PHẦn mở ĐẦu i/- sự cần thiết phải quy hoạch phát triển cơ sở kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (lpg) trên địa bàn tỉnh đến năm 2020


KIM NGẠCH XUẤT KHẨU TỈNH ĐỒNG NAI 2001 – 2010



tải về 0.73 Mb.
trang2/5
Chuyển đổi dữ liệu19.08.2016
Kích0.73 Mb.
1   2   3   4   5

KIM NGẠCH XUẤT KHẨU TỈNH ĐỒNG NAI 2001 – 2010

Đơn vị: Triệu USD

DIỄN GIẢI

2000

2005

2010

TĐPT

2001-2005

2006-2010

1. Kim ngạch xuất khẩu

1.480

3.185

7.546

16,56

18,82

2. KN B/q đầu người (USD)

726

1.438

2.936

14,64

15,34

3. KNXK B/q Cả nước

191

394

830

15,52

16,12

Niên giám thống kê tỉnh Đồng Nai, cả nước.

Kim ngạch xuất khẩu bình quân đầu người của tỉnh năm 2005 đạt 1.438 USD trong khi mức bình quân của cả nước là 393 USD. Năm 2010 kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh đạt 7.546 triệu USD chiếm 10,45 % tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước. Bình quân kim ngạch xuất khẩu theo đầu người năm 2010 đạt cao hơn mức bình quân cả nước. (Đồng Nai/cả nước: 2.936/830 USD).

* Về cơ cấu xuất khẩu: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của khu vực các doanh nghiệp trong nước đóng trên địa bàn tỉnh chiếm tỷ trọng nhỏ khoảng 7,68% (năm 2010) Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng đa số. Năm 2006 kim ngạch xuất khẩu của doanh nghiêp FDI: 3.922 triệu USD, đến năm 2010 tăng lên 6.966 triệu USD tốc độ tăng trưởng giai đoạn 2006-2010: 15,44%/năm. Xuất khẩu trực tiếp chiếm tỷ trọng 98,35% Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa trên địa bàn.

* Mặt hàng xuất khẩu.

Trong cơ cấu hàng xuất khẩu của tỉnh các năm qua cho thấy hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp luôn chiếm tỷ trọng lớn; Năm 2010, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp đạt kim ngạch: 6.761 triệu USD chiếm tỷ trọng 89,6%; hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 337 triệu USD chiếm tỷ trọng 4,46%; mặt hàng nông sản đạt kim ngạch 152 triệu USD chiếm tỷ trọng 2%; Lâm sản đạt kim ngạch 168 triệu USD chiếm khoảng 2,22%, các mặt hàng khác 128 triệu USD chiếm khoảng 1,7%. Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực gồm: Điện tử, giày dép, dệt may…các mặt hàng nông lâm sản tuy chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng có tốc độ phát triển khá.

* Thị trường xuất khẩu: Bao gồm các nước Châu Á (50%), Châu Mỹ (33%) Châu Âu (15%) … Hoa Kỳ là thị trường lớn nhất với các sản phẩm dệt may, giày dép, sản phẩm gỗ; Nhật bản, Trung Quốc, Hàn Quốc cũng là những thị trường xuất khẩu trọng điểm của tỉnh, bình quân chiếm khoảng 25%.



b2- Tình hình nhập khẩu: Năm 2001 kim ngạch nhập khẩu đạt 1.697,21triệu USD; năm 2005 kim ngạch nhập khẩu đạt 4.183 triệu USD tăng lên 9.167 triệu USD năm 2010 mức tăng bình quân giai đoạn 2001-2005: 25,29%/năm; giai đoạn 2006-2010: 16,99%/năm. Mức tăng kim ngạch nhập khẩu của Đồng Nai trong những năm qua tương đối đều và ổn định đã đáp ứng việc cung cấp nguyên vật liệu cho sản xuất và chế biến hàng xuất khẩu.

* Mặt hàng nhập khẩu: Mặt hàng nhập khẩu trên địa bàn tỉnh thời gian qua tập trung chủ yếu vào nhóm hàng tư liệu sản xuất (84%). Hàng tiêu dùng chiếm tỷ trọng thấp (12,2%).

Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu gồm hoá chất công nghiệp, vải may mặc, phụ liệu hàng may mặc, phụ tùng máy móc thiết bị sản xuất, bột giấy, tơ sợi, máy tính và linh kiện…

Nhìn chung hoạt động xuất nhập khẩu trên địa tỉnh từ năm 2006 đến nay luôn ổn định và có tốc độ tăng trưởng khá; tốc độ phát triển xuất khẩu tăng 18,82%/năm; nhập khẩu tăng 16,98%/năm; tuy kim ngạch nhập khẩu luôn lớn hơn kim ngạch xuất khẩu song đây là mức nhập siêu cần thiết để đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản xuất, chế biến hàng xuất khẩu.

4/ Tình hình phát triển mạng lưới phân phối bán buôn, bán lẻ.

a/ Hoạt động bán buôn trên địa bàn tỉnh. Hoạt động bán buôn cung ứng hàng công nghiệp tiêu dùng, vật tư thiết bị trên địa bàn tỉnh chủ yếu do các nhà sản xuất và các doanh nghiệp trung ương thực hiện; hàng nông sản thực phẩm do các doanh nghiệp trong tỉnh tổ chức thông qua hệ thống các Trung tâm thương mại, siêu thị, cửa hàng chuyên doanh ở thành phố, thị xã, thị trấn và hệ thống chợ ở các vùng nông thôn.

b/ Hoạt động bán lẻ.

Hiện nay thị trường bán lẻ trên địa bàn tỉnh rất phong phú và đa dạng với nhiều thành phần kinh tế tham gia trong đó doanh nghiệp có vốn nhà nước chiếm 6,7% thị phần; Doanh doanh nghiệp ngoài nhà nước chiếm 88,28% trong đó: tập thể 0,17%, Tư nhân: 49,26%, hộ cá thể: 38,84%; Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài 5,03%.

Nhiều loại hình bán lẻ trên thị trường đã đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân. Tại các đô thị và khu dân cư tập trung, khu công nghiệp các trung tâm thương mại, siêu thị đã phát huy tác dụng làm thay đổi tập quán tiêu dùng hướng tới phát triển nền thương mại văn minh hiện đại phù hợp với tác phong và nếp sống công nghiệp, tại các khu công nghiệp, các vùng nông thôn hệ thống chợ dân sinh đã đáp ứng nhu cầu tiêu thụ hàng hoá nông sản cho nông dân và cung ứng các mặt hàng thông thường phục vụ nhu cầu của những người có thu nhập trung bình.

Hiện tại trên địa bàn tỉnh có: 2 Trung tâm thương mại; 6 siêu thị; 216 điểm chợ và khoảng hơn 50 ngàn điểm bán lẻ của các hộ cá thể.

Mạng lưới cửa hàng bán lẻ không ngừng phát triển về số lượng, quy mô và chất lượng phục vụ. Tuy vậy, ở thành phố, thị trấn các cửa hàng có quy mô lớn hơn, thiết bị hiện đại, khang trang, hàng hoá phong phú hơn, đặc biệt có nhiều cửa hàng chuyên doanh một số thương hiệu phát triển mạnh cả về bề rộng lẫn chiều sâu. Ở những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, nhiều thương nhân đã tổ chức các hình thức đại lý, ủy thác, bán hàng lưu động, phục vụ tận nhà, bán hàng qua điện thoại…đáp ứng tương đối tốt nhu cầu sản xuất và đời sống. Bên cạnh đó, các nhà sản xuất ngày càng chú trọng nhiều hơn việc phát triển mạng lưới phân phối riêng thông qua khách hàng đại lý và các nhà phân phối lớn, các công ty TNHH, doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể. Vì vậy, các cửa hàng, cửa hiệu kinh doanh độc lập đang có xu hướng phát triển theo hướng phân chia lĩnh vực và địa bàn hoạt động. Cửa hàng tiện ích, cửa hàng tự chọn đang hình thành và phát triển với quy mô nhỏ làm tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ và lâu dài trong giai đoạn sau.

PHẦN THỨ NHẤT
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN HỆ THỐNG CƠ SỞ KINH DOANH KHÍ DẦU MỎ HOÁ LỎNG (LPG)TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐỒNG NAI.

I/- Các yếu tố tác động đến thực trạng phát triển cơ sở kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh.

1/ Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên xã hội của tỉnh.

a) Điều kiện tự nhiên.

Đồng Nai là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; Có diện tích tự nhiên 5.907,23 km2 chiếm 1,76% diện tích tự nhiên cả nước và 25,5% diện tích tự nhiên của vùng Đông Nam Bộ. Dân số toàn tỉnh theo số liệu thống kê trung bình năm 2010 là 2.569.442 người, mật độ dân số: 435 người/km2

Tỉnh có 11 đơn vị hành chính trực thuộc gồm: Thành phố Biên Hòa - là trung tâm chính trị kinh tế văn hóa của tỉnh; Thị xã Long Khánh và 9 huyện: Long Thành; Nhơn Trạch; Trảng Bom; Thống Nhất; Cẩm Mỹ; Vĩnh Cửu; Xuân Lộc; Định Quán; Tân Phú.

Đồng Nai có hệ thống giao thông thuận tiện với nhiều tuyến đường huyết mạch quốc gia đi qua như quốc lộ 1A, quốc lộ 20, quốc lộ 51; tuyến đường sắt Bắc - Nam; gần cảng Sài Gòn, sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất… đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh tế trong vùng cũng như giao thương với cả nước đồng thời có vai trò gắn kết vùng Đông Nam Bộ với Tây Nguyên.

Đồng Nai nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Nhiệt độ trung bình năm 25 – 270C, tháng lạnh nhất cũng không dưới 23,50C, số giờ nắng trong năm 2.500 – 2.860 giờ, độ ẩm trung bình 80 – 82%.

Tổng năng lượng bức xạ trung bình hàng năm khoảng 110 – 120 kcal/cm2 và phân bố đều qua các tháng. Tháng 12 nhỏ nhất là 7,5 – 8,5 kcal/cm2; tháng 4 cao nhất là 13,5 kcal/cm2.  

Trong năm ở Đồng Nai có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, lượng mưa tương đối lớn, trung bình năm 1.700 – 1.800 mm. Mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau, thời tiết nắng, nóng, độ ẩm thấp, có khi xuống dưới 70%.

+ Đất đai: Đồng Nai có quỹ đất phong phú và phì nhiêu. Có 10 nhóm đất chính. Tuy nhiên theo nguồn gốc và chất lượng đất có thể chia thành 3 nhóm chung sau:

- Các loại đất hình thành trên đá Bazan: Gồm đất đá bọt, đất đen, đất đỏ có độ phì nhiêu cao, chiếm 39,1% diện tích tự nhiên (229.416 ha), phân bố ở phía bắc và đông bắc của tỉnh. Các loại đất này thích hợp cho các cây công nghiệp ngắn và dài ngày như: cao su, cà phê, tiêu…

- Các loại đất hình thành trên phù sa cổ và trên đá phiến sét như đất xám, nâu xám, loang lổ chiếm 41,9% diện tích tự nhiên (246.380 ha), phân bố ở phía Nam, Đông Nam của tỉnh (huyện Vĩnh Cửu, Thống Nhất, Biên Hoà, Long Thành, Nhơn Trạch). Các loại đất này thường có độ phì nhiêu kém, thích hợp cho các loại cây ngắn ngày như đậu, đỗ…một số cây ăn trái và cây công nghiệp dài ngày như cây điều…

- Các loại đất hình thành trên phù sa mới như đất phù sa, đất cát. Phân bố chủ yếu ven các sông như sông Đồng Nai, La Ngà. Chất lượng đất tốt, thích hợp với nhiều loại cây trồng như cây lương thực, hoa màu, rau quả…

- Rừng Đồng Nai có thảm thực vật khá phong phú và đa dạng sinh học, diện tích rừng hiện có là 194.971,3 ha, trong đó rừng tự nhiên là 155.804,6 ha, rừng trồng là 45.574,2 ha. Đối với rừng tự nhiên, phần lớn nằm ở phía Bắc của tỉnh, thuộc trách nhiệm quản lý của Vườn quốc gia Cát Tiên, Khu Bảo tồn thiên nhiên và Di tích Vĩnh Cửu; Công ty Lâm nghiệp La Ngà và Ban quản lý Rừng phòng hộ Tân Phú. Rừng Đồng Nai có nhiều loại gỗ quý như: Cẩm lai, Trắc, Gõ đỏ, Gõ mật, Cẩm thị, Vên vên; 4 loài cây đặc hữu của địa phương là Côm Đồng Nai, Ngâu Biên Hòa, Cồng tía, Hoàng mộc; các loài cây nằm trong danh mục có nguy cơ tuyệt chủng như Dầu rái, Sao đen , Sến mũ, Dầu song nàng, Chò chỉ và nhiều cây có giá trị kinh tế như Dầu mít, Dầu lông, Chiêu liêu, Làu táu…

Ngoài giá trị về kinh tế rừng Đồng Nai còn có tác dụng điều hoà khí hậu, cân bằng sinh thái, giữ nước và ngăn lũ thượng nguồn.  

b) Các yếu tố xã hội.

* Nguồn nhân lực.

Dân số trung bình năm 2010 của tỉnh có 2.569.442 người, trong đó dân số đô thị chiếm 27,06% dân số; dân cư nông thôn chiếm 66,57%. Mật độ dân cư ở mức 435 người/km2 cao hơn so với mật độ trung bình của cả nước (263 người/km2) nhưng thấp hơn trung bình vùng Đông Nam Bộ (617 người/km2) Dân cư phân bố không đều; trong đó thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh và các huyện Trảng Bom, Thống Nhất có mật độ cao trên 600 người/km2; các huyện Định Quán, Tân Phú, Vĩnh Cửu có mật độ xấp xỉ trên dưới 200 người/km2.

Năm 2010, lao động trong độ tuổi đang làm việc trong các ngành kinh tế có 1.398.192 người chiếm 54,41% dân số, lực lượng lao động trong nền kinh tế đã qua đào tạo nghề, đào tạo kỹ thuật chiếm khoảng 53% trong đó có 40% được đào tạo nghề và dự báo đến 2015 số lao động được đào tạo chiếm tỷ trọng 65%/ tổng số lao động. Chất lượng lao động sẽ được tăng lên đáng kể, đáp ứng được nhu cầu lao động phục vụ cho việc đẩy nhanh tốc độ phát triển các ngành kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

* Hệ thống giao thông.

Đồng Nai nằm trên đầu mối giao thông quan trọng của khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam, có nhiều điều kiện thuận lợi cả về đường bộ, đường thuỷ, đường sắt và đường hàng không để thu hút đầu tư, phát triển kinh tế - xã hội.

Trong tương lai hệ thống giao thông trên địa bàn tỉnh sẽ tiếp tục được nâng cấp, mở rộng và đầu tư mới như trục đường bộ các nước khu vực Đông Nam Á, đường cao tốc nối TP. Hồ Chí Minh với Bà Rịa - Vũng Tàu, hệ thống đường sắt Biên Hòa - Vũng Tàu, kế hoạch nối mạng đường sắt Singapore - Côn Minh (Trung quốc) có 50 km chạy qua Đồng Nai để hòa vào mạng lưới đường sắt Bắc - Nam được cải tạo theo tiêu chuẩn quốc tế.

Mạng lưới giao thông đến năm 2020 ở Đồng Nai sẽ hòa với mạng lưới giao thông quốc gia từ quốc lộ, đường vành đai, đường cao tốc, sân bay quốc tế đến các cảng biển. Về đường bộ sẽ mở hàng loạt các đường cao tốc như: Biên Hòa – Vũng Tàu; TPHCM - Long Thành - Dầu Giây; Dầu Giây – Đà Lạt. Ngoài ra, dự kiến sẽ hình thành các tuyến cao tốc trong vùng như: tuyến Long Thành - Cẩm Mỹ - Xuân Lộc; tuyến cao tốc Bắc - Nam và tuyến cao tốc Bến Lức - Nhơn Trạch - Long Thành.

+ Hệ thống đường vành đai Thành phố Biên Hòa và đường vành đai vùng kinh tế trọng điểm phía Nam sẽ được chú trọng đầu tư ngang tầm với sự phát triển Kinh tế-xã hội của khu vực, theo tiêu chuẩn đường cấp I - cấp II, với 4 - 6 làn xe.

+ Hệ thống đường tỉnh sẽ mở thêm 16 tuyến với chiều dài trên 390 km theo tiêu chuẩn đường cấp III, với lộ giới 45m, hàng lang an toàn 15m mỗi bên.

+ Đối với hệ thống giao thông đường sắt, sẽ chuyển tuyến đường sắt Bắc - Nam từ ga Trảng Bom xuống khu vực ga Biên Hòa mới, đến cầu Đồng Nai dài 18,5km. Từ ga Biên Hòa mới sẽ mở tuyến đi Bà Rịa - Vũng Tàu, với dự kiến mở thêm nhánh từ ga Long An vào khu vực cảng Phú Hữu, KCN Ông Kèo và cảng Phước An dài 32km. Ngoài ra sẽ triển khai thêm hệ thống đường sắt trên cao ở nội ô TP. Biên Hòa và từ TP. Biên Hòa đi TP.HCM.

+ Hệ thống đường hàng không: Trong tương lai sân bay Long Thành sẽ được đầu tư theo tiêu chuẩn quốc tế có năng lực thiết kế từ 80 - 100 triệu hành khách/năm, trở thành sân bay lớn nhất phía Nam và cả nước.

+ Về hệ thống đường thủy và cảng, tiếp tục đầu tư nâng cấp và xây mới hàng loạt các cảng sông, cảng biển với quy mô đáp ứng các tàu quốc tế có trọng tải lớn như: các cảng tiềm năng phục vụ các Khu công nghiệp Tam Phước, An Phước; các cảng trên khu vực sông Thị Vải như: cảng chuyên dụng Phước Thái, Khu cảng Gò dầu A, Gò Dầu B.

Nhìn chung hệ thống giao thông của tỉnh có lợi thế và đa dạng; nếu được đầu tư đồng bộ sẽ góp phần quan trọng đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh.



2/. Tổng quan tình hình phát triển kinh tế xã hội của tỉnh giai đoạn 2006-2010.

2.1) Tình hình tăng trưởng kinh tế (1).

Trong những năm qua GDP của tỉnh liên tục tăng nhanh và khá ổn định. Năm 2005 tổng GDP đạt 19.178,89 tỷ đồng đến năm 2010 đạt 36.202,47tỷ đồng gấp 1,88 lần so với năm 2005. Trong đó các ngành nông lâm ngư nghiệp năm 2005 đạt 3.022,53 tỷ đồng, năm 2010 đạt 3.804,13 tỷ đồng gấp 1,25 lần so với năm 2005; các ngành công nghiệp-xây dựng năm 2005 đạt 11.754,67 tỷ đồng đến năm 2010 đạt 23.555,09 tỷ đồng, gấp 2,0 lần so với năm 2005; các ngành dịch vụ năm 2005 đạt 4.401,69 tỷ đồng, đến năm 2010 đạt 8.843,25, tỷ đồng, gấp 2,0 lần so với năm 2005.

Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 13,54%/năm; cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân 5 năm 2001-2005 (12,86%). Trong đó ngành công nghiệp xây dựng tăng bình quân là 14,91%/năm, dịch vụ tăng bình quân 14,97%/năm, ngành nông nghiệp và thuỷ sản tăng bình quân 4,5%/năm.



Cơ cấu kinh tế tiếp tục được chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp, dịch vụ; giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp thuỷ sản. Đến năm 2010 ngành công nghiệp xây dựng chiếm 57,2%, ngành dịch vụ chiếm 34,2%, ngành nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 8,6%. Giảm tỷ trọng nông lâm nghiệp và thuỷ sản từ 20,97% năm 2001 xuống còn 14,96% năm 2005 và còn 8,60% năm 2010; dịch vụ tăng từ 25,44% năm 2001 lên 28,04% năm 2005 và 34,20% năm 2010. GDP bình quân đầu người năm 2010 đạt 14,08 triệu đồng (giá 94) tăng gấp hơn 2,5 lần so với năm 2001 và tăng gấp 1,66 lần năm 2005.

TÌNH HÌNH TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ

(GIÁ SO SÁNH 1994)

Đơn vị tính: Tỷ đồng

Diễn giải

2000

2005

2010

Tốc độ tăng trưởng (%)

2001-2005

2006-2010

1.Tổng GDP

10.473,28

19.178,89

36.202,47

12,86

13,54

- Khu vực I

2.420,00

3.022,53

3.804,13

4,54

4,70

- Khu vực II

5.583,16

11.754,67

23.555,09

16,05

14,91

- Khu vực III

2.470,12

4.401,69

8.843,25

12,24

14,97

2. Cơ cấu GDP(%)

- Khu vực I

23,10

15,75

10,50

-7,35

-5,25

- Khu vực II

53,30

61,28

65,06

+7,98

+ 3,78

- Khu vực III

23,58

22,95

24,42

- 0,63

+ 1,47

3.GDP bình quân đầu người ( tr.đ )

5,13

8,66

14,0

+ 3,53

+ 5,34

2.2/ Tình hình phát triển của một số ngành kinh tế chủ yếu.



a) Sản xuất công nghiệp: Sản xuất công nghiệp tiếp tục phát triển với tốc độ tăng trưởng khá.

Năm 2010, quy mô GTSX công nghiệp (giá cố định 94) đạt 102.513 tỷ đồng, tăng gấp 2,41 lần năm 2005; tốc độ phát triển bình quân giai đoạn 2006-2010 đạt 19,23%/năm. Công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng tuyệt đại đa số trong tổng giá trị sản xuất công nghiệp (97,95%). Sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2010 bao gồm: Thép: 288.322 tấn; Dây điện: 231.248 km; máy bơm nước: 1.543 cái; bột giặt: 115.909 tấn; quần áo may sẵn: 188,30 triệu cái; giấy các loại: 129.189 tấn; đồ hộp: 32.248 tấn; săm lốp xe đạp, xe máy: 38,97 triệu cái; quạt dân dụng: 32.120 cái; tivi các loại: 214.980 cái; phân bón: 245.792 tấn; đường mật: 215.217 tấn; gạch các loại: 422,150 triệu viên; ngói các loại: 16,67 triệu viên; gạch men: 20,32 triệu m2

Cơ cấu GTSX công nghiệp chủ yếu là công nghiệp chế biến sản phẩm gia dụng; vật liệu xây dựng; dệt may, giày dép, thiết bị điện; công nghiệp khai thác; công nghiệp sản xuất và phân phối điện, khí dầu mỏ… các ngành công nghiệp cơ khí, chế tạo, công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp.

b) Sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản.

Giai đoạn 2006-2010, giá trị sản xuất nông nghiệp tăng khá, năm 2005 đạt 5.532,08 tỷ đồng (giá cố định 1994), năm 2010, giá trị sản xuất nông nghiệp, thuỷ sản đạt 7.067,77 tỷ đồng tăng 1,27 lần so với năm 2005; tốc độ phát triển giai đoạn 2006–2010 đạt bình quân 5,02%/năm.

+ Nhóm cây lương thực: gồm có lúa, khoai lang, bắp, củ mì cung cấp lương thực cho tiêu dùng của dân cư, sản xuất thức ăn chăn nuôi gia súc gia cầm, diện tích gieo trồng cây lương thực có xu hướng giảm; năm 2010 diện tích cây lương thực còn khoảng 132.380 ha với sản lượng khoảng 970 ngàn tấn. Sản lượng lương thực trong đó lúa gạo không đủ cân đối cho nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh phải bổ sung từ các nguồn bên ngoài.

+ Nhóm cây công nghiệp gồm các loại: Cà phê, cao su, hồ tiêu, điều với diện tích năm 2010 vào khoảng 123.003 ha, sản lượng đạt khoảng 137.488 tấn.

+ Nhóm cây ăn trái có diện tích 48.111 ha, sản lượng hàng năm 459.690 tấn.

+ Chăn nuôi gia súc, gia cầm: Đàn trâu, bò, heo đều có xu hướng giảm cả về tổng đàn và sản lượng; đàn trâu có 5.879 con (2006) giảm còn 3.895 con (2010); đàn bò giảm từ 107.744 con (2006) còn 80.657 con (2010); đàn heo giảm từ 1.273 ngàn con (2006) còn 1.119,8 ngàn con (2010).

Tuy vậy đàn dê và đàn gia cầm lại có bước phát triển khá: đàn dê tăng từ 39.803 con (2006) tăng lên 47.821 con (2010) và đàn gia cầm tăng từ 4.659 ngàn con (2006) lên 9.301 ngàn con vào năm 2010.

+ Thuỷ sản: Năm 2010 giá trị sản xuất ngành thuỷ sản đạt 697,77 tỷ đồng tăng 77% so với năm 2005. Sản lượng thuỷ sản đạt 39.627 tấn trong năm 2010 trong đó sản lượng khai thác đạt 3.482 tấn; sản lượng nuôi trồng đạt 36.145 tấn.

+ Giá trị sản xuất ngành Lâm nghiệp theo giá cố định năm 1994 đạt 95,92 tỷ đồng vào năm 2010 tăng gấp 1,57 lần GTSX năm 2005. Sản phẩm khai thác gồm: 68.206 m3 gỗ; 34.199 Ster củi; 599.000 cây tre luồng và 18.821 tấn nguyên liệu giấy.

Tổng sản phẩm nông lâm, thuỷ sản chiếm tỷ trọng 8,60% trong tổng GDP năm 2010 của tỉnh.

Thực tế cho thấy sản xuất nông lâm nghiệp, thuỷ sản của tỉnh trong những năm qua tuy chiếm tỷ trọng nhỏ song phát triển tương đối ổn định, góp phần đảm bảo cân đối lương thực, thực phẩm cho nhu cầu trong tỉnh và giải quyết việc làm cho nông dân vùng sâu, xa. Đóng góp tích cực trong sự nghiệp phát triển kinh tế của tỉnh.

c/ Hoạt động các lĩnh vực dịch vụ.

Giá trị tăng thêm của các ngành dịch vụ tăng bình quân 5 năm 2006-2010 là 14,9%/năm; năm 2008 các ngành dịch vụ có tốc độ tăng là 17,7% đây là mức tăng cao nhất trong những năm qua; Năm 2010 tỷ trọng các ngành dịch vụ chiếm 34,1% trong cơ cấu GDP của tỉnh; các ngành dịch vụ chất lượng cao phát triển mạnh như: tài chính, ngân hàng, dịch vụ phục vụ công nghiệp…đều có bước tăng trưởng khá góp phần nâng cao chất lượng ngành dịch vụ.

Hoạt động thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong các ngành dịch vụ. Hoạt động thương mại đã cơ bản đáp ứng yêu cầu tiêu dùng hàng hoá phục vụ sản xuất và đời sống. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2010 đạt 57.221 tỷ đồng gấp 2,7 lần năm 2006. Tăng trưởng bình quân 22,68%/năm giai đoạn 2001-2005, trong giai đoạn 2006-2010 tăng bình quân 26,93%/năm; Tăng trưởng bình quân cả thời kỳ 2001-2010: 22,50%/năm.

Số lượng doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại tăng nhanh, từ 1.332 doanh nghiệp năm 2006 tăng lên 2.880 doanh nghiệp vào năm 2010. Số hộ kinh doanh cá thể tăng từ 44.632 cơ sở năm 2006 tăng lên 51.894 cơ sở vào năm 2010. Doanh thu của các doanh nghiệp kinh doanh thương mại năm 2010 đạt 57.844 tỷ đồng.

Doanh nghiệp ngoài quốc doanh tăng nhanh về số lượng và quy mô, trong khi đó doanh nghiệp nhà nước từng bước được cổ phần hóa và hoạt động có hiệu quả hơn.

2.3/ Đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế xã hội đến nhu cầu và phát triển hệ thống cửa hàng kinh doanh khí dầu mỏ hóa lỏng (LPG).

Giai đoạn 2001-2010 kinh tế xã hội của tỉnh có tốc độ phát triển khá và ổn định; nhiều chỉ tiêu phát triển kinh tế-xã hội đã vượt trội so với quy hoạch và nghị quyết đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ VIII.

Kinh tế phát triển thu ngân sách tăng, nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội được đầu tư phát triển như: Hạ tầng giao thông, y tế, giáo dục, các công trình văn hóa xã hội góp phần cải thiện đời sống văn hóa cho cộng đồng dân cư.

Việc phát triển và tăng trưởng cao của các ngành kinh tế đã tạo ra nhiều việc làm và tăng thu nhập cho người lao động; việc tăng thu nhập đã tạo điều kiện cho người lao động có khả năng tài chính để nâng cao mức sống, sử dụng ngày càng nhiều các loại hình dịch vụ trong cuộc sống hàng ngày. Theo số liệu thống kê cho thấy giai đoạn 2006-2010 kinh tế tăng trưởng 13,54%/năm thì sản lượng LPG tiêu thụ trên địa bàn tỉnh tăng bình quân 12,51%/năm; như vậy trong những năm qua cứ GDP tăng 1% thì sản lượng LPG tiêu thụ trên địa bàn tỉnh tăng 0,92%.

Trong đó sản lượng LPG lưu thông qua các cửa hàng bán lẻ chủ yếu được sử dụng làm chất đốt trong các hộ gia đình và các hoạt động dịch vụ (khách sạn nhà hàng, quán ăn, khu du lịch)…LPG dùng trong công nghiệp chiếm tỷ trọng tương đối lớn nhưng được cung cấp trực tiếp bởi các doanh nghiệp đầu mối không thông qua hệ thống cửa hàng; Ngành giao thông vận tải chưa sử dụng LPG làm nhiên liệu cho các loại phương tiện.

Chính việc LPG được sử dụng chủ yếu trong hộ gia đình dẫn tới việc cửa hàng kinh doanh LPG tập trung đông ở các đô thị lớn, các khu công nghiệp, các khu dân cư tập trung và ở những nơi kinh tế phát triển, người dân có thu nhập cao. Có thể nói sản lượng tiêu thụ LPG phụ thuộc chủ yếu vào mật độ dân số, số hộ dân cư và mức thu nhập của người lao động.

II/- Thực trạng tình hình kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh.

1/ Các chủ thể kinh doanh LPG.

Kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh chủ yếu do thương nhân thuộc các thành phần kinh tế đảm nhiệm bao gồm các doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn và hộ cá thể thực hiện, trong đó hộ cá thể có đăng ký kinh doanh chiếm tuyệt đại đa số.

2/ Sản lượng LPG tiêu thụ giai đoạn 2006-2010.

2.1/ Sản lượng LPG tiêu thụ theo đơn vị hành chính:

Theo số liệu điều tra của Sở Công Thương Đồng Nai Năm 2010 sản lượng LPG tiêu thụ trên địa bàn tỉnh thực hiện 23.207.650 tấn tăng gấp 1,80 lần so với 2005; tốc độ tăng sản lượng bình quân hàng năm của tỉnh giai đoạn 2006-2010 đạt 12,51%/năm.

Mức tiêu thụ bình quân LPG/đầu người năm 2010 trên địa bàn tỉnh là 9,03kg/người/năm. Thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh, huyện Long Thành… là những địa phương có sản lượng tiêu thụ LPG bình quân tương đối cao; đạt bình quân 9-10kg/người/năm. Các địa phương có sản lượng tiêu thụ bình quân thấp là: Trảng Bom, Định Quán, Tân Phú, Cẩm Mỹ; mức bình quân 4-8kg/người/năm.

Tốc độ tăng sản lượng tiêu dùng hàng năm của các địa phương phổ biến ở mức 9-13%/năm. Trong đó có một số địa phương: Vĩnh Cửu, Trảng Bom, Tân Phú, TP Biên Hoà có mức độ tăng trưởng bình quân khá 12,5-13,8%/năm; Bình quân toàn tỉnh có tốc độ tăng trưởng khoảng 12,51%/năm.

2.2/ Sản lượng LPG tiêu thụ phân theo đối tượng tiêu dùng.

Qua theo dõi nhu cầu tiêu thụ LPG trên địa bàn tỉnh từ năm 2005 đến nay cho thấy tiêu thụ LPG trên địa bàn tỉnh chủ yếu phục vụ cho nhu cầu làm chất đốt trong các hộ gia đình, phục vụ sản xuất công nghiêp và trong kinh doanh thương mại dịch vụ (nhà hàng, khách sạn, quán ăn, các điểm du lịch…).

Qua số liệu thống kê tiêu thụ LPG cho thấy sản lượng LPG sử dụng trong công nghiệp có tỷ trọng tương đối khá nhưng có xu hướng giảm do giá LPG biến động thất thường làm cho giá thành sản phẩm sản xuất trong công nghiệp không ổn định; Hiệu quả kinh tế thấp, nhiều cơ sở công nghiệp buộc phải chuyển sang sử dụng các loại nhiên liệu khác thay thế. Năm 2005 sản lượng LPG dùng trong công nghiệp là 8.972 tấn đến năm 2006 tăng lên 11.733 tấn; nhưng đến năm 2010 chỉ còn khoảng 7.992 tấn. Tốc độ giảm bình quân hàng năm là -2,30%/năm.

Sản lượng LPG dùng trong công nghiệp chiếm tỷ trọng 34,92% tổng sản lượng giai đoạn 2006-2010. Trong đó thành phố Biên Hoà có tỷ trọng LPG dùng trong công nghiệp cao nhất, kế đó là các huyện Long Thành, Nhơn Trạch…; Các địa phương khác chưa đáng kể.

Hiện tại trên địa bàn tỉnh chưa có nhu cầu sử dụng LPG cho các phương tiện giao thông vận tải.

SẢN LƯỢNG LPG PHÂN THEO ĐỐI TƯỢNG TIÊU THỤ

STT

Năm

Tổng sản lượng

(tấn)


Phân theo đối tượng tiêu dùng

Tiêu dùng dân cư

Tỷ trọng

(%)


Công

nghiệp


Tỷ trọng

(%)


1

2005

21.841

12.869

58,92

8.972

41,07

2

2006

26.019

14.286

54,90

11.733

45,09

3

2007

28.145

16.655

59,17

11.490

40,82

4

2008

26.125

18.177

69,57

7.947

30,42

5

2009

28.364

20.024

70,59

8.340

29,41

6

2010

31.200

23.208

74,38

7.992

25,61

Cộng

161.694

105.219

65,07

56.474

34,92

Nguồn số liệu: Tổng hợp kết quả điều tra của sở Công Thương

III/ Thực trạng hệ thống cơ sở kinh doanh LPG.

1/- Hiện trạng phân bố hệ thống cửa hàng bán lẻ LPG trên địa bàn tỉnh:

Theo số liệu thống kê đến ngày 31 tháng 12 năm 2011 trên địa bàn tỉnh có 785 cửa hàng bán lẻ LPG; 5 kho chứa LPG và 18 trạm chiết nạp được phân bổ trên địa bàn huyện, thị xã, thành phố.

1.1/- TP Biên Hoà: 275 cửa hàng kinh doanh LPG chiếm 35,12%/tổng số.

1.2/- Thị xã Long Khánh: 30 cửa hàng (3,82%).

1.3/- Huyện Vĩnh Cửu: 45 cửa hàng (5,73%).

1.4/- Huyện Tân Phú: 38 cửa hàng (4,84%).

1.5/- Huyện Định Quán: 71 cửa hàng (9,04%).

1.6/- Huyện Xuân Lộc: 64 cửa hàng (8,15%).

1.7/- Huyện Trảng Bom: 77 cửa hàng (9,80%).

1.8/- Huyện Thống Nhất: 55 cửa hàng ( 7,00%).

1.9/- Huyện Long Thành: 56 cửa hàng (7,13%).

1.10/- Huyện Nhơn Trạch: 45 cửa hàng (5,73%).

1.11/- Huyện Cẩm Mỹ: 29 cửa hàng (3,69%).

THỰC TRẠNG PHÂN BỐ CỬA HÀNG LPG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH

ĐẾN 31-12-2010

STT

Tên Đơn vị

(TP, TX, Huyện)



CH
Hiện có

Diện tích
(km2)

Hộ dân

b/q theo DT
(km2/CH)

b/q theo hộ
(Hộ/CH)

Số Xã,
Phường

b/q
(CH/Xã,f)

Sản lượng
tiêu thụ

(kg)


b/q theo
sản lượng

(kg/CH)


1

TP.Biên Hoà

275

264

206.710

0,96

752

30

9

9.218.142

33.521

2

Long Khánh

30

192

33.913

5,82

1.028

15

2

1.724.846

52.268

3

Nhơn Trạch

45

411

41.864

9,13

930

12

4

1.648.214

36.627

4

Long Thành

56

431

50.198

7,70

896

15

4

2.514.212

44.897

5

Vĩnh Cửu

45

1.092

33.149

24,27

737

12

4

824.156

18.315

6

Trảng Bom

77

324

65.477

4,21

850

17

5

890.456

11.564

7

Thống Nhất

55

247

38.404

4,49

698

10

6

1.387.250

25.223

8

Xuân Lộc

64

726

53.225

11,34

832

15

4

1.834.251

28.660

9

Cẩm Mỹ

29

468

37.511

16,14

1.293

13

2

1.128.017

38.897

10

Định Quán

71

971

49.361

14,71

748

14

5

1.046.849

15.861

11

Tân Phú

38

776

40.005

20,42

1.053

18

2

990.987

26.079

Tổng số

785

5.902

649.817

7,54

830

171

5

23.207.650

29.639

Nguồn số lệu:Tổng hợp kết quả điều tra của Sở Công Thương

Như vậy sự phân bổ mạng lưới cửa hàng LPG trong thời gian qua chủ yếu tập trung ở một số địa bàn trọng điểm như: Thành phố Biên Hoà, thị xã Long Khánh huyện Trảng Bom, Long Thành, Thống Nhất là những địa phương có mật độ dân số cao và sản lượng LPG tiêu dùng cao hơn so với các địa phương khác trong tỉnh. Toàn tỉnh hiện còn 28 xã, phường chưa có cửa hàng kinh doanh LPG chiếm tỷ lệ 16,3% trên tổng số xã phường trong toàn tỉnh.



SẢN LƯỢNG TIÊU THỤ LPG THEO ĐỊA PHƯƠNG

Đơn vị tính:Kg

STT

Địa phương

2005

2006

2007

2008

2010

TĐPT

(%/năm)


1

TP.Biên Hoà

4.829.968

5.361.264

5.843.778

6.661.907

9.218.142

13,80

2

TX Long Khánh

823.914

914.545

1.382.120

1.492.320

1.724.846

15,92

3

Nhơn Trạch

1.081.951

1.200.966

1.309.053

1.492.320

1.648.214

8,78

4

Long Thành

1.563.849

1.735.872

1.892.101

2.248.752

2.514.212

9,96

5

Vĩnh Cửu

459.938

510.531

556.479

634.386

824.156

12,37

6

Trảng Bom

486.145

539.621

588.187

670.533

890.456

12,86

7

Thống Nhất

891.085

989.104

1.078.124

1.215.640

1.387.250

9,25

8

Xuân Lộc

987.254

1.095.852

1.194.479

1.425.412

1.834.251

13,19

9

Cẩm Mỹ

715.116

793.779

865.219

986.349

1.128.017

9,54

10

Định Quán

612.072

679.399

740.545

844.222

1.046.849

9,59

11

Tân Phú

418.673

464.726

506.552

577.469

990.987

18,80

TỔNG CỘNG

12.869.964

14.729.660

16.654.979

18.177.133

23.207.650

12,51

Nguồn số liệu: Số liệu điều tra của Sở Công Thương

Kết quả điều tra và khảo sát thực tế năm 2010 cho thấy bình quân toàn tỉnh một cửa hàng LPG phục vụ trong phạm vi 7,52km2 với 3.273 người dân và sản lượng tiêu thụ bình quân 9,03 kg LPG/người/năm. Qua bảng thống kê số lượng cửa hàng và sản lượng tiêu thụ cho thấy sản lượng LPG tiêu thụ phụ thuộc chủ yếu vào mức thu nhập và điều kiện tiêu dùng của dân cư. Đồng thời căn cứ vào sản lượng LPG tiêu dùng cho dân cư năm 2010 xác định được mức tiêu dùng bình quân 1 người/tháng là 0,75kg hay 9,03kg/người/năm; đây là mức tiêu dùng thấp so với định mức nhiệt lượng tiêu dùng cần thiết; mức này chỉ đạt khoảng 37,5% so với định mức cần dùng. Theo kết quả điều tra ở một số địa phương thuộc vùng Đông Nam Bộ, Tây Nam Bộ cho thấy mức sử dụng LPG phục vụ cho sinh hoạt của 1 hộ gia đình có 4 người bình quân 1 bình LPG 12,5kg sử dụng cho việc đun nấu trong nhà bếp được khoảng 50-60 ngày; tức là vào khoảng 75-90kg/hộ/năm (tương đương định mức 23.800Kcal/người/tháng). Tuy nhiên mức tiêu dùng ở đô thị sẽ lớn hơn ở nông thôn. Nếu tính theo mức bình quân này thì trên địa bàn tỉnh mới có khoảng 46,19% số hộ dân cư sử dụng LPG trong sinh hoạt hàng ngày trong đó chủ yếu là những hộ sinh sống ở các khu dân cư đô thị. Các địa phương có mức tiêu dùng LPG bình quân đầu người xấp xỉ đạt 50% định mức(2)/năm là: Thành phố Biên Hoà (11,23kg/người/năm); Thị xã Long Khánh (10,6kg) huyện Long Thành (12,7kg); Nhiều huyện chỉ đạt bình quân từ 6kg/người/năm trở xuống. Các địa phương có mức tiêu dùng LPG bình quân thấp là Định Quán, Vĩnh Cửu, Xuân Lộc...



2/ Cơ sở vật chất trang thiết bị các cơ sở kinh doanh LPG.

2.1- Cửa hàng kinh doanh LPG: Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 785 cửa hàng với tổng diện tích 29.497m2; Bình quân 1 cửa hàng 37,57m2. Trong tổng số 785 cửa hàng có 692 cửa hàng kiên cố và 93 cửa hàng kinh doanh trong những ngôi nhà tạm (chủ yếu ở huyện Trảng Bom, Tân Phú, Định Quán); 337 cửa hàng chuyên kinh doanh LPG và 448 cửa hàng kinh doanh hỗn hợp LPG và các hàng hoá khác.

LPG là loại nhiên liệu khí hoá lỏng có dụng cụ chứa đựng được chế tạo đặc biệt chịu áp suất, chống ăn mòn và chống rò rỉ. Dụng cụ chứa LPG trong lưu thông là loại bao bì luân chuyển. Số lượng bao bì luân chuyển hiện có tại các cửa hàng kinh doanh có 75.312 vỏ bình trong đó bình loại 45kg: có 139 bình; loại 12,5kg có 75.173 bình. Các loại bình 12.5kg được sử dụng phổ biến trong các hộ gia đình, các loại bình 45kg được sử dụng trong các cơ sở có sản lượng tiêu thụ lớn như: nhà hàng, khách sạn, các cơ sở dịch vụ du lịch; các cơ sở chế biến công nghiệp sử dụng các bồn chứa chuyên dùng… Nhìn chung các cơ sở kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh là những đại lý cấp 2, cấp 3 cho các công ty LPG đầu mối có đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp và thương hiệu riêng nên vỏ bình do các đơn vị đầu mối cung cấp dưới hình thức thế chân nên việc đầu tư vỏ bình do các doanh nghiệp đầu mối thực hiện. Tuy nhiên trong những năm gần đây do có sự chênh lệch giá giữa các thương hiệu nên hiện tượng làm giả bao bì, bao bì kém chất lượng, nhái bao bì, nạp LPG kém chất lượng để thu lợi bất chính đang là vấn đề phức tạp trong xã hội gây thiệt hại về kinh tế và mất an toàn cho người tiêu dùng.

Về dụng cụ phòng chống cháy nổ: Toàn hệ thống cửa hàng kinh doanh LPG có 1.708 bình chữa cháy với tổng trọng lượng 12.484kg, bình quân 1 cửa hàng có 2 bình chữa cháy với trọng lượng hoá chất chữa cháy khoảng 15,90kg; Trong số 785 cửa hàng đang kinh doanh có 559 cửa hàng đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh; có 226 điểm kinh doanh LPG nhưng chưa đảm bảo các điều kiện kinh doanh và chưa được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh LPG. (tập trung nhiều ở các huyện: Xuân Lộc: 55; Định Quán: 36; Trảng Bom: 36; Long Thành: 35 cửa hàng…)

2.2- Trạm chiết nạp: Hiện tại trên địa bàn tỉnh có 18 trạm chiết nạp LPG tập trung ở Thành phố Biên Hoà và các huyện: Long Thành, Nhơn Trạch, Xuân Lộc, Định Quán với diện tích khoảng 425.254m2; có 121 bồn dự trữ với sức chứa khoảng 30.507tấn. Một số doanh nghiệp chiết nạp có đầu tư thiết bị chế tạo vỏ bình chứa LPG; một số khác đặt gia công tại các cơ sở chế tạo cơ khí theo mẫu mã, kiểu dáng thể hiện thương hiệu riêng. Số bao bì luân chuyển tại các cơ sở chiết nạp khoảng 1.797.993 vỏ bình; trong đó có khoảng 29.417 vỏ bình loại 45 kg. Tổng số vòi nạp của các trạm chiết nạp có 172 vòi với công suất chiết nạp khoảng 495 tấn/ngày tương đương 12.800 tấn/tháng. Theo kết quả điều tra của Sở Công Thương Đồng Nai sản lượng LPG đưa ra thị trường hàng tháng của các trạm chiết nạp khoảng 9.200 tấn/tháng. Các cơ sở chiết nạp đã thực hiện đúng quy định tại quyết định số 36/2006/QĐ-BCN ngày 16/10/2006 của Bộ Công Nghiệp (nay là Bộ Công Thương) về quy chế quản lý kỹ thuật an toàn về nạp khí dầu mỏ hoá lỏng vào chai. Đảm bảo quy trình kỹ thuật, nạp đúng thương hiệu nhãn hiệu đã đăng ký, đảm bảo các điều kiện kỹ thuật theo tiêu chuẩn Việt Nam về trạm nạp, thiết bị nạp, hệ thống ống dẫn, bồn chứa và các thiết bị phụ trợ. Tất cả các trạm nạp LPG đều sử dụng công nghệ sang chiết bán tự động, có thiết bị điện tử tự động kiểm soát về cân, đo, mức nạp, van an toàn… Nhìn chung các trạm chiết nạp đảm bảo được nguồn hàng cung cấp cho thị trường, phục vụ nhu cầu tiêu dùng LPG của các huyện trong tỉnh và còn cung cấp cho các tỉnh ngoài như thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa -Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình Thuận, …

2.3- Hệ thống kho lưu chuyển: Trên địa bàn tỉnh hiện có 5 kho chứa LPG với diện tích 15.949m2. Có 2 bồn với sức chứa 4.000 tấn và 56.000 vỏ bình luân chuyển. Các kho có bồn chứa chủ yếu cung cấp LPG cho các trạm cấp LPG sản xuất công nghiệp và xuất cho các trạm nạp vào chai dân dụng trong và ngoài tỉnh. Các kho chứa chai LPG chủ yếu cung cấp cho các đại lý và cửa hàng bán lẻ trong tỉnh. Sản lượng bán ra của các kho LPG hàng tháng đạt khoảng 9.600 tấn.

3/ Điều kiện về an toàn phòng chống cháy nổ, vệ sinh môi trường.

LPG là loại nhiên liệu thông dụng, đa năng và thân thiện với môi trường; Tuy có hệ số an toàn cao nhưng nếu không tuân thủ đúng quy tắc sử dụng để xảy ra cháy nổ thì hậu quả sẽ đặc biệt nghiêm trọng. Do tính chất nguy hiểm khi xảy ra cháy nổ nên tại TCVN 6223: 1996 đã quy định trang bị tối thiểu các phương tiện phòng cháy, chữa cháy đối với một cửa hàng chuyên doanh khí dầu mỏ hoá lỏng và cửa hàng khí dầu mỏ hoá lỏng tại các cửa hàng xăng dầu gồm: 01 bình chữa cháy CO2 loại 5kg; 02 bình chữa cháy bằng bột loại 8kg; 02 bao tải gai hoặc chăn chiên; 01 thùng đựng nước 20 lít; 01 chậu nước xà phòng 02 lít.

Kết quả khảo sát cho thấy toàn mạng lưới cơ sở kinh doanh bán lẻ LPG có 359 bình CO2 loại 4kg, 1.285 bình bột loại 8kg, 64 bình loại trên 12kg; tổng trọng lượng các loại bình chữa cháy khoảng 12.484 kg; bình quân 15,90 kg/1cửa hàng. Tuy nhiên bên cạnh đại đa số cửa hàng thực hiện nghiêm túc các quy định về phòng, chống cháy nổ vẫn còn một số cửa hàng mua sắm dụng cụ chữa cháy mang tính hình thức, đối phó với quy định của nhà nước. Trong số 785 cửa hàng đang kinh doanh LPG có tới 58 cửa hàng không có bình chữa cháy chuyên dùng (huyện Định Quán có 30 cửa hàng chiếm 51,7%; Long Thành có 14 cửa hàng, Xuân Lộc: 14 cửa hàng chiếm 24,13% trong tổng số cửa hàng của huyện).

Đa số các cửa hàng kinh doanh hỗn hợp nhiều mặt hàng chưa thực hiện đúng quy định về thiết kế của cửa hàng kinh doanh LPG mà dùng nhà ở dân dụng để kinh doanh nên không đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật về phòng chống cháy nổ như: hệ thống thông gió, thiết kế cửa, trần, tường, nền nhà, hệ thống cấp nước đặc biệt là hệ thống điện; hầu hết các cửa hàng chưa lắp đặt các dụng cụ, thiết bị phòng nổ.

4/ Đánh giá tình hình vệ sinh, môi trường và an toàn phòng chống cháy nổ.

Kết quả khảo sát toàn bộ hệ thống các cơ sở kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh cho thấy: Hệ thống các cơ sở chiết nạp LPG thực hiện khá nghiêm túc các quy định của nhà nước về an toàn cháy nổ gồm: Thiết kế nhà xưởng, đầu tư thiết bị đạt tiêu chuẩn quy định, đảm bảo quy trình kỹ thuật, trang bị đầy đủ và đảm bảo chất lượng hệ thống phun nước làm mát, hệ thống chữa cháy…

Hệ thống kho: Tuy đã được các doanh nghiệp quan tâm đầu tư các thiết bị an toàn phòng chống cháy, nổ nhưng còn một số kho chưa đảm bảo quy trình kỹ thuật về thiết kế, hệ thống cấp nước, số lượng bình cứu hoả…một số kho đặt trong khu dân cư tập trung (Tấn Quyền, Tĩnh Vàng, Bảo Anh…) chưa đảm bảo an toàn giao thông, an toàn cháy nổ cho dân cư trong khu vực.

Các cửa hàng bán lẻ chai LPG: Tuy đại đa số cửa hàng đã trang bị dụng cụ chữa cháy nhưng qua quan sát thực tế cho thấy ý thức phòng chống cháy nổ chưa tốt thể hiện qua việc thiết kế xây dựng cửa hàng không đúng theo tiêu chuẩn quy định, nhiều cửa hàng không có phương tiện kiểm tra rò rỉ khí dầu mỏ, nhiều người chưa ý thức được tính chất nguy hiểm khi xảy ra sự cố mà chỉ quan tâm đến việc kinh doanh để tìm kiếm lợi nhuận; một bộ phận cửa hàng coi việc thực hiện các quy định chỉ mang tính đối phó để được kinh doanh.

Công tác quản lý nhà nước tại các địa phương chưa chặt chẽ, còn dễ dãi, trong đó điển hình là việc nhiều cửa hàng kinh doanh hỗn hợp LPG với các hàng hoá khác nhưng lại không tuân thủ quy định về thiết kế cửa hàng nên nguy cơ mất an toàn về cháy, nổ rất cao. Từ đó dẫn đến có quá nhiều cửa hàng kinh doanh các mặt hàng khác nhưng lại kinh doanh thêm mặt hàng LPG; trong tổng số 785 cửa hàng đang kinh doanh chỉ có 337 cửa hàng chuyên doanh LPG và có tới 448 cửa hàng kinh doanh LPG cùng với các mặt hàng khác. Chỉ có 559 cửa hàng được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và có tới 226 cửa hàng chưa đảm bảo các điều kiện theo quy định nhưng vẫn đang kinh doanh.

Nhìn chung công tác bảo vệ môi trường, phòng chống cháy nổ tại các cửa hàng kinh doanh LPG chưa tốt, có tới hơn 60% số cửa hàng vi phạm quy tắc về an toàn phòng chống cháy nổ như: thiết kế và xây dựng cửa hàng không đúng quy định theo TCVN 2622: 1995 và TCVN 6223: 1996, dụng cụ phòng và chữa cháy chưa đảm bảo theo quy định tại thông tư 15/1999/TT-BTM ngày 19/5/1999 của Bộ Thương Mại (nay là Bộ Công Thương) và TCVN 6223: 1996.

5/ Thực trạng tình hình xây dựng các cửa hàng kinh doanh, trạm chiết nạp, kho chứa chai LPG.

5.1- Tình hình xây dựng các cửa hàng kinh doanh bán lẻ chai LPG: Đại đa số các cửa hàng bán lẻ chai LPG chưa thực hiện đúng quy định của nhà nước về tiêu chuẩn xây dựng cửa hàng bán lẻ chai LPG về mặt bằng nền, tường, trần nhà, cửa, thông gió…quy định tại TCVN 6223-1996. Đa số cửa hàng tận dụng nhà ở để kinh doanh LPG, nhiều cửa hàng vừa kinh doanh chai LPG vừa kinh doanh tạp hoá, nước giải khát, vừa kinh doanh LPG vừa kinh doanh các thiết bị, phụ kiện bếp sử dụng LPG trong một gian hàng; một số cửa hàng xăng dầu kinh doanh chai LPG có nơi chứa chai LPG riêng nhưng thiết kế nơi chứa chai LPG không đảm bảo yêu cầu thiết kế theo quy định. Hầu hết cửa hàng bán lẻ chai LPG không có giấy phép xây dựng riêng.

5.2- Đối với các kho chứa chai LPG. Đa số kho chứa LPG thực hiện tốt các quy định về xây dựng kho chứa chai LPG theo quy định; tuy nhiên có một số doanh nghiệp bố trí kho chứa chai LPG trong khu dân cư không đảm bảo yêu cầu thiết kế và an toàn cháy nổ đề nghị trong thời gian tới tiến hành di dời những kho này ra khỏi khu dân cư.

5.3- Các trạm chiết nạp: Nhìn chung các trạm chiết nạp thực hiện tương đối tốt các quy định của nhà nước về diện tích mặt bằng, thiết kế xây dựng, hệ thống bồn chứa, đầu tư công nghệ, hệ thống đường ống, van kiểm soát an toàn… Tuy nhiên còn một số trạm vẫn gần khu dân cư nên cần có lộ trình di dời để giảm thiểu thiệt hại khi có sự cố.

Tình hình quản lý nhà nước về kinh doanh LPG.

Công tác quản lý Nhà nước về kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh được thực hiện theo tinh thần Thông tư số 15/1999/TT-BTM ngày 19/5/1999 hướng dẫn kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG); Nghị định số 107/1999/NĐ-CP ngày 26/11/2009 của Chính phủ và thông tư 11/2010/TT-BCT ngày 29/3/2010 ban hành quy chế đại lý kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG). Nghị định 105/2011/NĐ-CP ngày 16/11/2011 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kinh doanh LPG.

Căn cứ vào các quy định hiện hành và chức năng, nhiệm vụ được giao, Sở Công Thương đã phối hợp với các ngành chức năng triển khai việc thẩm định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện cho các cơ sở kinh doanh LPG theo phân cấp. Nhiều cửa hàng kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng đã được thẩm định và cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh theo đúng trình tự quy định của pháp luật.

Bên cạnh việc kiểm tra, kiểm soát thường xuyên của lực lượng quản lý thị trường; hàng năm Sở Công Thương còn phối hợp với các ngành chức năng như: Sở Khoa học công nghệ, Cảnh sát PCCC và các địa phương tiến hành kiểm tra theo các chuyên đề về an toàn PCCC, chất lượng, giá cả…

Thông qua kiểm tra, kiểm soát đã giúp cho thương nhân thực hiện ngày càng tốt hơn các quy đinh của nhà nước, đưa hoạt động kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG) trên địa bàn tỉnh đi vào nề nếp, trật tự. Một số kết quả cụ thể:

a/ Tình hình cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh LPG: Trên thực tế việc kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG) đã xuất hiện trên địa bàn tỉnh kể từ năm 1995 song đến năm 1999 Nhà nước mới ban hành các tiêu chuẩn và quy định cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và 10 năm sau (2009) mới có nghị định 107/2009/NĐ-CP để điều chỉnh các hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG). Nhiều cửa hàng ra đời trước năm 1999 khi thông tư 15/1999/TT-BTM có hiệu lực không đảm bảo các điều kiện, không có giấy chứng nhận đủ điều kiện nhưng vẫn kinh doanh, mặt khác đến năm 2009 Chính phủ mới quy định các cơ sở kinh doanh LPG phải được phát triển theo quy hoạch. Các tiêu chuẩn về kỹ thuật, an toàn như: thiết kế cửa hàng, phương tiện phòng chống cháy nổ, thiết kế hệ thống điện, nước…không được dẫn chiếu trong quy định cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh LPG nên nhiều địa phương bỏ qua tiêu chuẩn về thiết kế xây dựng; chính từ những bất cập như vậy nên công tác cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh gặp khó khăn, lúng túng chưa đạt được yêu cầu theo quy định. Hiện tại trên địa bàn tỉnh số lượng cửa hàng được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh chiếm tỷ lệ 71,21%/tổng số cửa hàng đang kinh doanh. Trong số cửa hàng đã được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh có nhiều cửa hàng chưa đảm bảo yêu cầu về thiết kế xây dựng, tiêu chuẩn kỹ thuật về an toàn chống cháy nổ.

b/ Tình hình chấp hành các quy định của nhà nước về kinh doanh LPG.

+ Quy định về cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị: Đa số các cửa hàng kinh doanh LPG đều đảm bảo quy định về diện tích mặt bằng, kết cấu xây dựng nhưng chưa thực hiện đúng quy định về thiết kế, xây dựng cửa hàng kinh doanh khí dầu mỏ hoá lỏng (LPG) tại TCVN 6223: 1996; đa số cửa hàng dùng nhà ở dân dụng để kinh doanh, không đảm bảo tiêu chuẩn quy định cho cửa hàng kinh doanh LPG; thậm chí có tới 93 cửa hàng được kinh doanh trong những ngôi nhà tạm.

+ Điều kiện sức khoẻ và chuyên môn: Hầu hết nhân viên làm việc trong các cửa hàng kinh doanh LPG đều đảm bảo sức khoẻ và được học tập kiến thức về khí dầu mỏ hoá lỏng, được huấn luyện về phòng độc, phòng cháy chữa cháy và được Cảnh sát PCCC tỉnh cấp giấy chứng nhận về phòng cháy, chữa cháy.

+ Quy định về bảo vệ môi trường và phòng chống cháy nổ. Trong số 785 cửa hàng LPG đang hoạt động có 26 cửa hàng không có phương tiện phòng cháy, chữa cháy (3,32%) số cửa hàng còn lại tuy có các phương tiện phòng cháy, chữa cháy nhưng nhiều cửa hàng tuy đảm bảo về số lượng, trọng lượng bình chữa cháy nhưng lại không theo đúng chủng loại quy định; hầu hết cửa hàng chỉ chú ý đến mua sắm bình chữa cháy còn các loại khác như bao bố, mền gai, nước xà bông để kiểm tra rò rỉ… chưa được quan tâm. Có rất nhiều cửa hàng kinh doanh chai LPG chung với các hàng hoá khác đây là sự vi phạm rất nghiêm trọng quy định về an toàn cháy nổ.

Những vi phạm nghiêm trọng quy định về an toàn phòng cháy chữa cháy; nói trên đã thể hiện nhận thức chưa đúng của một bộ phận người kinh doanh LPG, chưa thấy hết sự nguy hiểm của LPG khi xảy ra cháy nổ sẽ ảnh hưởng đến tính mạng của chính họ và gây thiệt hại đến những người xung quanh.

+ Tình hình kiểm tra, xử lý vi phạm: Nhìn chung việc kiểm tra xử lý vi phạm trong lĩnh vực kinh doanh LPG được lực lượng quản lý thị trường tiến hành thường xuyên; Ngoài ra hàng năm Sở Công Thương còn phối hợp với Cảnh sát PCCC, Sở Khoa học Công nghệ và các ngành chức năng tiến hành kiểm tra tình hình kinh doanh LPG, kinh doanh xăng dầu trên địa bàn tỉnh. Qua các đợt kiểm tra cho thấy tình hình vi phạm các quy định của nhà nước trong kinh doanh LPG diễn ra khá phổ biến, chủ yếu tập trung vào các sai phạm sau:

- Vi phạm về thiết kế, xây dựng cửa hàng không theo quy định.

- Vi phạm về an toàn PCCC, không đủ dụng cụ PCCC theo quy định hoặc có nhưng không được kiểm tra thường xuyên để đảm bảo chất lượng khi sử dụng.

- Vừa kinh doanh các mặt hàng khác nhưng lại kinh doanh thêm chai chứa LPG.

- Kinh doanh LPG nhưng không đăng ký kinh doanh, không có bảng hiệu.

- Còn nhiều điểm sang chiết loại bình gas mini trái phép gây mất an toàn cháy nổ.

Các trường hợp vi phạm đều được xử lý cụ thể như sau:

Vi phạm về thiết kế, xây dựng: Những cửa hàng vi phạm lỗi thiết kế xây dựng chủ yếu thuộc loại cửa hàng đã xây dựng trước khi có TCVN 6223: 1996 hoặc dùng nhà dân dụng săn có để kinh doanh. Khi kiểm tra phát hiện cơ quan chức năng đã nhắc nhở đồng thời yêu cầu cửa hàng sửa chữa, bổ sung theo quy định như: Cửa hàng phải được xây bằng gạch, mặt tường bằng phẳng, không có khe hở, không lồi lõm và được quét vôi hoặc sơn màu sáng.

- Nền nhà bằng phẳng không gồ ghề, lồi lõm đảm bảo an toàn khi di chuyển hàng hoá.

- Trần nhà phải được chống nóng, nhẵn, phẳng và thông gió tự nhiên.

Các vi phạm về phòng cháy, chữa cháy đều được lập biên bản phạt hành chính và yêu cầu cửa hàng bổ sung theo quy định.

Riêng đối với loại cửa hàng vừa bán đồ uống giải khát, tạp hoá vừa kinh doanh LPG. Những cửa hàng này thường không có đăng ký kinh doanh, không có giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh và không có bảng hiệu nên khi thấy đoàn kiểm tra họ cất giấu LPG nên rất khó phát hiện và xử lý. Đây là vấn đề nan giải nhất hiện nay gây mất an toàn cháy nổ trong các khu dân cư.

Tuy nhiên hiệu quả của công tác kiểm tra, xử lý chưa cao; các cửa hàng sai phạm chậm khắc phục sai sót và có biểu hiện đối phó; tình trạng vi phạm các quy tắc về an toàn cháy nổ còn khá phổ biến.



* Đánh giá chung về thực trạng kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh Đồng Nai

a- Những mặt tích cực.

LPG là mặt hàng tiêu dùng cần thiết của dân cư và nhu cầu tiêu dùng mặt hàng này ngày càng tăng do hiện nay hầu hết các hộ gia đình đều sử dụng bếp gas. Bên cạnh đó, nhu cầu LPG sử dụng cho các nhà hàng, khách sạn, quán ăn trên địa bàn ngày càng tăng theo sự phát triển của ngành dịch vụ quan trọng này.

Do yêu cầu phải lắp đặt phải đúng kỹ thuật để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, nên các cửa hàng kinh doanh LPG đều phục vụ đến tận địa chỉ người tiêu dùng hoặc có thể đổi được bình LPG mini rất thuận tiện và nhanh chóng. Chính do nhu cầu này mà hệ thống các điểm kinh doanh LPG ngày càng tăng và xuất hiện nhiều điểm kinh doanh tự phát.

b- Những hạn chế, tồn tại

Do nhu cầu tiêu dùng mặt hàng LPG trên thị trường phát triển khá nhanh nên trong quá trình tổ chức cung ứng, kinh doanh LPG trên địa bàn tỉnh đã nảy sinh những vấn đề cần giải quyết:

+ Công tác quản lý nhà nước về kimh doanh mặt hàng LPG còn nhiều hạn chế, nhiều cửa hàng không đủ điều kiện, không có giấy phép nhưng chưa được xử lý kiên quyết.

+ Một số cửa hàng, đại lý kinh doanh LPG nằm trong khu vực tập trung đông dân cư, gần các công trình công cộng nhưng thiết bị an toàn chưa đảm bảo theo quy định… trong trường hợp xảy ra sự cố cháy nổ dây chuyền thì hậu quả sẽ rất nghiêm trọng.

+ Các cửa hàng LPG được xây dựng theo nhu cầu kinh doanh nên phân bổ không đồng đều trên các địa bàn dân cư, tập trung nhiều ở đô thị và những nơi tập trung đông dân cư.

+ Kiến trúc đa dạng theo kiểu nhà ở dân dụng, không theo chuẩn mực thiết kế nhà nước quy định, chưa tạo ra cảnh quan phù hợp trong môi trường đô thị.

+ Rất nhiều cửa hàng có quy mô nhỏ, vừa kinh doanh LPG vừa kinh doanh các hàng hoá khác nên nguy cơ mất an toàn cao.

+ Còn hiện tượng sang chiết LPG trái phép để thu lợi bất chính nhưng khó phát hiện để ngăn chặn và xử lý. Các cơ quan chức năng không đủ điều kiện về thiết bị, kinh phí, nhân lực… để kiểm tra hết các cửa hàng trên địa bàn tỉnh.

+ Công tác quản lý chất lượng, kiểm tra, kiểm soát chống hàng giả và gian lận thương mại trong kinh doanh LPG còn nhiều khó khăn, hạn chế.

+ Việc xử lý các vi phạm về an toàn phòng chống cháy, nổ chưa triệt để, chưa nghiêm khắc nên chưa có tác dụng ngăn ngừa.




PHẦN THỨ HAI

DỰ BÁO CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN CƠ SỞ KINH DOANH LPG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH ĐẾN NĂM 2020
I/ Dự báo tình hình phát triển kinh tế- xã hội của tỉnh đến năm 2020.

* Mục tiêu phát triển kinh tế của tỉnh Đồng Nai đến 2015:

- Tốc độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2011-2015 quân đạt 13-14%/năm;

Giai đoạn 2016- 2020: 14-14,5%/năm.

- GDP bình quân đầu người đạt 2.900-3.000 USD vào năm 2015; Năm 2020 đạt 5.500-6.000 USD/người.

- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tỷ trọng các ngành như sau:

- Năm 2015: khu vực I chiếm 5-6%, khu vực II: 56-57%, khu vực III: 38-39%;

- Kim ngạch xuất khẩu dự kiến tăng bình quân 15-17%/năm.

- Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội 5 năm 2010-2015 khoảng 260-270 ngàn tỷ đồng (chiếm bình quân 40-43% GDP/năm).

- Đến năm 2015 toàn tỉnh có trên 20% chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí của tỉnh.

- Giảm và giữ mức ổn định mức tăng dân số tự nhiên đến năm 2015 là 1,1%.

- Hoàn thành các chỉ tiêu phát triển nông thôn, 99% hộ dân được sử dụng điện, 98% hộ đạt chuẩn hộ gia đình văn hoá, 95% hộ dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, 99% dân đô thị được sử dụng nước sạch.

- Tỷ lệ huy động GDP vào ngân sách bình quân năm đạt 6-7%.

- Tạo chuyển biến cơ bản về văn hóa, y tế, giáo dục - đào tạo và nâng cao dân trí.

- Bảo vệ môi trường sinh thái.

- Đẩy mạnh công cuộc cải cách hành chính.

- Thực hiện nhiệm vụ củng cố quốc phòng - an ninh, bảo đảm trật tự kỷ cương trong hoạt động kinh tế-xã hội.

Định hướng phát triển cụ thể ở một số ngành kinh tế có ảnh hưởng nhiều đến thu nhập, đời sống dân cư và tiêu dùng LPG:



1/- Phát triển nông nghiệp, nông thôn.

- Phấn đấu giá trị gia tăng ngành nông, lâm, ngư nghiệp giai đoạn 2011-2015 tăng bình quân 3,5-4%/năm; theo đó giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp sẽ phải tăng bình quân 4,5-5,0% năm trong giai đoạn 2011-2015.

- Tăng cường quản lý bảo vệ rừng, thực hiện tốt khoanh nuôi và trồng rừng. Đến năm 2015 nâng độ che phủ cây xanh đạt 56% trong đó giữ vững 29,76% diện tích rừng và trên 26% diện tích cây công nghiệp lâu năm và cây ăn quả.

- Tổ chức lại sản xuất nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn. Chuyển đổi cơ cấu sản xuất theo hướng hiệu quả, chất lượng cao với các mô hình trồng cây công nghiệp, trồng rừng, trang trại trồng cây lâu năm, phát triển chăn nuôi …

- Rà soát quy hoạch, bố trí cây trồng vật nuôi phù hợp từng vùng sinh thái; chú trọng đẩy mạnh nghiên cứu, chuyển giao ứng dụng khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, nông thôn.

- Đầu tư đồng bộ hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đi đôi với đổi mới phương thức sản xuất nông nghiệp nông thôn, phát triển nông thôn bền vững.

- Tạo bước chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu lao động theo hướng công nghiệp và phi nông nghiệp.

- Xây dựng và phát triển thương hiệu hàng hoá nông sản trên địa bàn tỉnh.



2/- Phát triển công nghiệp.

- Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP ngành công nghiệp-xây dựng bình quân 14-15%/năm; Để đạt được mục tiêu này giá trị sản xuất (giá 1994) phải đạt mức tăng trưởng 16-18%/năm trong đó giá trị sản xuất ngành công nghiệp đạt 16-18%/năm, ngành xây dựng đạt 18-20%/năm.

- Tập trung phát triển công nghiêp-xây dựng đạt tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả, bền vững theo hướng hiện đại, giữ vai trò động lực trong phát triển kinh tế và thực hiện mục tiêu cơ bản công nghiệp hoá, hiện đại hoá.

- Duy trì phát triển các ngành công nghiệp chủ lực, có lợi thế so sánh, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghệ chế biến nông sản thực phẩm. Có chính sách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động về địa bàn nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

- Tập trung đầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động các khu công nghiệp công nghệ cao; khu công nghiệp công nghệ sinh học, khu công nông nghiệp Donataba, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu công nghiệp, cụm công nghiệp.

- Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, nông thôn, chú trọng công nghiệp sản xuất thiết bị, máy móc phục vụ sản xuất và thu hoạch nông sản, công nghệ bảo quản sau thu hoạch, công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm với trình độ công nghệ ngày càng cao, sạch và tăng sức cạnh tranh.

- Tập trung thu hút và phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp chế tạo, công nghiệp cơ khí sản xuất phụ kiện, phụ liệu thay thế nhập khẩu, công nghiệp phụ trợ phục vụ các ngành công nghiệp chủ lực.

3/- Các ngành dịch vụ.

- Phát triển các ngành dịch vụ, chú trọng phát triển các ngành dịch vụ chất lượng cao, nâng cao tỷ trọng các ngành dịch vụ trong cơ cấu GDP của tỉnh.

- Phát triển mạnh các loại hình thương mại, du lịch và các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao để trở thành ngành kinh tế quan trọng đóng góp tỷ trọng lớn vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế. Phấn đấu lĩnh vực thương mại và dịch vụ luôn đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn so với tốc độ tăng trưởng nền kinh tế.

- Phát triển mạnh các ngành dịch vụ chất lượng cao như tài chính, ngân hàng, vận tải kho bãi, thông tin liên lạc, khách sạn nhà hàng, y tế, tư vấn, khoa học công nghệ.

- Tập trung mở rộng thị trường nội địa, phát triển mạnh thị trường hàng hoá, dịch vụ, tài chính, thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường khoa học công nghệ nhằm thu hút nguồn lực cho đầu tư phát triển.

- Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia phát triển các loại hình du lịch sinh thái, du lịch văn hoá gắn với lễ hội. Tập trung đầu tư kết cấu hạ tầng nhằm khai thác đạt hiệu quả cao các tuyến, điểm du lịch đã quy hoạch.

- Chú trọng mở rộng hệ thống bưu chính-viễn thông ở khu vực nông thôn. Mở rộng mạng lưới xe buýt theo quy hoạch, phát triển mạng lưới vận tải đường thuỷ nội địa, đẩy mạnh phát triển dịch vụ nhà ở, dịch vụ giải trí, văn hoá cho công nhân.

4/- Dự báo dân số, hộ gia đình, thu nhập dân cư trên địa bàn tỉnh đến 2020.

- Đến năm 2015 dự kiến dân số của tỉnh khoảng 2,7-2,8 triệu người giảm tỷ lệ sinh và giữ ổn định mức tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm <1,1%/năm.





1   2   3   4   5


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương