PHƯƠng pháp dạy họC & kiểm tra đÁnh giá phát triển năng lực học sinh trong dạy cấp thcs



tải về 56 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu30.08.2016
Kích56 Kb.

powerpluswatermarkobject3


( Tài liệu tham khảo)

PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC & KIỂM TRA

ĐÁNH GIÁ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH

TRONG DẠY CẤP THCS

MỤC TIÊU


1. Hiểu biết những vấn đề cơ bản về dạy học theo định hướng “Phát triển năng lực” học sinh (HS) cấp THCS.

2. Nắm vững một số nội dung cơ bản về PPDH và KTĐG “phát triển năng lực HS” trong dạy học ở cấp THCS.

3. Bước đầu áp dụng dạy học theo định hướng “Phát triển năng lực .

4. Nâng cao nhận thức về đổi mới dạy học theo hướng “dạy học tích cực”. Vận dụng linh hoạt trong chỉ đạo, hướng dẫn chuyên môn và giảng dạy tại địa phương theo định hướng năng lực HS, góp phần nâng cao kết quả dạy học ở trường phổ thông.


NỘI DUNG CƠ BẢN

1. Dạy học theo định hướng “Phát triển năng lực HS” cấp THCS;

2. Những vấn đề cơ bản về đổi mới đồng bộ PPDH và KTĐG theo năng lực HS cấp THCS;
TÓM TẮT NỘI DUNG:
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG

ĐỔI MỚI PPDH & KTĐG THEO ĐỊNH HƯỚNG TIẾP CẬN NĂNG LỰC

I- Định hướng đổi mới đồng bộ PPDH và KTĐG trong giáo dục THCS

1.1. Một số hạn chế về PPDH và KTĐG trong dạy học hiện nay:

a- Về PPDH: Truyền thụ kiến thức một chiều từ GV, kết hợp hỏi đáp (câu hỏi đóng); nặng lý thuyết chuyên môn thiếu gợi mở, phát huy những trải nghiệm của HS liên kết với đời sống xã hội.

- Hướng dẫn thực hành chưa tạo cơ hội hoặc có phần còn hạn chế tính sáng tạo của HS.

- Thực hiện đổi mới PPDH còn hình thức hoặc chưa triệt để, thiếu đồng bộ trong các thành tố của quá trình dạy học (mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức, thiết bị GD, KTĐG);

b- Về KTĐG: còn chú trọng đánh giá kết quả qua bài thực hành, hoặc đánh giá định kỳ, chưa quan tâm nhận xét đánh giá thường xuyên nhằm phát triển học tập của cá nhân HS.

- Chủ yếu GV độc quyền trong KTĐG kết quả học tập của HS.

- Kết quả đánh giá về cơ bản có tính chất phân loại HS và giữa các HS với nhau, chưa chú ý động viên HS trong quá trình học tập.

- Mục đích và nội dung KTĐG thiếu quan tâm tới GD thẩm mĩ (thái độ hành vi, tình cảm thẩm mĩ), cũng như chưa đề cập tới định hướng năng lực HS.


1.2. Những vấn đề cơ bản về đổi mới dạy học ở cấp THCS theo định hướng năng lực

(1)- Về Chương trình giáo dục:

a. Mục tiêuchú trọng phát triển năng lực người học” (HS), được mô tả thể hiện ở khả năng vận dụng hiệu quả những điều đã học trên lớp và đã biết qua trải nghiệm vào quá trình học tập và trong đời sống (thay cho chương trình hiện hành tập trung vào nội dung kiến thức).

+ Đề cao khả năng vận dụng KTKN vào các tình huống học tập gắn với thực tiễn đời sống.

+ Cấu trúc, nội dung chương trình được lựa chọn mang tính cốt lõi (không lý thuyết hàn lâm theo logic hệ thống chuyên ngành của môn học).

* Khái niệm “Năng lực” là một vấn đề rộng, với nhiều cách định nghĩa khác nhau:

Năng lực là sự tích hợp các kỹ năng tác động một cách tự nhiên lên các nội dung trong một loại tình huống cho trước để giải quyết những vấn đề do những tình huống này đặt ra”

(Xavier Roegiers: “Khoa sư phạm tích hợp - hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”- NXBGD. 1996).

Hoặc như ý kiến của GS.TS Đinh Quang Báo lấy dấu hiệu từ các yếu tố tạo thành khả năng hành động: “Năng lực là khả năng vận dụng những kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phù hợp và có hiệu quả trong các tình huống đa dạng của cuộc sống” (Hội thảo: “Đổi mới chương trình và sách giáo khoa GD phổ thông - kinh nghiệm quốc tế và vận dụng vào VN” do Bộ GD-ĐT tổ chức 10-12/12/1012 tại Hà Nội).

* Trong GD theo định hướng năng lực HS, quan trọng là xác định rõ những năng lực cần có và có thể phát triển trong dạy học của mỗi môn học/cấp học; trong đó gồm “năng lực chung” có thể phát triển ở các môn học khác nhau và “năng lực riêng” phát triển theo đặc trưng từng môn học.

* Hệ thống năng lực cần phát triển ở HS có nhiều loại khác nhau và được xây dựng khái quát bao gồm bốn thành phần như sau:

(1)- Năng lực chuyên môn: gắn liền với khả năng nhận thức và tâm lý vận động

(2)- Năng lực phương pháp: khả năng về cách thức tiếp nhận, sử lý chuyển hoá nhằm thực hiện, giải quyết vấn đề hiệu quả.

(3)- Năng lực xã hội: khả năng giao tiếp, tương tác trong cộng đồng, xã hội.

(4)- Năng lực cá thể: chủ động, tự chủ, tự tin, khẳng định bản thân trong quan hệ ứng sử, giải quyết các vấn đề, thực hiện nhiệm vụ hành động hay trong tư duy nhận thức.
* Bốn thành phần của năng lực nêu trên tương ứng với mục đích học tập:“Học để hiểu biết - Học để làm việc - Học để cùng chung sống - Học để thành người (tự khẳng định bản thân)” - một tuyên ngôn của tổ chức UNESCO, đã được các nhà sư phạm xác định là “bốn cột trụ của GD” và cũng là mục tiêu xã hội và GD nhà trường cần hướng tới.
b. Định hướng chuẩn đầu ra về “phẩm chất và năng lực” của Chương trình:

* Phẩm chất:

(1)- Yêu gia đình, yêu quê hương đất nước;

(2)- Nhân ái, khoan dung;

(3)- Trung thực, tự trọng, chí công vô tư;

(4)- Tự lập, tự tin, tự chủ và có tinh thần vượt khó;

(5)- Có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên;

(6)- Thực hiện nghĩa vụ đạo đức, tôn trọng chấp hành kỷ luật và pháp luật.

* Các năng lực chung: được phát triển từ các môn học khác nhau của chương trình GD, như:

(1)- Năng lực tự học; (2)- Năng lực giải quyết vấn đề;

(3)- Năng lực sáng tạo; (4)- Năng lực tự quản lý;

(5)- Năng lực giao tiếp; (6)- Năng lực hợp tác;

(7)- Năng lực sử dụng CNTT và truyền thông;

(8)- Năng lực sử dụng ngôn ngữ; (9)- Năng lực tính toán.

* Các năng lực riêng: tuỳ theo đặc trưng của môn học.
(2)- Về PPDH: Thay đổi vai trò GV và HS trong quá trình dạy học:

- GV: người tổ chức, hướng dẫn HS (cá nhân, cặp đôi, nhóm, cả lớp) học tập thông qua hoạt động, nhằm rèn luyện và phát triển nhận thức, kỹ năng ứng dụng trong học tập và thực tế đời sống.

+ Phối hợp linh hoạt các PPDH tích cực, thực hiện đổi mới đồng bộ các thành tố của QTDH trong giảng dạy trên lớp. Ứng dụng hợp lý, có hiệu quả CNTT trong dạy học.

+ Lựa chọn một số PPDH truyền thống có yếu tố phát huy tính tích cực học tập của HS (thực hành, vấn đáp có tính chất mở..)

+ Chú trọng hướng HS phát hiện và giải quyết vấn đề trong học tập bám sát thực tiễn.

+ Đa dạng các hình thức tổ chức dạy học phù hợp với đặc trưng môn học, bài học.

- HS: Là chủ thể trong quá trình học tập với ý thức chủ động, tích cực và sáng tạo.
(3)- Về KTĐG: Hướng vào sự phát triển năng lực của mỗi cá nhân HS

- Nội dung, phương pháp KTĐG, chú trọng khả năng vận dụng KTKN với các tình huống khác nhau trong học tập (khám phá kiến thức mới, bài tập thực hành) và thực tế đời sống.

- Kết quả KTĐG căn cứ mục tiêu bài học và Chuẩn KTKN theo định hướng năng lực và mục tiêu GD nhận thức thẩm mĩ đối với HS. Không có tính chất so sánh giữa các HS với nhau.

- Thang đo đánh giá theo mức độ năng lực và mức độ phát triển của mỗi HS (không dựa theo nội dung kiến thức cụ thể).

- Tăng cường đánh giá thường xuyên bằng nhận xét góp ý hỗ trợ HS phát triển (gắn liền với quá trình dạy học), kết hợp đánh giá đầu ra theo mục tiêu năng lực.

- Tạo cơ hội HS được tham gia đánh giá: tự đánh giá và đánh giá đồng đẳng trong học tập. Có thể phối hợp giữa nhà trường - gia đình - cộng đồng, trong KTĐG học tập của HS.

- Tiếp nhận thông tin phản hồi của HS, điều chỉnh nội dung và PPDH phù hợp với khả năng học tập của HS.
* Học viên căn cứ những yêu cầu về KTĐG theo định hướng phát triển năng lực, để so sánh với cách thức KTĐG hiện hành ở cấp THCS.
II- 1. Về PPDH nhằm chú trọng phát triển năng lực HS

1.1. Yêu cầu đổi mới PPDH cần quan tâm tới những vấn đề sau:

- Tích cực hoá HS phát triển nhận thức, quan tâm rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề có tính phức hợp, gắn liền với tình huống thực tế cuộc sống.

- Trong dạy học, phát triển KTKN thông qua hoạt động thực hành ứng dụng với các hình thức học tập: cá nhân, nhóm, cả lớp, trong mối quan hệ tương tác giữa GV-HS và HS-HS.

- Dạy học phải phát huy được tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của HS nhằm hình thành và phát triển năng lực tự học có phương pháp (sử dụng SGK, tài liệu phát hiện khám phá tri thức, ghi chép, nghe giảng có phân tích sử lý thông tin…).

- Trên cơ sở mục tiêu, NDDH và đối tượng HS, linh hoạt sử dụng các PPDH chung và đặc trưng môn học kết hợp các hình thức tổ chức, phương tiện dạy học phù hợp (sử dụng hiệu quả phương tiện CNTT) nhằm tổ chức hướng dẫn HS học tập thông qua hoạt động.

- PPDH gắn liền KTĐG trong quá trình dạy học phát triển năng lực HS, chú trọng tạo cơ hội HS tự đánh giá, đánh giá đồng đẳng có sự hỗ trợ của GV.



1.2. Biện pháp đổi mới PPDH

(1). Cải tiến, sử dụng hợp lý PPDH truyền thống;

(2). Kết hợp đa dạng các PPDH, trong đó coi trọng các PPDH đặc trưng môn học và kỹ thuật dạy học nhằm phát huy tính tích cực học tập của HS;

(3). Thực hiện DH theo hướng hành động và tổ chức hoạt động học đối với HS;

(4). Vận dụng dạy học theo tình huống;

(5). Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề;

(6). Sử dụng hiệu quả các phương tiện dạy học, áp dụng hợp lý CNTT trong DH

(7). Bồi dưỡng phương pháp học tập (cách học) tích cực đối với HS.


II- 2. Về KTĐG theo năng lực HS biểu hiện những dấu hiệu cơ bản sau:

2.1. Mục đích chủ yếu: đánh giá khả năng HS vận dụng KTKN vào giải quyết vấn đề thực tiễn học tập và cuộc sống.

2.2. Ngữ cảnh KTĐG: Gắn với thực tế học tập và cuộc sống của HS.

2.3. Nội dung KTĐG: Những KTKN và thái độ ở nhiều lĩnh vực học tập và tích hợp với môn học khác; thông qua nhiều hoạt động GD và trải nghiệm của HS trong cuộc sống.

Quy chuẩn theo các mức độ phát triển năng lực HS.



2.4. Công cụ KTĐG: Nhiệm vụ, bài tập trong tình huống, bối cảnh thực tế.

2.5. Thời điểm KTĐG: trong mọi thời điểm và gắn liền với quá trình học tập của HS.

2.6. Kết quả KTĐG: Năng lực HS phụ thuộc vào độ khó của nhiệm vụ học tập hoặc kết quả bài tập thực hành. Mức độ nhiệm vụ và bài tập càng khó, là biểu hiện năng lực cao hơn.
II- 3. Một số loại bài tập theo định hướng năng lực:

3.1. Bài tập học: phục vụ yêu cầu phát hiện, chiếm lĩnh tri thức mới hoặc luyện tập thực hành vận dụng KTKN đã học.

3.2. Bài tập đánh giá: phục vụ kiểm tra định kỳ, đánh giá học tập cuối học kỳ, năm học.

3.3. Bài tập đóng: HS lựa chọn câu trả lời dựa trên câu hỏi cho trước (chọn một trong bốn)

3.4. Bài tập mở: HS thực hiện nhiệm vụ, yêu cầu bài tập bằng KTKN, thái độ và sự trải nghiệm theo năng lực cá nhân không phụ thuộc sách vở.

3.5. Các loại bài tập dựa trên các mức độ nhận thức:

(1)- Bài tập tái hiện: kết quả của việc nhận biết tri thức đã học.

(2)- Bài tập vận dụng: HS sử dụng KTKN thực hiện bài tập trong tình huống không biến đổi của bài học, nhằm củng cố, rèn luyện tri thức đã học.

(3)- Bài tập giải quyết vấn đề: đòi hỏi HS suy ngẫm, tư duy phân tích, tổng hợp nhằm vận dụng sáng tạo trong nhiệm vụ học tập có tình huống biến đổi và thực tế cuộc sống.

(4)- Bài tập gắn với bối cảnh và tình huống thực tiễn: đặt ra những nhiệm vụ và những yêu cầu có tính mở, HS chủ động thực hiện nhiệm vụ và giải quyết vấn đề bằng các phương pháp tiếp cận nội dung và hình thức hoạt động khác nhau (như “Dự án học tập”).
II- 4. Các cấp độ nhận thức trong học tập (dựa trên kết quả nghiên cứu của Benjamin Bloom):

(1). Biết: Câu hỏi mục đích kiểm tra trí nhớ, thể hiện sự nhận biết, thuộc nội dung bài học.

- Biểu hiện: kể lại, mô tả được các hiện tượng, bộ phận chi tiết; làm được bài tập thực hành từ KTKN đã học ở mức độ bình thường.

(2). Hiểu: Đặt ra yêu cầu đối với HS vận dụng sự thông hiểu bài học, liên hệ liên kết kiến thức khi nhận thức nội dung bài học và trong hoạt động thức hành.

- Biểu hiện: Hiểu được ý nghĩa của thông tin, biết tóm tắt nội dung theo suy nghĩ bản thân bằng cách diễn đạt khác (không cần thuộc lòng theo sách), thực hiện đúng yêu cầu KTKN bài học và trong hoạt động thực hành, đạt hiệu quả.

(3). Áp dụng: Nêu ra vấn đề, nhiệm vụ học tập nhằm phát triển nhận thức, kiểm tra khả năng sử dụng KTKN để giải quyết vấn đề, áp dụng những điều đã học trong thực tế học tập có biến đổi .

- Biểu hiện: Vận dụng thực hiện được KTKN đã học trong các trường hợp cụ thể của bài học hoặc liên hệ với nội dung học tập khác; áp dụng vào bài học thực hành có kết quả.

(4). Phân tích: Mục đích phát triển tư duy logic, khả năng phân tích phát hiện ý nghĩa tiềm ẩn của nội dung học tập, các mối quan hệ của kiến thức, chứng minh đưa ra kết luận.

- Biểu hiện: Dựa trên KTKN đã học để nhận xét so sánh, phân loại, nêu ra sự khác biệt của bộ phận, từng phần nội dung vấn đề; lí giải, phân tích về sản phẩm của mình, của người khác.

(5). Đánh giá: Mục đích phát triển năng lực tư duy qua lập luận của bản thân; năng lực đánh giá so sánh, phân biệt về bản chất các nội dung kiến thức dựa trên suy luận hợp lí.

- Biểu hiện: Biết phân tích tổng hợp, bình luận; chủ động trình bày nhận định bằng ý kiến cá nhân về bản chất vấn đề, hay kết quả thực hành của bản thân và của người khác.

(6). Sáng tạo: Nhằm khơi gợi năng lực tư duy sáng tạo; giải quyết vấn đề có tính chủ động, độc lập và phát triển trí tưởng tượng; khả năng tạo ra cái mới từ những điều đã biết, đã học.

- Biểu hiện: Ứng dụng thực tế có biến đổi, ý tưởng suy nghĩ mới lạ; kết quả độc đáo khác biệt.
4.b. Các dạng bài tập KTĐG vận dụng từ các cấp độ nhận thức của Benjamin Bloom

(tương tự như các dạng bài tập đã trình bày ở mục II- 3.5)

(1). Tái hiện: nhận biết, tái tạo KTKN trong tình huống không thay đổi.

(2). Hiểu và vận dụng: Nắm vững ý nghĩa bản chất của nội dung KTKN vận dụng được trong tình huống đã biến đổi.



(3). Xử lý, giải quyết vấn đề: dựa trên KTKN, thái độ của bản thân, sáng tạo vận dụng hiệu quả (độc đáo, mới lạ) trong việc thực hiện nhiệm vụ học tập ở các tình huống biến đổi trong học tập và thực tiễn đời sống.








Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương