PHẦn I đẶC ĐIỂm kinh tế XÃ HỘi của huyện minh hoá



tải về 261.29 Kb.
Chuyển đổi dữ liệu15.05.2018
Kích261.29 Kb.
UỶ BAN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

HUYỆN MINH HOÁ Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 49/BC-UBND Minh Hoá, ngày 17 tháng 7 năm 2007



BÁO CÁO

QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI HUYỆN MINH HOÁ

ĐẾN NĂM 2015, 2020
PHẦN I

ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN MINH HOÁ
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN

1. Vị trí địa lý:

Minh Hoá là một huyện miền núi nằm ở phía Tây tỉnh Quảng Bình, vào toạ độ: 170 28’30” đến 180 02’13” vĩ độ Bắc; 105o 06’25” đến 1060 20’30” kinh độ đông. Phía Tây Bắc và Đông Bắc giáp huyện Tuyên Hoá, phía Nam tiếp giáp huyện Bố Trạch, phía Tây giáp Bua - La - Pha và Nhòm - Na - Lạt của tỉnh Khăm Muộn - nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

Toàn huyện có 15 xã và một thị trấn; gồm các xã: Hồng Hoá; Yên Hoá; Xuân Hoá; Quy Hoá; Minh Hoá; Tân Hoá; Trung Hoá; Thượng Hoá; Hoá Sơn; Hoá Hợp; Hoá Tiến; Hoá Phúc; Hoá Thanh; Trọng Hoá; Dân Hoá và thị trấn Quy Đạt. Huyện có hệ thống giao thông quốc gia xuyên suốt: là đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á, đường quốc lộ 12A. Huyện có cửa khẩu Quốc tế Cha Lo với nước bạn Lào - vùng Đông Bắc Thái Lan đây là điều kiện thuận lợi cho việc quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế giữa các địa phương trong tỉnh, trong nước và quốc tế.

2. Địa hình:

Địa hình của huyện Minh Hoá tương đối phức tạp, bị chia cắt bởi những dãy núi và các con suối đã tạo ra địa hình không bằng phẳng, phần lớn là núi có độ cao trung bình từ 500-1000 m, nghiêng dần từ Tây sang Đông. Phía Tây Nam bị chia cắt bởi núi đá vôi và sông suối thuộc dãy núi Kẻ Bàng, phần còn lại chủ yếu là núi đất. Trung tâm huyện có hai thung lũng hẹp nằm kéo dài giữa các dãy núi đá vôi và núi đất. Địa bàn dân cư phân bổ chủ yếu ven đường quốc lộ. Với điều kiện địa hình như trên nên hàng năm địa bàn huyện ít chịu ảnh hưởng của bão lớn, nhưng lại chịu ảnh hưởng rất lớn về các đợt lũ quét do độ dốc sông, suối quá lớn.



3. Khí hậu thời tiết:

Huyện Minh Hoá nằm trong khu vực khí hậu duyên hải miền Trung, là vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa. Về mùa Đông có khi nhiệt độ xuống đến 8-100C và kèm theo mưa dài ngày. Do địa hình của dãy Trường Sơn bắc nên có ảnh hưởng đến hoàn lưu khí quyển đã tạo ra sự khác biệt lớn trong chế độ nhiệt so với khí hậu phía Bắc và vùng khu vực duyên hải miền Trung. Mùa mưa ở đây bắt đầu giữa tháng 8 và kết thúc cuối tháng 2 năm sau. Mùa khô gió Tây Nam vượt qua dãy Trường Sơn nên khi đến khu vực này thì chúng tạo nên khí hậu khô và nóng. Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23-250C, vào mùa hè khí hậu rất nóng và khô, nhiệt độ trung bình trên 260C, tháng nóng nhất là tháng 6 và tháng 7, nhiệt độ trung bình hai tháng này lên tới 29-390c.

Nhìn chung địa bàn huyện Minh Hoá có nền nhiệt lượng cao, lượng mưa dồi dào, tuy nhiên do tính chất khí hậu thất thường của khu vực khô và nóng, mưa phân bố không đều nên không thuận lợi cho việc sản xuất nông nghiệp cũng như phát triển kinh tế - xã hội nói chung.

4. Tài nguyên khoáng sản:

a. Tài nguyên đất và thực trạng sử dụng đất đến năm 2006:

Huyện Minh Hoá có tổng diện tích đất tự nhiên là 141.006 ha. Trong đó: Đất nông nghiệp: 110.139 ha, đất phi nông nghiệp là: 2.981 ha, đất sản xuất nông nghiệp 5.450 ha, chiếm 3,8% so với tổng diện tích đất tự nhiên; đất lâm nghiệp 104.454 ha, chiếm 74 % so với diện tích đất tự nhiên; đất chưa sử dụng 28.002 ha; đất bằng chưa sử dụng: 1.361 ha; đất đồi núi chưa sử dụng: 26.458 ha; núi đá không có rừng cây: 183 ha. Đất trên địa bàn huyện gồm các loại sau:

- Đất đỏ vàng: Tập trung ở dọc hai bên đường Hồ Chí Minh. Đất có đặc điểm là thành phần cơ giới nhẹ, nhiều mùn tầng dày lớn rất phù hợp trồng cây công nghiệp ngắn, dài ngày và cây ăn quả.

- Đất đỏ nâu: Phân bố không tập trung ở các thung lũng tiếp giáp các sườn núi đá vôi. Loại đất này giàu mùn, giàu đạm, lân, kali, ít chua có thể trồng các loại cây công nghiệp ngắn, dài ngày như: Tiêu, Chè, Lạc ….

- Đất đỏ vàng trên đá sét và biến chất chủ yếu nằm ở vùng sườn núi, đất có tầng dày khá, ít chua thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến thịt nặng. Loại đất này chiếm 45% diện tích toàn vùng.

- Đất mùn và mùn vàng đỏ trên núi đá cao: Đất này giàu mùn, độ ẩm khá tầng dày vừa phải.

Nhìn chung đất ở Minh Hoá được hình thành từ đất đá mẹ là sa phiến thạch đá vôi và có địa hình bị chia cắt lớn nên đất cũng đa dạng. Mặt khác, do khai thác trong nhiều năm với phương thức canh tác lạc hậu, đất không được cải tạo bồi dưỡng độ phì nên phần lớn bị bạc màu ở nhiều mức độ khác nhau.

b. Tài nguyên nước:

Tài nguyên nước của huyện Minh Hoá có những hạn chế nhất định và phụ thuộc chủ yếu vào điều kiện khí hậu thời tiết hàng năm.

- Nước mặt: Phụ thuộc vào lượng mưa tự nhiên, một phần được lấy từ các con sông suối. Ngoài ra, còn có các hồ đập nhỏ khác phục vụ cho sinh hoạt và tưới tiêu của nhân dân. Tuy nhiên nguồn nước bị hạn chế do khô hạn vào mùa khô và ngập lụt vào mùa mưa nên hiệu quả sử dụng không cao.

- Nước ngầm: Thường sâu và dễ bị cạn vào mùa khô, ảnh hưởng không nhỏ đến sinh hoạt của nhân dân.



c. Tài nguyên rừng:

Toàn huyện có 30.861 ha đất rừng đặc dụng; 55.462 ha đất rừng sản xuất; 39.144 ha đất rừng phòng hộ. Trong ba loại rừng trên thì đất có rừng là 103.593 ha, đất chưa có rừng 21.875 ha. Đây là tiềm năng, thế mạnh của huyện, là vùng nguyên liệu cung cấp sản phẩm gỗ cho các ngành sản xuất công nghiệp của tỉnh.



d. Tài nguyên khoáng sản khác:

Nguồn khoáng sản của huyện chưa được điều tra thăm dò, nhưng qua thu thập tài liệu từ các đoàn địa chất đã tìm kiếm thăm dò thì trên địa bàn huyện chưa phát hiện các mỏ khoáng sản lớn có giá trị công nghiệp mà chỉ có một số khoáng sản như:

- Than đá: Mỏ than Ba Nương, trữ lượng ước tính 5-10 vạn tấn, chất lượng tốt. Do vỉa than chỉ là một lớp kẹp mỏng trong đá trầm tích cổ nên chỉ có thể khai thác thủ công để phục vụ cho sản xuất vật liệu xây dựng, làm chất đốt.

- Đá vôi: Có trữ lượng lớn, diện tích núi đá vôi trên 12.000 ha, do chưa được thăm dò nghiên cứu về chất lượng cụ thể. Hiện nay chỉ khai thác làm vật liệu xây dựng.

- Phốt phorit: Có trữ lượng nhỏ trong các hang động, ước tính 1,5-2 vạn tấn, có thể dùng sản xuất phân bón.

5. Về môi trường:

Huyện Minh Hoá là huyện nông nghiệp thuần tuý nên tác động ô nhiễm môi trường chưa phải là vấn đề quan tâm và bức xúc. Nhưng do tình hình khai thác gỗ rừng tự nhiên chưa quản lý tốt do đó độ che phủ của hệ thực vật bị hạn chế, các nguồn nước tự nhiên bị cạn kiệt dần về mùa khô và gây lũ lớn, lũ quét về mùa mưa.



II. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA HUYỆN TỪ NĂM 1991 ĐẾN NAY

Huyện Minh Hoá được tái lập từ ngày 1/7/1990, qua hơn 15 năm thực hiện công cuộc đổi mới, tình hình KT-XH huyện Minh Hoá có những chuyển biến tích cực. Kinh tế có tăng trưởng, đời sống nhân dân được nâng lên, tình hình An ninh được đảm bảo. Nền kinh tế đang phát triển theo hướng nông, lâm, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ kết hợp. Các thành phần kinh tế tồn tại chủ yếu là kinh tế hộ gia đình, kinh tế tiểu chủ, kinh tế cá thể.

Tuy nhiên, nhìn chung huyện Minh Hoá vẫn là huyện nghèo, chậm phát triển, sản xuất còn manh mún, lệ thuộc vào thiên nhiên, cơ cấu kinh tế chuyển dịch còn chậm nhất là lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Chưa khai thác hết tiềm năng và thế mạnh của huyện, chưa phát huy hết nội lực, còn mang nặng tư tưởng trông chờ, ỷ lại sự đầu tư của nhà nước.

1. Tăng trưởng kinh tế: Minh Hoá là huyện miền núi rẻo cao, sản xuất nông, lâm nghiệp là chủ yếu. Mức tăng trưởng giá trị sản xuất thời gian qua đạt bình quân 8,4% năm. Trong đó giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản đạt bình quân 8,8% năm, giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt 9,5% năm, giá trị thương mại, dịch vụ đạt 7% năm.

2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Trong những năm qua nền kinh tế của huyện chuyển dịch còn chậm tính đến năm 2005 tỷ trọng ngành nông - lâm - ngư nghiệp chiếm 52,2%; ngành thương nghiệp dịch vụ chiếm 30%; ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp chiếm 17,8%.

3. Phát triển các ngành kinh tế:

a. Kinh tế nông nghiệp: Trong những năm qua nền kinh tế nông nghiệp có bước phát triển khá ổn định góp phần quan trọng trong việc phát triển kinh tế của huyện cũng như giải quyết vấn đề lao động, việc làm và là ngành kinh tế chủ yếu đảm bảo cho đời sống đại bộ phận dân cư trên địa bàn huyện.

Giá trị sản xuất nông - lâm - thuỷ sản năm 2005 đạt 42,5 tỷ đồng (giá CĐ 1994) tăng trưởng bình quân hàng năm 8,8%.

- Trồng trọt: Được sự quan tâm chỉ đạo, đầu tư của tỉnh, huyện đã từng bước đưa các loại giống cây trồng có năng suất cao vào sản xuất đại trà. Bên cạnh đó nhiều chương trình dự án về khuyến nông, xây dựng mô hình thâm canh các loại cây trồng. Vì vậy sản xuất nông nghiệp đã đạt tương đối cao. Tổng diện tích gieo trồng năm 2005 là 4.645 ha, sản lượng đạt 7.195 tấn.

- Chăn nuôi: Đã có chuyển biến tốt cả về số lượng và chất lượng, đang dần loại bỏ giống bò cóc địa phương đưa giống bò lai Sind vào sản xuất đưa chất lượng đàn bò cao hơn. Tính đến tháng 10 năm 2005 toàn huyện có tổng đàn gia súc: 4.350 con trâu; 13.000 con bò, trong đó có 132 con bò giống lai Sind; 12.850 con lợn.

- Lâm nghiệp: Công tác phát triển lâm nghiệp trong thời gian qua chủ yếu quản lý khoanh nuôi và trồng rừng kinh tế. Giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 4.926 triệu đồng

- Công tác trồng rừng kinh tế phát triển nhanh, nhưng việc bảo vệ rừng tự nhiên còn hạn chế do đó nguồn rừng tự nhiên ngày càng bị thu hẹp lại.

- Thuỷ sản: Việc nuôi trồng thuỷ sản chưa được phát triển mạnh. Đến năm 2005 mới có 26 ha ao hồ nuôi cá, sản lượng là 41 tấn, giá trị sản xuất đạt 723 triệu đồng, chưa đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng cho địa bàn huyện.

b. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp: Lĩnh vực Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp chưa được phát triển mạnh hiện nay chủ yếu là sản xuất vật liệu xây dựng, chế biến nông sản nhưng quy mô còn nhỏ lẻ, cơ sở vật chất, máy móc, thiết bị còn lạc hậu nên chất lượng sản phẩm và năng suất chưa cao. Năm 2005 giá trị sản xuất CN-TTCN đạt 14,5 tỷ đồng, chiếm 17,8% trong tổng giá trị sản xuất.

c. Kinh tế Thương mại - Dịch vụ:

Thương mại - Dịch vụ trên địa bàn huyện phát triển tương đối khá, lượng hàng hoá lưu thông trên thị trường và các cơ sở dịch vụ đa dạng và phong phú, đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của nhân dân trên địa bàn. Giá trị thương mại - dịch vụ năm 2005 đạt 24,4 tỷ đồng, chiếm 30% trong tổng giá trị sản xuất. Tuy nhiên ngành thương mại - dịch vụ trên địa bàn huyện vẫn chưa khai thác hết tiềm năng, thế mạnh khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo, các tuyến đường giao thông: đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á.



d. Hoạt động Tài chính - Tiền tệ - Tín dụng:

Đã có nhiều cố gắng vươn lên thích ứng với cơ chế mới nhưng do nền kinh tế của huyện chưa phát triển nên nguồn thu ngân sách trên địa bàn còn hạn chế, năm 2005 thu ngân sách trên địa bàn mới đạt 2.810 triệu đồng, nguồn chi ngân sách chủ yếu dựa vào nguồn bổ sung của ngân sách cấp trên. Hoạt động tín dụng ngân hàng đã đáp ứng được yêu cầu vay vốn sản xuất, kinh doanh của nhân dân.



e. Khoa học - Công nghệ:

Đã từng bước áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào sản xuất. Đưa các loại giống cây trồng vật nuôi có năng suất cao vào sản xuất đại trà. Đầu tư xây dựng các mô hình trình diễn nhằm đưa năng suất các loại cây trồng vật nuôi cao hơn.



f. Xây dựng cơ sở hạ tầng:

Huyện Minh Hoá là huyện miền núi rẻo cao, trong những năm qua đã được Đảng, Nhà nước quan tâm đầu tư nhiều chương trình dự án: Chương trình 135, Chương trình định canh - định cư, Chương trình phát triển giáo dục, Chương trình kiên cố hoá trường học, Chương trình cứng hoá GTNT, bê tông hoá kênh mương, Chương trình trồng năm triệu ha rừng, Chương trình phủ sóng truyền thanh - truyền hình, các dự án ICCO, IFAD, ATLT, ADB, giao thông nông thôn 2, dự án tiểu học vùng khó, khu kinh tế cửa khẩu Cha Lo… Đã xây dựng phần lớn cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt, cũng như phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Giao thông: Mạng lưới giao thông của huyện được hình thành tương đối hợp lý, bảo đảm lưu thông với các xã và các huyện lân cận. Trên địa bàn huyện có tuyến đường Xuyên Á chiều dài 80 km; tuyến đường Hồ Chí Minh chiều dài 60 km đi qua huyện, đây là các tuyến đường huyết mạch của huyện, là điều kiện thuận lợi cho việc giao thương phát triển kinh tế. Hệ thống GTNT toàn huyện có 120 km, đến nay mới bê tông hoá được hơn 40 km, còn lại là đường đất.

Nhìn chung mạng lưới giao thông đường bộ đã được hình thành cơ bản, các tuyến đường từ trung tâm huyện lỵ đến trung tâm các xã đã thông suốt. Tuy nhiên còn nhiều tuyến đường về trung tâm một số xã chưa được bê tông hoá, hệ thống cầu, cống còn tạm bợ do đó chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại và phát triển kinh tế ở một số địa phương như xã Minh Hoá và Tân Hoá.

- Thuỷ lợi: Hệ thống thuỷ lợi đến nay đã có 37 công trình đập thuỷ lợi và 36.151m kênh mương tưới tiêu cho 503,5 ha ruộng, đã bê tông hoá được 25.013m kênh mương, các hồ đập được xây dựng kiên cố. Nhưng phần lớn các hồ đập đã xây dùng từ lâu nên đến nay đã xuống cấp nghiêm trọng nên vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu phục vụ cho sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản của nhân dân.

Nguồn nước cung cấp cho sản xuất còn thiếu, các công trình thuỷ lợi nhỏ, chủ yếu là các đập, hồ chứa lượng nước phụ thuộc vào lượng mưa trong năm. Hệ thống kênh mương chưa đáp ứng được yêu cầu, phần lớn là mương đất nên không đảm bảo nước tưới vào mùa khô.

- Hệ thống lưới điện: Mạng lưới điện Quốc gia đã được kéo về tất cả các xã nhưng số hộ được dùng điện sinh hoạt mới đạt 89%, còn khoảng 12% số hộ đến nay vẫn chưa được dùng điện sinh hoạt, do ở quá xa đường dây hạ thế, chưa có điều kiện để kéo điện, tập trung vào các bản của 2 xã Dân Hoá và Trọng Hoá.

- Hệ thống thông tin liên lạc, Truyền thanh - Truyền hình: Hoạt động bưu chính viễn thông từng bước được hiện đại hoá, đảm bảo thông tin liên lạc phục vụ cho công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và các cấp chính quyền, các lực lượng vũ trang, phục vụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của huyện.

- Bưu chính viễn thông: Được phát triển rộng, đến nay đã có 16/16 xã, thị trấn có điểm bưu điện văn hoá xã, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu thông tin liên lạc của nhân dân.

- Đài Truyền thanh - Truyền hình: Được nâng cấp, tăng thời lượng phát sóng, chất lượng bài viết cho công tác tuyên truyền đã được chú trọng và cải thiện đáng kể.

- Hệ thống trường học: Toàn huyện phần lớn đã được xây dựng kiên cố đáp ứng được nhu cầu dạy và học, nhưng còn một số lớp học ở vùng sâu, vùng xa đang tạm bợ tranh, tre, nứa, lá.

- Mạng lưới trạm y tế: Đến nay huyện đã có một bệnh viện đa khoa, một phòng khám khu vực trực thuộc bệnh viện đa khoa huyện, 15 trạm y tế xã được xây dựng kiên cố, nhưng vẫn chưa đạt chuẩn quốc gia.

- Nước sinh hoạt: Nhiều chương trình dự án đã được đầu tư xây dựng đáp ứng một phần nước sinh hoạt phục vụ đời sống nhân dân. Tại trung tâm huyện lỵ có một công trình nước sạch, 7 trên 15 xã đã được xây dựng công trình nước tự chảy phục vụ cho nhân dân ở một số nơi khan hiếm nguồn nước. Nhưng do công tác bảo vệ không tốt nên nhiều công trình nước tự chảy không phát huy được hiệu quả.

4. Phát triển lĩnh vực văn hoá - xã hội:

a. Hoạt động văn hoá, thông tin, thể thao, truyền thanh, truyền hình: Trong những năm qua từng bước phát triển, đã góp phần tích cực vào việc tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đến mọi tầng lớp nhân dân, động viên nhân dân thực hiện các nhiệm vụ Kinh tế - Xã hội, Quốc phòng - An ninh. Phát hiện nêu gương những nhân tố mới, tích cực tham gia thực hiện cuộc vận động xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, làng văn hoá, đơn vị văn hoá.

b. Giáo dục - Đào tạo: Mạng lưới trường lớp ở các ngành học, cấp học được mở rộng và phát triển cơ bản đáp ứng được nhu cầu học tập của nhân dân; xoá được xã trắng về giáo dục Mầm non, Tiểu học; chất lượng học tập hàng năm đều tăng.

Giáo dục vùng cao, vùng dân tộc thiểu số có nhiều chuyển biến tích cực trong việc duy trì số lượng cũng như nâng cao chất lượng, trường lớp bố trí tận thôn bản. Tỷ lệ người đi học bình quân gần 3 người dân có 1 người đi học. Căn bản hoàn thành việc tách trường PTCS thành trường Tiểu học và THCS; tách Mẫu giáo ra khỏi trường Tiểu học. Trường THPT, trường Phổ thông cấp 2-3 phát triển tới trung tâm cụm xã.

- Củng cố vững chắc kết quả phổ cập giáo dục Tiểu học - xoá mù chữ đã đạt được, triển khai mạnh mẽ phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập giáo dục THCS trên khắp cả địa bàn.

c. Giải quyết việc làm cho người lao động có nhiều cố gắng. Thông qua thực hiện chương trình Quốc gia giải quyết việc làm và lồng ghép các chương trình dự án, đã có những biện pháp tích cực để giải quyết việc làm cho người lao động như hỗ trợ khai hoang để mở rộng diện tích sản xuất, đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, phối hợp với các ngành liên quan để xúc tiến việc làm cho người lao động. Sử dụng có hiệu quả nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm.

d. Công tác xoá đói giảm nghèo được quan tâm thực hiện tích cực, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Bình quân mỗi năm giảm 7,2% số hộ nghèo, xoá mái tranh cho hộ nghèo được 463 hộ trên tổng số 1.859 hộ. Nhờ đầu tư nhiều mặt của Nhà nước và sự nỗ lực cố gắng của nhân dân, đời sống dân cư đã có bước cải thiện, bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc. ­

đ. Chính sách xã hội cho các đối tượng là người có công với cách mạng, các gia đình thương binh liệt sỹ được thực hiện đầy đủ. Luôn quan tâm đảm bảo đời sống cho các đối tượng thuộc diện cứu trợ xã hội thường xuyên và đột xuất. Các hoạt động từ thiện, nhân đạo, chăm sóc giúp đỡ người già cô đơn, trẻ em tàn tật đã và đang trở thành phong trào sâu rộng trong nhân dân.

e. Chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân có nhiều tiến bộ. Mạng lưới Y tế từng bước đầu tư xây dựng, cơ sở hạ tầng phục vụ cho việc khám chữa bệnh ngày càng được quan tâm hơn. Các chương trình Y tế Quốc gia được thực hiện có hiệu quả, góp phần tích cực trong việc ngăn chặn và loại trừ các bệnh xã hội. Đã có 14.959 nhân khẩu được cấp thẻ bảo hiểm Y tế theo Quyết định 139/QĐ/TTg.

f. Dân số - Gia đình & Trẻ em: Theo số liệu thống kê toàn huyện có 44.557 người; 8.921 hộ, gồm các dân tộc Kinh, Khùa, Mày, Sách, Rục, Thổ, Arem. Mật độ dân số 32 người/km2. Trong những năm qua việc tuyên truyền, vận động, giáo dục truyền thông về Dân số - Kế hoạch hoá gia đình được triển khai sâu rộng và có hiệu quả. Góp phần giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên từ 14,5‰ năm 2001 xuống 12,7‰ năm 2005.

Công tác chăm sóc, bảo vệ trẻ em được các cấp uỷ Đảng, chính quyền, ban ngành đoàn thể, các tổ chức kinh tế, xã hội quan tâm chú trọng chăm lo.

h. Nguồn nhân lực: Hiện nay toàn huyện có 22.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm gần 50% dân số, phần lớn là lao động nông nghiệp, lao động phổ thông chưa qua đào tạo.



5. An ninh - Quốc phòng:

a. An ninh: Trong những năm qua tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện được đảm bảo ổn định, góp phần tích cực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá huyện nhà.

Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc được củng cố và phát triển rộng khắp, nhân dân đã chủ động giải quyết kịp thời các tranh chấp, mâu thuẫn trong nội bộ nơi thôn xóm. Lực lượng công an từ huyện đến cơ sở đã thực sự là lực lượng chủ công trên lĩnh vực đấu tranh chống tội phạm, đã liên tục mở nhiều đợt truy quét tội phạm, xoá các tụ điểm phức tạp về trật tự xã hội. Điều tra làm rõ 100% các vụ trọng án xảy ra; kiềm chế sự gia tăng tội phạm. Đã sử dụng nhiều biện pháp quyết liệt làm giảm tai nạn, va quệt giao thông xảy ra. Đồng thời tăng cường công tác xây dựng lực lượng Công an nhân dân trong sạch vững mạnh toàn diện.



b. Quốc phòng: Thường xuyên quán triệt hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân, gắn thế trận quốc phòng toàn dân với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Quán triệt và thực hiện nội dung công tác Quốc phòng - An ninh của địa phương trong tình hình mới. Nâng cao chất lượng xây dựng khu vực phòng thủ, gắn việc xây dựng cơ sở xã và cụm tuyến an toàn làm chủ, sẵn sàng chiến đấu.

6. Nâng cao hiệu lực quản lý Nhà nước và hoạt động của các cơ quan Tư pháp:

Uỷ ban nhân dân các cấp đã từng bước đổi mới nội dung, phương thức hoạt động và lề lối làm việc. Việc quản lý và điều hành của chính quyền cấp huyện, cấp xã đã có nhiều cố gắng trong việc quán triệt và tổ chức thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước trên các lĩnh vực.

Các cơ quan pháp luật đã có những tiến bộ trong tuyên truyền giáo dục pháp luật, giám sát thực hiện pháp luật và đấu tranh phòng chống tội phạm, tiêu cực, tham nhũng, góp phần giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ pháp luật và các quyền hợp pháp của công dân, đồng thời góp phần xây dựng chính quyền trong sạch vững mạnh.

III. NHỮNG TỒN TẠI, YẾU KÉM

1. Về lĩnh vực kinh tế: Trong sản xuất nông nghiệp, việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi còn chậm, chưa tạo được sản phẩm hàng hoá có giá trị lớn, canh tác còn lạc hậu, chủ yếu dựa vào thiên nhiên. Quản lý, sử dụng đất đai chưa được chặt chẽ, diện tích đất canh tác còn bỏ hoang. Việc giao đất, giao rừng và thực hiện quy hoạch đất đai tiến hành chậm, hiệu quả thấp. Quản lý bảo vệ rừng chưa có biện pháp hữu hiệu, tình trạng khai thác lâm sản trái phép còn diễn biến khá phức tạp.

Cơ cấu kinh tế trên lãnh thổ huyện hiện nay chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp, sự chuyển dịch giữa các ngành kinh tế có thế mạnh của huyện còn chậm. Việc đổi mới và củng cố quan hệ sản xuất chưa được quan tâm đúng mức vì vậy chưa làm tốt khâu chuyển đổi hình thức kinh tế tập thể theo chỉ đạo của Trung ương. Việc ứng dụng các tiến bộ KH-KT còn hạn chế, nhiều mô hình kinh tế đã được triển khai có hiệu quả nhưng chưa được nhân rộng để áp dụng trên địa bàn.



2. Về lĩnh vực văn hoá, xã hội:

- Văn hoá thông tin: Chưa đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước ở vùng sâu, vùng xa và vùng dân tộc thiểu số. Cơ sở vật chất văn hoá, thể dục thể thao, vui chơi giải trí cho nhân dân còn thiếu nghiêm trọng.

- Giáo dục: Quy mô trường lớp còn nhỏ lẻ, manh mún. Giáo dục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn. Chất lượng và hiệu quả giáo dục còn thấp so với yêu cầu phát triển chung của tỉnh.

- Đời sống một bộ phận dân cư, nhất là vùng dân tộc thiểu số còn nhiều khó khăn, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao, việc huy động nội lực phục vụ cho công tác xoá đói giảm nghèo còn hạn chế.

- Y tế: Việc bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân chưa đáp ứng được yêu cầu do đội ngũ cán bộ y tế còn thiếu và yếu về trình độ chuyên môn nhất là tuyến xã và thôn bản.

* Tóm lại nền kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng của huyện trong những năm qua đã có những bước đi lên rõ rệt, nhưng do xuất phát điểm quá thấp nên nền kinh tế của huyện vẫn còn nghèo, chưa tương xứng với xu hướng phát triển phát triển chung của tỉnh và cả nước. Để đạt được mục tiêu phương hướng phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong tương lai, cần phải đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng nhanh tỷ trọng các ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp và thương mại - dịch vụ. Khai thác hết tiềm năng thế mạnh sẵn có của huyện đồng thời phải tranh thủ huy động tối đa các nguồn đầu tư từ bên ngoài và bằng các giải pháp hết sức thiết thực để điều hành và khơi dậy mọi nguồn lực, thúc đẩy sản xuất phát triển bền vững, đảm bảo đời sống nhân dân ngày càng ổn định, bộ mặt xã hội của huyện được đổi mới và đi lên.

PHẦN II

ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI ĐẾN NĂM 2020

I. QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN

Xây dựng hệ thống kinh tế mở cả về cơ chế quản lý, cơ cấu kinh tế trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trước hết phát triển kinh tế của huyện phải gắn với thị trường trong tỉnh, trong nước đồng thời không ngừng mở rộng thị trường Quốc tế, nhất là thị trường Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Phát huy và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực tại chổ, khai thác các nguồn lực bên ngoài vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh và có tính bền vững. Đưa huyện nhà thoát khỏi tình trạng nghèo, đói, chậm phát triển.

- Gắn chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế với chỉ tiêu tiến bộ và công bằng xã hội, nhằm tạo việc làm, nâng cao mức sống và trình độ dân trí cho các tầng lớp dân cư. Trước hết là xây dựng kết cấu hạ tầng đáp ứng nhu cầu phát triển nhanh đi đôi với mở rộng hợp tác kinh tế quốc tế. Giải quyết tốt các chính sách xã hội cho khu vực vùng sâu, vùng xa. Phát triển nông thôn nhằm từng bước rút ngắn khoảng cách trong vòng 15 năm tới về sự chênh lệch mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư. Phát triển kinh tế đi đôi với nâng cao trình độ dân trí, phát triển nguồn nhân lực.

- Kết hợp cải tạo tự nhiên với phòng tránh thiên tai đặc biệt là những bất lợi của điều kiện thời tiết, địa hình. Chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế của huyện theo hướng công nghiệp hoá - hiện đại hoá, tăng tỷ trọng công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến nông lâm sản, tăng tỷ trọng dịch vụ. Quy hoạch xây dựng và tập trung phát triển các trung tâm như: Dân Hoá, Hoá Tiến, Trung Hoá, Hồng Hoá và thị trấn Quy Đạt thành những vùng phát triển trọng điểm của huyện. Đồng thời trên mỗi vùng cần lựa chọn và quy hoạch trung tâm phát triển làm hạt nhân phát triển của vùng, từ đó xác định những ngành, những sản phẩm mũi nhọn đưa vào trọng điểm để tạo sự đột phá trong nền kinh tế của toàn huyện. Cơ cấu kinh tế phải được hình thành trên cơ sở lợi thế so sánh của các vùng và được điều chỉnh dần qua từng năm.

- Đa dạng hoá các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tập thể, kinh tế trang trại, nhằm phát huy tiềm năng nguồn lực tại chổ. Tận dụng và phát huy hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật công nghệ hiện có, nhanh chóng tạo ra các yếu tố bên trong vững mạnh (Hạ tầng, con người, chính sách) để chủ động nguồn lực bên trong, đồng thời kết hợp nguồn lực bên ngoài: vốn đầu tư và công nghệ mới, làm tiền đề cho việc phát triển.

- Nhanh chóng xây dựng hệ thống đô thị trở thành các trung tâm kinh tế với chức năng là hạt nhân để thúc đẩy vùng nông thôn phát triển.

- Quá trình phát triển kết hợp chặt chẽ các yếu tố kinh tế - xã hội với môi trường sinh thái; kinh tế với an ninh quốc phòng trên từng khu vực, chú trọng vùng biên giới và các vùng đồng bào dân tộc.



II. MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN

Thời kỳ 2006-2020 là thời kỳ có ý nghĩa quyết định công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Mục tiêu của huyện là phải huy động mọi nguồn lực tại địa phương kết hợp với vốn đầu tư bên ngoài để đầu tư phát triển, trước hết cho tăng trưởng kinh tế và kết cấu hạ tầng để nhanh chóng có nguồn thu lớn, tạo điều kiện cho bước phát triển tiếp theo. Giữ vững ổn định chính trị, giải quyết các vấn đề xã hội đưa huyện nhà ra khỏi tình trạng khó khăn và chậm phát triển, đưa nền kinh tế của huyện dần dần tiến kịp mức trung bình của toàn quốc, tạo điều kiện tiến xa hơn nữa vào những năm tiếp theo.

Do xuất phát điểm nền kinh tế của huyện còn thấp và có nhiều khó khăn ở các mặt vì vậy các mục tiêu phát triển được xác định như sau:

- Giữ vững nhịp độ tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2006-2020 từ 10-15%

- Chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế đến năm 2020:

+ Giá trị sản xuất Nông - Lâm nghiệp - Thuỷ sản: 20%

+ Giá trị Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp: 30%

+ Giá trị Thương nghiệp dịch vụ: 50%

- Phấn đấu thu ngân sách trên địa bàn đến 2020 đạt 10 tỷ đồng.

- Thu nhập bình quân đầu người đến năm 2020 đạt 12 triệu đồng/năm.

- Phấn đấu đến năm 2020 xoá hộ đói và giảm hộ nghèo đến mức thấp nhất.

- Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên đến năm 2020 là: 8%o

- Phấn đấu đến 2020 tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em giảm xuống còn: 17%

- Từng bước tạo chuyển biến tích cực về văn hoá, giáo dục, đào tạo, y tế và các vấn đề xã hội khác nhằm cải thiện đời sống tinh thần của nhân dân.

. - Đảm bảo quốc phòng, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, phát triển môi trường sinh thái bền vững.

III. PHƯƠNG ÁN PHÁT TRIỂN

Trong giai đoạn từ nay đến năm 2020 huyện Minh Hoá dự báo khả năng phát triển như sau:

Trên cơ sở khai thác cao nhất có thể được về các nguồn lực tự nhiên, nguồn nhân lực và các khả năng nội lực khác của huyện để chuyển đổi cơ cầu kinh tế, phát triển kinh tế -xã hội nhanh và bền vững.

Đầu tư chiều sâu, cải tạo và từng bước hiện đại các cơ sở kinh tế hiện có, đa dạng hoá và hiện đại hoá ngành nông nghiệp, thay đổi một bước cơ cấu trong nội bộ ngành nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng chăn nuôi, tỷ trọng cây công nghiệp.

Mở rộng và đầu tư một số cơ sở chế biến sản phẩm nông - lâm nghiệp, khôi phục và phát triển các ngành nghề truyền thống ở nông thôn như: Đan lát, mộc dân dụng, phục vụ tiêu dùng và hướng tới xuất khẩu.

Khôi phục và phát triển các di tích lịch sử, di tích văn hoá, danh lam thắng cảnh, nguồn sinh thái để thu hút khách du lịch.

Xem xét đầy đủ những khả năng tác động từ bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn đầu tư, chuyển giao khoa học công nghệ trong mối quan hệ liên kết giữa các vùng kinh tế trong tỉnh và sự phát huy tác dụng của các hạt nhân phát triển trọng điểm của huyện để tranh thủ thu hút các nguồn lực từ bên ngoài, đẩy nhanh nhịp độ đầu tư phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá, tăng năng suất chất lượng sản phẩm hàng hoá. Khai thác triệt để tiềm năng quỹ đất của vùng gò đồi để hình thành các vùng chuyên canh cây công nghiệp, cây nguyên liệu trên quy mô lớn, kết hợp với việc phát triển Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp chế biến.

Hình thành hành lang kinh tế dọc các trục đường giao thông chính như: đường mòn Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á và đặc biệt là Khu Kinh tế cửa khẩu Cha Lo, tập trung phát triển các hạt nhân kinh tế vùng: Dân Hoá, Hoá Tiến, Hồng Hoá,Trung Hoá và thị trấn Quy Đạt bằng những nội lực bên trong, và sự tác động từ bên ngoài nhất là vốn đầu tư, kỹ thuật và công nghệ, nhằm phát triển nhanh và bền vững ở các khu vực này.



Nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất giai đoạn 2001-2010 đạt bình quân 8,8% năm, phấn đấu giai đoạn 2011-2020 đạt 13% năm. Năm 2010 thu nhập bình quân đầu người ước đạt khoảng 3 triệu đồng, phấn đấu đến năm 2020 đạt khoảng 12 triệu đồng, mới giảm dần được khoảng cách chênh lệch so với các huyện khác trong tỉnh. Đây là phương án tăng tốc, tuy có nhiều khó khăn đặc biệt là vốn, song đây là phương án hợp lý phù hợp xu thế phát triển chung của cả tỉnh, cả nước.

* Dự báo chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Đơn vị tính(%)

TT

Danh mục

2001

2010

2020




Tổng giá trị sản xuất

100

100

100

1

Nông - Lâm - Thuỷ sản

71,3

45

20

2

CN - TTCN – XD

10,1

21

30

3

Thương nghiệp - Dịch vụ

18,6

34

50



* Dự báo giá trị sản xuất và nhịp độ tăng trưởng giá trị sản xuất


TT


Danh mục

2001

2010

2020

Nhịp độ tăng trưởng (%)

2001-2010

2010-2020




Tổng giá trị sản xuất

59

140

506

10,1

15,3

1

Nông - Lâm - Thuỷ sản

30,3

62,3

164

8,3

11,4

2

CN – TTCN- XD

10,1

29,4

94

12,6

13,8

3

Thương nghiệp - Dịch vụ

18,6

48,3

248

11,2

19,9



IV. ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN CỦA CÁC NGÀNH

1. Nông nghiệp:

Phát triển nông nghiệp toàn diện nhằm giải quyết lương thực tại chỗ và tăng nhanh hàng hoá nông - lâm - thuỷ sản theo hướng khuyến khích, hình thành và phát triển các trang trại tổng hợp:

- Sản xuất lương thực: Phấn đấu tới năm 2020 tổng sản lượng lương thực đạt: 15.157 tấn, sản phẩm chủ yếu là lúa nước và ngô

- Phát triển cây lạc là cây có giá trị hàng hoá và nguồn thu nhập ổn định nhất trên địa bàn huyện, đến năm 2006 sản lượng đã đạt được hơn 2.500 tấn, phấn đấu đến năm2020 đạt sản lượng 5.500 tấn

- Sản xuất lâm nghiệp: Tập trung chỉ đạo trồng rừng kinh tế, phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Phấn đấu đến năm 2020 giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt 20 tỷ đồng

- Chăn nuôi: Đẩy mạnh chăn nuôi đàn gia súc theo hướng vừa tăng tổng đàn vừa nâng cao chất lượng và thể trọng của đàn gia súc. Phấn đấu đến năm 2020 phải đạt được 60.000 con gia súc. Trong đó: trâu 7.700 con; bò 24.000 con; dê 3.300 con. Trong tổng đàn bò phải có 50% bò lai Sind.



2. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp:

Duy trì và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn có hiệu quả. Tạo mọi điều kiện, khuyến khích phát triển các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các tổ chức kinh tế tập thể phát triển công nghiệp, dịch vụ chế biến nông - lâm - sản, sản xuất vật liệu xây dựng, phát triển cơ khí nhỏ phục vụ sản xuất nông nghiệp và tiêu dùng. Phấn đấu đến năm 2020 đưa giá trị sản xuất CN-TTCN lên 94 tỷ đồng.



3. Thương mại - dịch vụ:

Khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển dịch vụ thương mại, lưu thông vật tư hàng hoá và du lịch. Cần củng cố, tổ chức lại mạng lưới thương nghiệp đến tận xã trong đó cốt lõi là chợ nông thôn, hoàn chỉnh việc xây dựng các chợ trung tâm huyện lỵ và các trung tâm cụm xã, coi chợ cụm xã là chủ đạo để điều tiết hoạt động của các ngành hàng chủ yếu phục vụ sản xuất và đời sống của nhân dân. Ngoài ra cần phát triển mạng lưới tiểu thương, kinh tế tư nhân đến tận bản làng nhằm đưa các mặt hàng thiết yếu đến được với các đồng bào dân tộc.

Khai thác lợi thế Khu Kinh tế cửa khẩu Cha Lo, tuyến đường Xuyên Á tuyến, đường Hồ Chí Minh để khuyến khích các thành phần kinh tế, mở mang các ngành nghề dịch vụ, du lịch ở các điểm trung tâm như cửa khẩu Cha Lo, ngã 3 Khe Ve, trung tâm Hoá Tiến, ngã 3 Trung Hoá, ngã 3 Sôông (Hồng Hoá).

4. Cơ sở hạ tầng:

Huy động tốt nội lực, tăng cường thu hút các nguồn lực từ bên ngoài để đầu tư xây dựng củng cố nâng cấp hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội đảm bảo phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân:

- Giao thông: Khai thác có hiệu quả 2 tuyến đường xuyên Á và tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua huyện, xây dựng và cải tạo các tuyến đường nội thị Quy Đạt, đường liên vùng. Tập trung nguồn lực để xây dựng đường giao thông cho các bản thuộc 2 xã Dân Hoá và Trọng Hoá tạo điều kiện cho dân bản đi lại thuận tiện hơn. Thực hiện tốt phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm để kiên cố hoá toàn bộ đường giao thông liên xã, liên thôn.

- Thuỷ lợi: Cải tạo nâng cấp các công trình thuỷ lợi hiện có. Xem xét đầu tư xây dựng mới một số đập thuỷ lợi đã có trong quy hoạch, các trạm bơm điện, các công trình thuỷ lợi nhỏ khác. Thực hiện tốt phương châm nhà nước và nhân dân cùng làm để kiên cố hoá toàn bộ hệ thống kênh mương trên địa bàn huyện.

- Phát triển điện lực: Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư xây dựng các nhà máy thuỷ điện ở các đầu nguồn sông Gianh, sông Rào Nan. Đầu tư cải tạo các trạm biến áp, hệ thống lưới điện ở các xã, phấn đấu đến năm 2015 tất cả các thôn bản trong huyện đều có điện phục vụ cho sản xuất và sinh hoạt.

- Nước sinh hoạt: Quan tâm đầu tư, xây dựng hệ thống cấp nước sinh hoạt nông thôn phấn đấu đến năm 2020 có 90% đến 95% dân cư trong huyện được dùng nước hợp vệ sinh. Triển khai xây dựng hệ thống nước sinh hoạt đảm bảo cung cấp nước sạch cho nhân dân tại trung tâm huyện lỵ và các xã phụ cận, vận dụng tối đa nguồn nước tự chảy cung cấp cho dân cư ở vùng sâu, vùng xa.

- Phát triển đô thị: Tổ chức quản lý chặt chẽ quy hoạch các đô thị trong huyện. Đầu tư nâng cấp thị trấn Quy Đạt, đầu tư xây dựng các thị tứ: Y Leng; Bãi Dinh; Hoá Tiến; Trung Hoá; ngã 3 Sôông (Hồng Hoá)

- Thông tin liên lạc: Đầu tư phát triển các bưu cục ở các trung tâm dân cư, các điểm bưu điện văn hoá, mở rộng mạng lưới điện thoại cố định cho tất cả các xã để đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt.

- Hệ thống trường học: Nâng cấp và sửa chữa các trường học hiện có. Xây dựng mới các trường, lớp còn tạm bợ tranh, tre, nứa, lá. Đặc biệt quan tâm chú ý các trường, lớp ở các vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phấn đấu đến năm 2020 có 100% số trường lớp được xây dựng kiên cố.

- Phát triển các cơ sở y tế: Phấn đấu đến 2020 xây dựng 100% trạm y tế xã đạt chuẩn quốc gia.



5. Khoa học công nghệ và môi trường:

- Hoạt động khoa học công nghệ cần tập trung giải quyết tốt giống cây trồng vật nuôi, phòng trừ dịch bệnh cho cây trồng, vật nuôi. Ứng dụng và chuyển giao các tiến bộ khoa học kỹ thuật có hiệu quả nhằm tăng năng suất cây trồng, tăng chất lượng đàn gia súc, gia cầm, phát triển nuôi trồng thuỷ sản trên toàn địa bàn huyện.

- Đổi mới thiết bị ứng dụng các công nghệ mới, tiên tiến nhằm nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả các cơ sở công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp.

- Bảo vệ và khai thác, sử dụng tài nguyên đất, tài nguyên rừng, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản khác một cách hợp lý. Bảo vệ tốt hơn nguồn rừng phòng hộ, rừng đặc dụng. Thực hiện tốt việc xử lý chất thải và bảo vệ môi trường sinh thái.



6. Lĩnh vực văn hoá - xã hội:

- Giáo dục – Đào tạo: Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục, nâng cao chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục đào tạo, đảm bảo sự phát triển đồng điều về chất lượng giáo dục trong địa bàn huyện. Nâng cao trình độ đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý. Phấn đấu đến năm 2010 phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi và phổ cập THCS cho tất cả các xã trong huyện. Đến năm 2020 đạt chuẩn phổ cập THCS cho tất cả các xã trong huyện. Tiếp tục phát triển đào tạo theo hướng đa dạng hoá các hình thức đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu học tập nâng cao dân trí của nhân dân. Chú trọng đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, đào tạo nghề phục vụ cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện. Phấn đấu đến năm 2020 tỷ lệ lao động trong độ tuổi được đào tạo 45% đến 50%.

- Y tế: Tăng cường cơ sở vật chất cho Bệnh viện đa khoa huyện, Trạm y tế các xã và tăng cường đội ngũ y, bác sỹ có trình độ chuyên môn cao. Phấn đấu đến năm 2015 mỗi trạm y tế xã có 1 bác sỹ để khám chữa bệnh chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân ngày càng tốt hơn. Thực hiện tốt việc khám chữa bệnh miễn phí cho người nghèo, đồng bào dân tộc ít người và trẻ em dưới 6 tuổi. Đẩy mạnh công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, tăng cường công tác truyền thông về dân số - kế hoạch hoá gia đình đặc biệt đối với dân cư vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Để tạo bước chuyển biến rõ rệt trong công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình, phấn đấu giảm tỷ lệ sinh hàng năm 0,3-0,4%o.

- Văn hoá Thông tin - Thể dục Thể thao: Đẩy mạnh phong trào toàn dân đoàn kết đời sống văn hoá, bại trừ các tệ nạn xã hội, phấn đấu đến năm 2015 số gia đình đạt chuẩn văn hoá là 75%, đến năm 2020 đạt trên 90%. Tạo bước chuyển biến trong hoạt động Thể dục - Thể thao, mở rộng và nâng cao chất lượng điện phủ sóng phát thanh truyền hình để đảm bảo nhu cầu thông tin cho nhân dân.

- Đẩy mạnh chương trình giải quyết việc làm, ưu tiên đầu tư tạo việc làm, thu hút lao động, đa dạng hoá việc làm để phục vụ cho phát triển công nghiệp và dịch vụ trong huyện. Thực hiện tốt chương trình xoá đói giảm nghèo, đẩy mạnh tăng trưởng kinh tế gắn với xoá đói giảm nghèo, từng bước nâng cao dân trí cho vùng nghèo, tạo điều kiện cho các xã nghèo trong huyện vươn lên. Quan tâm hơn nữa đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào vùng sâu, vùng xa, phấn đấu hàng năm giảm 4% đến 5% hộ nghèo.

V. QUY HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT

Căn cứ thực trạng sử dụng đất đến năm 2005 và định hướng phát triển Kinh tế - Xã hội đến năm 2020. Huyện quy hoạch sử đất đến năm 2015 và năm 2020 như sau:




TT

Chỉ tiêu



Hiện trạng năm 2006

Quy hoạch đến 2010

Quy hoạch đến 2015

Quy hoạch đến 2020




Tổng diện tích đất tự nhiên




141.006,00

141.006,00

141.006,00

141.006,00

1

Đất nông nghiệp

NNP

110.139,39

132.240,00

131.740,00

131.346,00

1.1

Đất sản xuất nông

SXN

5.450,62

6.773,00

6.853,00

6.800,00

1.1.1

Đất trồng cây hàng năm

CHN

4.458,35

5.008,36

5.038,36

5.015,00

1.1.2

Đất trồng cây lâu năm

CLN

992,27

1.764,64

1.814,64

1.785,00

1.2

Đất lâm nghiệp

LNP

104.454,31

125.467,00

124.887,00

124.546,00

1.2.1

Đất rừng sản xuất

RSX

31.975,70

55.462,00

54.882,00

54,541,00

1.2.2

Đất rừng phòng hộ

RPH

72.478,61

39.144,00

39.144,00

39.144,00

1.2.3

Đất rừng đặc dụng

RDD




30.861,00

30.861,00

30.861,00

2

Đất phi nông nghiệp

PNN

2.981,47

8.766,00

9.266,00

9.660,00

2.1

Đất ở

OTC

361,48

557,73

607,73

661,73

2.1.1

Đất ở tại nông thôn

ONT

311,79

469,89

509,89

544,89

2.1.2

Đất ở tại đô thị

ODT

49,69

87,84

97,84

116,84

2.2

Đất chuyên dùng

CDG

1.408,03

6.896,64

7.336,64

7.677,62

`2.2.1

Đất trụ sở cơ quan CTSN

CTS

38,41

321,36

391,36

451,36

2.2.2

Đất quốc phòng an ninh

CQA

605,59

660,59

700,59

700,59

2.2.3

Đất sản xuất kinh doanh PNN

CSK

20,48

1.796,69

1.926,69

2.006,69

2.2.4

Đất có mục đích công cộng

CCC

743,55

4.118,00

4.318,00

4.518,98

2.3

Đất nghĩa trang nghĩa địa

NTD

199,86

315,65

325,65

340,65

2.4

Đất sông suối và mặt nước CD

SMN

1.012,10

995,98

995,98

980,00

3

Đất chưa sử dụng

CSD

28.002,37

-

-

-

3.1

Đất bằng chưa sử dụng

BCS

1.361,32

-

-

-

3.2

Đất đồi núi chưa sử dụng

DCS

26.457,96

-

-

-

3.3

Núi đá không có rừng cây

NCS

183,09

-

-

-


VI. ĐỊNH HƯỚNG XÂY DỰNG CƠ SỞ HẠ TẦNG

Phải huy động tối đa nguồn vốn sẵn có trên địa bàn huyện, đặc biệt là nguồn thu tiền sử dụng đất. Tranh thủ các nguồn vốn đầu tư từ bên ngoài và quản lý sử dụng hợp lý có hiệu quả các nguồn vốn chương trình mục tiêu để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng. Phấn đấu đến năm 2020 phải đạt được các mục tiêu sau:

- Xây dựng hệ thống lưới điện, cung cấp điện cho tất cả các bản vùng sâu, vùng xa đảm bảo 100% hộ dân trong huyện có điện sinh hoạt.

- Giao thông: Xây dựng một số cầu xung yếu, bê tông hoá các tuyến đường liên xã, liên thôn còn lại. Hướng tập trung các tuyến đường đi Tân Hoá, đi Minh Hoá và đi Xuân Hoá.

- Thuỷ lợi: Sữa chữa nâng cấp các đập thuỷ lợi hiện nay đã xuống cấp, bê tông hoá kênh mương các tuyến kênh mương còn lại.

- Xây dựng mới các chợ ở trung tâm các xã.

- Kiên cố hoá hệ thống lớp học, đặc biệt quan tâm các trường lớp học ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Phấn đấu đến năm 2015 không còn trường lớp học tạm bợ.

- Xây dựng các nhà văn hoá trung tâm cho các xã chưa có nhà văn hoá và sân vận động, khu vui chơi giải trí ở các khu trung tâm cụm xã, trung tâm xã.



VII. QUY HOẠCH PHÁT TRIỂN THEO VÙNG

Dựa vào điều kiện địa hình, đặc điểm thổ nhưỡng, địa lý, dân cư và tiềm năng thế mạnh về mọi mặt của các vùng trên địa bàn. Hướng phân bố từ 2011-2020 toàn huyện có 4 vùng kinh tế chủ yếu:



* Vùng 1: Gồm các xã: Quy Hoá, Xuân Hoá, Yên Hoá, Minh Hoá, Tân Hoá và thị trấn Quy Đạt. Diện tích đất tự nhiên là: 19.993,05 ha:

- Đất nông nghiệp: 17.298,8 ha



Trong đó: + Đất sản xuất nông nghiệp: 2.091,15 ha;

+ Đất lâm nghiệp: 15.107,71 ha.

- Đất phi nông nghiệp: 2.010,5 ha.

- Đất chưa sử dụng: 683,75 ha.

Phương hướng sản xuất của vùng này chủ yếu là: Trồng lúa, ngô, cao su, cây ăn quả và lạc. Ở vùng trung tâm Quy Đạt và các vùng lân cận cần bố trí diện tích hợp lý để phát triển các loại rau quả, tạo vành đai thực phẩm để cung cấp cho nhân dân trong khu vực. Trong lĩnh vực chăn nuôi vùng này có thể phát triển các loại như: Trâu, bò, lợn, cá, ong lấy mật, đặc biệt có thể tổ chức sản xuất nuôi gà lấy trứng và gà thịt theo mô hình hộ gia đình. Ngoài ra còn có thể phát triển các loại động vật có giá trị kinh tế cao như: Rắn, ếch, baba…Đối với lĩnh vực công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp tại thị trấn Quy Đạt phát triển các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, sửa chữa điện tử, cơ khí, chế biến các loại nông sản, lâm sản và các loại nguyên liệu tại chỗ. Đây là hạt nhân để thúc đẩy sự phát triển cho cả vùng và cũng là trung tâm dịch vụ cho toàn huyện.

* Vùng 2: Gồm các xã nằm trên lành lang đường mòn Hồ Chí Minh: Trung Hoá, Hoá Hợp, Hoá Tiến, Hoá Thanh. Có diện tích tự nhiên là: 21.758 ha. Cần chú ý phát triển phát triển: thị tứ Hoá Tiến và quy hoạch thị tứ Trung Hoá làm đô thị hạt nhân thúc đẩy sự phát triển cho cả vùng

- Đất nông nghiệp: 19.781.99 ha



Trong đó: + Đất sản xuất nông nghiệp: 1.593,86 ha;

+ Đất lâm nghiệp: 17.864,23 ha;

- Đất phi nông nghiệp: 959,75 ha

- Đất chưa sử dụng: 1.316,26 ha

Bố trí sản xuất: Cây cao su: 1.030 ha, cây ăn quả: 659,63 ha, cây lạc: 1.500 ha, lúa nước: 170 ha, Ngô: 700 ha

Phương hướng sản xuất của vùng này là: Trồng cây cao su, cây ăn quả, lạc, lúa, ngô và các loại đậu, hoa màu khác. Đối với chăn nuôi vùng này có thể tổ chức chăn nuôi trâu, bò, lợn dê, cá, ong lấy mật và một số gia cầm khác. Đối với lĩnh vực Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp ở đây có thể phát triển các cơ sở sản xuất vật liệu xây dựng, xay xát, chế biến nông lâm sản. Dự kiến thời kỳ 2010 đến 2020 sẽ xây dựng một xưởng sơ chế mũ cao su và một xưởng chế biến các nông, lâm sản. Đối với lĩnh vực dịch vụ và du lịch vùng này cũng có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Vùng này nằm dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh vì vậy có điều kiện thuận lợi để giao lưu hàng hoá.



*Vùng 3: Gồm các xã biên giới: Dân Hoá, Trọng Hoá, Hoá Sơn và Thượng Hoá. Trong đó cần quy hoạch xã Dân Hoá trở thành thị tứ làm hạt nhân để phát triển cho cả vùng. Có diện tích tự nhiên là: 88.995 ha:

- Đất nông nghiệp: 80.989,82 ha



Trong đó: + Đất sản xuất nông nghiệp: 1.696 ha;

+ Đất lâm nghiệp: 79.283,2 ha

- Đất phi nông nghiệp: 783,32 ha

- Đất chưa sử dụng: 7.221,86 ha

Phương hướng sản xuất vùng này chủ yếu là: Khoanh nuôi bảo vệ rừng đầu nguồn và chăn nuôi đại gia súc là chủ yếu. Điều kiện tự nhiên để phát triển cây lương thực ở vùng này khó khăn. Song ở đây có thể phát triển được các loại cây thương phẩm như: Tiêu, ớt, gừng, dứa, chuối, tiêu…Ngoài ra còn có thể bố trí sản xuất phát triển theo hướng trang trại cây ăn quả, đối với vùng đồi núi gần hai bên đường có thể bố trí trồng tre, nứa để làm nguyên liệu giấy cho sau này hoặc trồng mây để làm các mặt hàng phục vụ nhu cầu của nhân dân và xuất khẩu. Khi Trung tâm thương mại cửa khẩu Cha Lo đi vào hoạt động, kết hợp chợ đường biên sẽ trở thành trung tâm giao lưu kinh tế văn hoá giữa hai tỉnh và hai huyện biên giới.

* Vùng 4: Gồm các xã: Hoá Phúc và Hồng Hoá, cần quy hoạch xã Hồng Hoá làm hạt nhân thúc đẩy sự phát triển của vùng. Diện tích đất tự nhiên là: 10.260 ha:

- Đất nông nghiệp: 8.397,82 ha



Trong đó: + Đất sản xuất nông nghiệp:643,65 ha

+ Đất lâm nghiệp: 7.746,8 ha

- Đất phi nông nghiệp: 298,69 ha

- Đất chưa sử dụng: 1.563,89 ha

Trong đó đất có khả năng để bố trí trồng cây ăn quả là: 420,99 ha

Phương hướng sản xuất của vùng chủ yếu là: Trồng rừng, bảo vệ rừng, phát triển chăn nuôi, nhất là chăn nuôi trâu, bò và trồng cây lâu năm. Xuất phát từ những điều kiện tự nhiên, vùng kinh tế này có thể bố trí trồng các loại cây bản địa như: Dẻ, trầm hương…., cây dược liệu như Quế và một số cây ăn quả như: vải thiều, xoài bắc, nhãn, cam, bưởi… Đối với chăn nuôi vùng này có thể bố trí chăn nuôi: bò, trâu, lợn, ong lấy mật và một số gia cầm, gia súc khác. Điều kiện tự nhiên ở đây có thể cho phép phát triển đàn Dê. Hiện nay trên địa bàn đã có một số hộ nuôi dê và đã có hiệu quả.



VIII. CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU ĐỂ THỰC HIỆN QUY HOẠCH

1. Xây dựng quy hoạch chi tiết các khu vực trọng điểm, tiếp tục bổ sung điều chỉnh quy hoạch chi tiết thị trấn Quy Đạt từng bước lập quy hoạch chi tiết các thị tứ, các cụm dân cư tập trung, quy hoạch sử dụng đất đai ở các xã, quy hoạch phân bố lại dân cư trong huyện

2. Sử dụng hợp lý và hiệu quả vốn đầu tư của các chương trình, dự án nhằm đảm bảo cho phát triển đạt tốc độ tăng trưởng cao, bền vững. Tiếp tục tạo môi trường hấp dẫn, thực hiện tốt các quyết định của tỉnh về chính sách khuyến khích và ưu đãi đầu tư để thu hút các nguồn vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đa dạng hoá hình thức huy động vốn, động viên các nguồn lực trong các thành phần kinh tế để đầu tư phát triển và xây dựng kết cấu hạ tầng. Tranh thủ và sử dụng có hiệu quả nguồn vốn đầu tư nước ngoài. Thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư cho huyện nhằm tăng hiệu quả đầu tư. Tạo điều kiện cho dân vay vốn phát triển sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, phát triển kinh tế trang trại.

3. Thực hiện chính sách kích cầu trong xây dựng, tiêu dùng, hỗ trợ đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ, hỗ trợ sau đầu tư. Ổn định môi trường đầu tư và mở rộng thị trường, đơn giản hóa các thủ tục để tạo điều kiện cho các nhà đầu tư mở rộng và phát triển. Nâng cao chất lượng và hạ giá thành sản phẩm, khuyến khích các nhà đầu tư phát triển các ngành, lĩnh vực có công nghệ cao, tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh.

4. Tăng cường năng lực của bộ máy quản lý, nâng cao nâng lực điều hành của các ngành cấp huyện, cấp xã, các doanh nghiệp. Chú trọng đào tạo và đào tạo lại đội ngũ cán bộ quản lý, cán bộ chuyên môn. Bồi dưỡng nâng cao tay nghề, xây dựng đội ngũ thợ bậc cao, công nhân lành nghề cho các chương trình dự án đầu tư trong huyện. Thực hiện tốt chính sách thu hút cán bộ, công chức và sinh viên giỏi về công tác ở huyện, các xã trong huyện.

5. Nâng cao nâng lực chỉ đạo điều hành thực hiện quy hoạch của các ngành cấp huyện và cấp xã. Các mục tiêu phát triển trong quy hoạch được thể hiện bằng các kế hoạch trung hạn, kế hoạch hàng năm, các chương trình phát triển và các dự án đầu tư cụ thể, nhằm điều hành và quản lý kinh tế - xã hội theo định hướng quy hoạch đã đề ra.
TM/UBND HUYỆN MINH HOÁ

CHỦ TỊCH
(Đã ký)

Đinh Minh Chất




: 3cms -> scripts -> fckeditor -> web -> upload -> File -> ToChucBoMay -> UBNDHuyenThanhPho
File -> Ủy ban nhân dân cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh quảng bình độc lập Tự do Hạnh phúc
File -> QuyếT ĐỊnh phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội huyện Quảng Trạch đến năm 2020
File -> QuyếT ĐỊnh về việc giải quyết khiếu nại về tranh chấp đất đai giữa
File -> Về việc giải quyết (lần 2) đơn khiếu nại của ông Lê Đức Thịnh, thường trú tại thôn Xuân Tổng, xã Văn Hoá, huyện Tuyên Hoá. Chủ TỊch uỷ ban nhân dân tỉnh quảng bìNH
File -> QuyếT ĐỊnh về việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Quảng Bình
File -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
File -> UỶ ban nhân dân tỉnh cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
File -> Ủy ban nhân dân tỉnh quảng bình số: 20/2010/QĐ-ubnd cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
UBNDHuyenThanhPho -> UỶ ban nhân dân huyện quảng trạCH
UBNDHuyenThanhPho -> Ủy ban nhân dân huyện tuyên hóA




Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương