch giữa cung và cầu về đất xây dựng các công trình cũng như đất ở ngày càng lớn, dẫn đến đất vườn bị chia nhỏ. Lối sống đô thị thay đổi theo hướng hiện đại nên các nhà vườn không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt hiện tại, phát sinh việc cải tạo mở rộng nhà làm phá vỡ cảnh quan môi trường.Vì vậy, việc quản lý và phát huy giá trị di sản nhà vườn Huế là góp phần tích cực vào việc giữ gìn bản sắc văn hoá Huế và dân tộc, phục vụ tốt các yêu cầu về phát triển kinh tế xã hội của thành phố Huế, nhất là về lĩnh vực du lịch, dịch vụ.

Đã có nhiều công trình điều tra, khảo sát về nhà vườn nhưng nhìn chung mới dừng lại ở mức nghiên cứu, chưa đề ra được các chính sách cụ thể nhằm bảo vệ, tôn tạo phục hồi và khai thác nhà vườn Huế một cách có hiệu quả.

Để quản lý và bảo vệ nhà vườn có hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển đô thị Huế, Uỷ ban nhân dân tỉnh đã chỉ đạo UBND thành phố Huế và các sở, ngành liên quan tiến hành xây dựng đề án “Chính sách bảo vệ nhà vườn Huế giai đoạn 2006 – 2010” để trình Hội đồng nhân dân tỉnh thông qua làm cơ sở pháp lý cho Uỷ ban nhân dân tỉnh ban hành các quy định về quản lý và chính sách bảo vệ nhà vườn Huế (đính kèm đề án).

Uỷ ban nhân dân tỉnh kính trình Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét thông qua./.






TM. UỶ BAN NHÂN DÂN

CHỦ TỊCH

(Đã ký)

Nguyễn Xuân Lý

: admin -> upload -> news
news -> Trung tâM ĐIỀU ĐỘ HỆ thống đIỆn quốc gia
news -> KỲ HỌp thứ NĂM, HĐnd tỉnh khóa VI nhiệm kỳ 2011 2016 (Ngày 07, 08 và ngày 10, 11 tháng 12 năm 2012) LƯu hành nội bộ huế, tháng 12 NĂM 2012
news -> Ủy ban thưỜng vụ quốc hội cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
news -> TỈnh thừa thiên huế
news -> KỲ HỌp thứ TÁM, HĐnd tỉnh khóa VI nhiệm kỳ 2011 2016 (Ngày 16, 17, 18 tháng 7 năm 2014) LƯu hành nội bộ huế, tháng 7 NĂM 2014
news -> KỶ YẾu kỳ HỌp chuyêN ĐỀ LẦn thứ nhấT, HĐnd tỉnh khóa VI, nhiệm kỳ 2011-2012
news -> KỶ YẾu kỳ HỌp thứ MƯỜi lăM, HĐnd tỉnh khoá V nhiệm kỳ 2004 2011
news -> HỘI ĐỒng nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
news -> KỲ HỌp thứ SÁU, HĐnd tỉnh khóa VI nhiệm kỳ 2011 2016 (Ngày 17, 18, 19 tháng 7 năm 2013) LƯu hành nội bộ huế, tháng 7 NĂM 2013
news -> TỜ trình về việc thành lập các thôn, tổ dân phố mới


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   20


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương