Phạm Kim Khánh


Ái dục Nguyên nhân sanh đau khổ



tải về 0.58 Mb.
trang4/14
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích0.58 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14

Ái dục
Nguyên nhân sanh đau khổ


Một trong những danh hiệu của Đức Phật là Tối Thượng Y Vương.

Đúng vậy, Ngài là một vì lương y, là vị chúa tể của tất cả những vị lương y trên thế gian, vị đại vương cao siêu nhất, tài giỏi nhất trong các vị lương y. Ngài không điều trị từng cá nhân, cũng không chữa trị những chứng bệnh -- vật lý hay tinh thần -- trong một kiếp sống. Bệnh nhân của Ngài là toàn thể nhân loại, hơn nữa, toàn thể chúng sanh trong ba giới bốn loài. Chứng bệnh mà Ngài nhắm chữa trị là một chứng bệnh trầm kha dính liền với mọi kiếp sinh tồn, dầu ở trong cảnh giới nào, là một chứng bệnh mà mỗi cá nhân mang theo từ kiếp nầy sang kiếp khác trong chuỗi dài những kiếp sống đó đây trong vòng luân hồi.

Trước tiên, Ngài xác nhận là chúng sanh đang lâm bệnh đau khổ (dukkha). Sau khi quan sát, nghiên cứu và phân tách tỉ mỉ tận tường chứng bệnh đau khổ, Ngài tìm ra nguyên nhân của nó và tuyên bố rằng nguồn gốc của mọi hình thức đau khổ là ái dục (tanhà).

Vào lúc bình minh sau đêm thành đạt Đạo Quả Vô Thượng, Chánh Đẳng Chánh Giác (Sammà Sambodhi), để mô tả cuộc chiến thắng tinh thần vô cùng rực rỡ vẻ vang, Đức Thế Tôn đọc lên bài kệ hoan hỷ như sau:

Xuyên qua nhiều kiếp sống trong vòng luân hồi,
Như Lai thênh thang đi, đi mãi.
Như Lai mãi đi tìm mà không gặp,
Như Lai tìm người thợ cất nhà nầy,
Lặp đi lặp lại cuộc sống quả thật là phiền muộn.
Nầy hởi người thợ làm nhà, 
Như Lai đã tìm được ngươi.
Từ đây ngươi không còn cất nhà cho Như Lai nữa,
Tất cả sườn nhà đều gãy, 
Cây đòn dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.
Như Lai đã chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt,
Và Như Lai đã tận diệt mọi Ái Dục."

Đức Thế Tôn nhìn nhận cuộc đi thênh thang trong nhiều kiếp sống quá khứ dẩy đầy khổ đau phiền lụy. Ngài đi bất định và do đó, phải chịu trăm bề khổ nhọc vì chưa tìm ra người thợ đã xây dựng ngôi nhà, tức thân nầy. Trong kiếp sống cuối cùng, giữa khung cảnh cô đơn tịch mịch của rừng thiêng, lúc đi sâu vào pháp hành thiền mà Ngài đã dày công trau giồi từ xa xôi trong quá khứ, xuyên qua suốt cuộc hành trình bất định, Ngài khám phá ra anh thợ cất nhà hằng mong mỏi muốn biết. Anh thợ nầy không phải ở đâu xa lạ bên ngoài mà ẩn tàng sâu kín bên trong Ngài. Đó là ái dục, sự tự tạo, một thành phần tinh thần luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất cả mọi người.

Ái dục là gì? Phạn ngữ mà thường được phiên dịch là "ái", hay "ái dục" là tanhà (Bắc Phạn là trushna). Tanhà, ái dục, bao gồm những hình thức thèm khát, tham ái, khát vọng, nóng lòng ước mong, dục vọng, ham muốn, bám níu, luyến ái. Các danh từ trên đây diễn đạt những khía cạnh khác nhau nhưng không nói lên đầy đủ ý nghĩa của danh từ tanhà. Tanhà luôn luôn bao hàm một ý niệm vị kỷ. Con người mê muội chấp giả là thiệt, khư khư bám chặt vào ngũ uẩn vô thường mà cho đó là "ta", một cái "ta" trường tồn không biến đổi, rồi ham muốn, khát khao v.v... lấy cái ta làm trung tâm của mọi sự vật, và cố đem vào càng nhiều càng tốt, và ôm lấy càng chặt càng hay. Vì lẽ ấy, khi phiên dịch là ham muốn, ước vọng v.v... ta nên hiểu rằng tanhà chỉ nằm trong phần xấu của những danh từ nầy. Thí dụ như nói ham muốn, ta có thể ham muốn điều xấu xa, nhưng cũng có thể ham muốn những việc tốt đẹp, đáng được ngợi khen và khuyến khích, như muốn phục vụ, muốn bố thí, muốn có đời sống đạo đức v.v... Như vậy, tanhà chỉ diễn đạt phần vị kỷ của lòng ham muốn, khát khao, ước muốn cho chính mình, luyến ái bám níu, cố giữ cho cái "ta".

Chính yếu tố vị kỷ trong tanhà, ái dục, đã gây bao nhiêu tai hại cho con người. ái dục không bao giờ được thỏa mãn hoàn toàn. Khi một điều mong muốn vừa được thành tựu thì có một mong muốn mới khởi sanh. Con người luôn luôn chạy theo những thích thú tạm bợ mới, cố rượt đuổi theo để bám lấy những ảo ảnh, chụp nắm cho được cái mà thật sự chỉ là hình bóng ảo huyền và như thế, con người luôn luôn châm nhiên liệu để dưỡng nuôi và bảo trì ngọn lửa tham ái của kiếp sinh tồn. Chính lòng tham muốn ích kỷ, tính luyến ái vô độ lượng, vô trật tự, và sự đam mê bám níu vào những sự vật trên thế gian đã lôi cuốn và đẩy đưa con người lăn trôi đó đây trong đại trùng dương của đời sống.

Đó là tác động của ái dục bên trong con người nuôi dưỡng nó. Còn tác động của nó ở bên ngoài người ôm ấp nó, ở người khác, thì sao? 

Trong bộ Majjhima Nikàya, Trung A-Hàm, Đức Phật dạy:

"Nầy chư Tỳ Khưu, do ái dục vua nầy gây chiến với vua kia, hoàng tử với hoàng tử, tu sĩ với tu sĩ, dân với dân, mẹ gây gỗ với con, con gây mẹ, cha cãi vã với con, con cãi cha, anh chị với em, em với anh chị, bạn bè với bạn bè."

Trong bài thuyết trình "The Significance of the Four Noble Truths" V.F. Gunaratna viết: 

"Ái dục là một sự thúc đẩy hùng mạnh, một thúc đẩy nguy hiểm, tai hại. ái dục là nguyên nhân của hầu hết những tệ hại trên đời. Hầu hết những xáo trộn chánh trị trong nhiều quốc gia và những vấn đề xã hội và kinh tế rất phiền phức chỉ có thể giải thích bằng ảnh hưởng nguy hại của tanhà. ái dục vị kỷ là động cơ chính yếu đưa đến hầu hết những cuộc tranh chấp, và thúc đẩy mọi cố gắng của con người mê muội.

"... Đôi khi, trong ái dục sự biểu hiện của lòng vị kỷ có phần lộ liễu, hiển nhiên. Lắm khi rất tế nhị,... tình thương không mấy khi không đượm nhuần tính chất vị kỷ. Đó là một thứ tình thương thiết tha mong muốn được nhận ra và đòi hỏi được đáp lại. Tóm tắt, đó là tự thương mình, là tình thương của mình đối với mình. Trong phần lớn các trường hợp, người nầy thương người kia là để tự thương mình nhiều hơn, là bởi vì mình thiết tha mong muốn tự cho mình cái vui được thương người và cái vui được người thương trở lại. Như vậy, tiềm tàng dính liền theo tình thương người có một ẩn ý muốn tự thỏa mãn, và tình thương kẻ khác chỉ là tình thương mình trá hình."

Ái dục bắt nguồn từ đâu? Trong bộ Digha Nikàya, Trường A-Hàm có đoạn: 

"Ái dục bắt nguồn từ đâu, và phát sanh ở đâu? Nơi nào có thỏa thích và dục lạc, nơi đó có ái dục bắt nguồn và phát sanh. Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, có thỏa thích và dục lạc. Vậy ái dục bắt nguồn từ đó, và phát sanh ở đó."

Có sáu loại dục lạc, bắt nguồn từ lục trần là sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, liên quan đến lục căn là nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý. Mắt muốn thấy hình sắc đẹp đẽ. Tai muốn nghe âm thanh êm dịu. Mũi muốn hửi mùi thơm. Lưỡi muốn nếm món ngon vật lạ. Thân muốn cảm xúc thỏa thích về nhục dục. Tâm muốn có những cảm nghĩ dễ chịu, những tư tưởng làm thỏa mãn giác quan.

Loại ái dục đầu tiên phát sanh do nhãn quan. Nhãn căn rất khó kiểm soát và thu thúc, vì bao nhiêu hình sắc đẹp đẽ của ngoại cảnh luôn luôn sẵn sàng làm cho ta chao động. Đức Phật dạy rằng trên đời không có chi làm cho tâm một người đàn ông chao động dễ dàng bằng hình dáng người đàn bà. Và không có chi làm cho tâm người phụ nữ rung động dễ dàng bằng hình dáng của người đàn ông. Lịch sử nhân loại đã từng chứng tỏ rằng bao nhiêu cơ đồ đã sụp đổ và bao nhiêu công nghiệp đã suy tàn chỉ vì sắc đẹp mỹ miều của người phụ nữ. Cũng vì lẽ ấy Đức Phật hằng khuyên dạy hàng tín đồ nên luôn luôn thận trọng, từng ly từng tý, trong việc kiểm soát nhãn quan. Phải hành động như người lính gác cửa thành, từng giây từng phút, canh chừng quân địch. Một khoảnh khắc lơ đểnh có thể gây ảnh hưởng tai hại vô cùng nguy hiểm. Tuy nhiên, dạy như thế Đức Phật không khi nào có ý khuyên tất cả mọi người nên từ khước mọi lạc thú trần gian để vào rừng tìm nơi thanh vắng tu hành. Đức Phật đặt toàn thể giáo lý của Ngài trên nền tảng dukkha, đau khổ, nhưng không bao giờ phủ nhận những lạc thú trong đời. Bộ Anguttara Nikàya, Tăng Nhứt A-Hàm, có liệt kê dong dài những hạnh phúc mà chúng sanh có thể thọ hưởng. Chúng ta không tìm cách xa lánh những hạnh phúc vật chất mặc dầu biết rằng nó tạm bợ, nhưng cũng không làm nô lệ cho cơ thể vật chất. Ta cảm nghe hạnh phúc khi một điều mong mỏi được thỏa mãn. Nhưng bản chất tự nhiên của chúng sanh là không khi nào hoàn toàn mãn nguyện. Khi một điều mong mỏi được thỏa mãn là mong muốn điều khác, và không khi nào biết là đủ. Bởi thế Phật Giáo dạy ta nên tận lực cố gắng, kiên trì nỗ lực, luôn luôn giữ tâm trong sạch và thận trọng thu thúc dục vọng.

Đại Đức Khantipalo, người Anh tu tại Thái Lan và Sri Lanka, khuyên ta như sau: "Điều cần thiết ở đây là luôn luôn giữ chánh niệm (sammà sati), vì nếu không chú niệm thì không Giáo Pháp nào có thể thực hành được. Và trong lúc không thực hành Giáo Pháp, chúng ta sẽ bị sức mạnh của thói quen trong quá khứ lôi cuốn. Cùng lúc ấy ái dục và vô minh tiếp tục tăng trưởng bên trong chúng ta. Khi tâm chú niệm, ta có khả năng và phương tiện để hiểu biết "đây là cảm giác vui thích", "đây là cảm giác đau khổ", "đây là cảm giác không-đau-khổ-cũng-không-vui-thích". Quan sát, ghi nhận và hiểu biết như thế (tức niệm và hay biết rõ ràng) giúp ta hay biết lúc nào có tham, sân, si liên hợp với các cảm giác ấy. Với sự thấu hiểu hay biết như thế ta có thể phá vỡ bánh xe sanh-tử và thoát ra khỏi vòng luân hồi. Nhưng nếu không thực hành Giáo Pháp, chắc chắn những thọ cảm kia sẽ tiếp tục dẫn dắt chúng ta đến các ái dục khác, và quay cuồng chúng ta theo bánh xe dẩy đầy đau thương và khổ nhọc như Ngài Nagarjuna dạy, ái dục chỉ ngọt ngào ở lớp mặt, bên trong thì khô cứng đắng cay."

Nhằm làm giảm suy tình trạng bám níu duyên vào hình sắc, Ngài Đại Đức Nàrada khuyên ta nên quán tưởng về tánh cách ô trược của cơ thể vật chất. Ngài viết: "Quán tưởng về tánh cách ô trược của thân giúp hành giả khắc phục tâm luyến ái đối với thân mình. Vào thời Đức Phật nhiều vị tỳ khưu đã chứng ngộ Đạo Quả A La Hán nhờ hành thiền về đề mục nầy. Người không thích hợp với tất cả ba mươi hai phần ô trược có thể chọn một vài phần như xương, thịt, da cũng được. Hành giả tưởng niệm: "Xương (atthi), thịt (màmsam), da (taco)". 

Thành trì nầy được dựng lên bằng xương, đắp thịt và máu bên ngoài, trong đó tích trữ bệnh tật, chết chóc, ngã mạn, phỉ báng. Trong khi niệm như vậy hành giả quán tưởng: bên trong thân nầy là bộ xương. Đầy bên ngoài bộ xương là thịt, và bên ngoài nữa có lớp da, bao trùm tất cả. Cái mà ta gọi là dung mạo đẹp đẽ của con người chỉ là lớp da bao bọc lấy thịt và xương."

Mắt bị chao động vì hình sắc. Tai bị cảm xúc vì âm thanh. Mũi bị kích thích vì hương, lưỡi vì vị, Thân của ta cũng là một nhịp cầu để cho trần cảnh thâm nhập và làm cho ta say mê, sa đọa. Tâm cũng bị ảnh hưởng xấu xa của những tư tưởng tham ái, sân hận, si mê.

Theo triết học Phật Giáo, Abhidhamma, (Vi Diệu Pháp), có ba loại ái dục:

a. Ái dục duyên theo nhục dục ngũ trần (kàma tanhà)

b. Ái dục duyên theo những khoái lạc vật chất liên quan đến chủ trương thường kiến (bhava tanhà). Trong lúc thọ hưởng, nghĩ rằng vạn vật là trường tồn vĩnh cửu, những khoái lạc sẽ mãi mãi tồn tại.

c. Ái dục duyên theo những khoái lạc vật chất có liên quan đến chủ trương đoạn kiến (vibhava tanhà). Trong lúc thọ hưởng, nghĩ rằng tất cả đều tiêu diệt sau khi chết. Chết là hết.

Bhava tanhà có khi được giải thích là sự luyến ái đeo níu theo Sắc Giới, và vibhava tanhà là luyến ái đeo níu theo Vô Sắc Giới. Hai Phạn ngữ ấy thường được xem là ái dục đeo níu theo sự "sống", và ái dục đeo níu theo sự "không-sống", không sinh tồn.

Về điểm nầy Ngài Đại Đức Piyadassi viết trong quyển The Buddha's Ancient Path như sau: 

"Kẻ thù của toàn thể nhân loại là ái dục, lòng ham muốn, luyến ái, bám níu, khát vọng, và xuyên qua đó, tất cả những điều bất hạnh đến với chúng sanh. Đây không những chỉ là lòng ham muốn hay luyến ái duyên theo nhục dục ngũ trần như tiền của, tài sản, tham vọng đánh bại kẻ thù, lấn lướt người khác, hay xâm lăng những quốc gia khác, mà cũng là sự cố chấp, khư khư dính mắc trong những lý tưởng hay ý niệm, quan kiến và tín ngưỡng, thường dẫn đến phỉ báng và tiêu diệt, và đem lại đau khổ không thể tả đến toàn thể quốc gia, hay trong thực tế, toàn thể thế gian."

Tại sao ái dục là nguồn gốc của mọi hình thức đau khổ? Không có người suy tư nào phủ nhận sự hiện hữu của đau khổ, hay bất toại nguyện, trên thế gian. Nhưng về nguyên nhân làm phát sanh đau khổ thì các hệ thống tín ngưỡng khác nhau đã giải thích bằng nhiều phương cách khác nhau. Trong tư tưởng Phật Giáo, không có một siêu lực huyền bí cầm quyền tưởng thưởng công đức và hình phạt những tội ác của con người. Không có sự thưởng phạt từ bên ngoài hay bên trên ban đến, mà có định luật nhân quả, từ bên trong, tức hành động và phản ứng của hành động. Chính mình hành động và chính mình nhận lãnh hậu quả của hành động. Theo chiều hướng nầy, mỗi người, mỗi chúng sanh, là vị kiến trúc sư xây đấp số phận của mình. Chính ta tạo thiên đàng cho ta và cũng chính ta tạo địa ngục cho ta. Đau khổ mà con người phải gánh chịu ngày hôm nay là hậu quả dĩ nhiên của những nghiệp bất thiện mà con người đã tạo trong quá khứ, và chính ái dục là động cơ chính yếu thúc đẩy đến hành động, tạo nghiệp bất thiện bằng thân, khẩu, hay ý. Cũng chính ái dục thúc đẩy con người luyến ái, bám níu, và dai dẳng đeo đuổi theo sự sống. Lòng khát khao ham muốn ấy lôi cuốn con người từ kiếp sống nầy đến kiếp khác. Và sanh ra đời là khởi duyên dẫn đến đau khổ, như đã được đề cập dong dài ở bài viết trước. Đau khổ dính liền với đời sống, là bản chất của cái được gọi là chúng sanh. [3] Trong Bài Pháp Đầu Tiên, hay Kinh Chuyển Pháp Luân, Đức Thế Tôn dạy: "Chính ái dục là nguyên nhân của sự tái sanh (ponobhavika). ái, hợp với tâm thiết tha khao khát, bám níu vào cái nầy hay cái kia (đời sống). Chính ái đeo níu theo nhục dục ngũ trần, ái đeo níu theo sự sinh-tồn, và ái đeo níu theo ý niệm không-sinh-tồn."

Ái dục là nguồn gốc của đau khổ cũng vì chính trong ái dục đã có mầm mống đau khổ. Trong quyển Paticca Samuppàda, Pháp Tùy Thuộc Phát Sanh, Ngài Piyadassi viết: 

"Con người luôn luôn bị thích thú và dục lạc thu hút. Trong khi mưu tìm thích thú và dục lạc, con người không ngớt chạy theo và cố bám lấy những đối tượng tương ứng của lục căn (tức bám vào lục trần). Nhưng ít khi con người nhận thức rằng không có số lượng sắc, thinh, hương, vị, xúc, hay pháp nào có thể hoàn toàn thỏa mãn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Trong khi mãnh liệt khát khao được có quyền sở hữu, hay được thỏa mãn tham vọng, con người còn tự ràng buộc mình vào bánh xe luân hồi, càng bị giày vò xô xát và khổ sở quằn quại, vướng mắc trong những cây căm của vòng bánh xe."

Kinh Pháp Cú dạy: 

"Ái dục sanh sầu muộn. ái dục sanh lo sợ. 


Người đã trọn vẹn dập tắt ái dục không còn sầu muộn, càng ít lo sợ."

V.F. Gunaratna viết: "Bây giờ ta có thể tự hỏi tại sao ái dục luôn luôn mang đau khổ (dukkha) theo vết chân của mình? Bởi vì ái dục là khát khao ham muốn một cái gì tự nó không ngừng biến đổi, là chạy theo và cố bám vào cái gì tự nó không thực có. Khi con người cố gắng đuổi bắt một mục tiêu huyền ảo, lờ lững như thực như hư, một cái gì không thể bắt được, một mục tiêu luôn luôn thụt lùi hay tan biến khi ta đến gần nó, thì con người còn có thể mong mỏi điều gì hơn là thất vọng, điều gì hơn là trạng thái bất ổn, không điều hòa, tức dukkha, đau khổ."

Và Ông tiếp: 

"Tại sao ta lại khát khao mong muốn cái không thực có? Vô minh của chúng ta làm cho chúng ta lầm tưởng cái không thực là thực, thấy bóng tưởng hình, và mãi mãi chạy theo rượt bắt cho được cái bóng."

Kết Luận

Trong khi phần lớn những tư tưởng gia tìm đến một thần lực huyền bí, hay một nguyên lý bên ngoài, bên trên con người, để giải thích nguồn gốc đau khổ của nhân loại, thì Đức Phật hướng cái nhìn trở vào bên trong con người để tìm nguyên nhân chứng bệnh đau khổ của con người. Và Ngài đi đến kết luận: Những đau khổ "của tôi" là do hành động "của tôi". Và hành động "của tôi" do ái dục "của tôi" thúc đẩy. ái dục trong quá khứ làm nguyên nhân đưa đẩy tôi đến đây, nhưng chính trong hiện tại, và chỉ trong hiện tại, tôi có thể khắc phục ái dục bằng cách thực hành Giáo Pháp, để thoát ra khỏi vòng luân hồi đau khổ.


 



1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương