PHỤ LỤc số 10 BẢn tổng hợp những khó khăN, VƯỚng mắc xuất phát từ quy đỊnh của pháp luật về XỬ LÝ VI phạm hành chíNH



tải về 401.89 Kb.
trang1/4
Chuyển đổi dữ liệu23.08.2016
Kích401.89 Kb.
  1   2   3   4
PHỤ LỤC SỐ 10

BẢN TỔNG HỢP NHỮNG KHÓ KHĂN, VƯỚNG MẮC XUẤT PHÁT TỪ

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH

(Kèm theo Báo cáo số 15/BC-BTP ngày 22 / 01 /2016 của Bộ Tư pháp)

  1. Những khó khăn, vướng mắc chủ yếu về xử phạt VPHC

    1. . Những khó khăn, vướng mắc xuất phát từ quy định của Luật XLVPHC:

      1. Một số quy định của Luật XLVPHC chưa phù hợp với thực tiễn:

- Luật XLVPHC không quy định cho phép Đồn trưởng, Chỉ huy trưởng Bộ đội Biên phòng cấp tỉnh được áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả ‘Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam hoặc tái xuất hàng hóa vật phẩm, phương tiện…” Điều này dẫn đến nhiều khó khăn trong công tác XLVPHC của Bộ đội biên phòng vì thực tế ở khu vực biên giới thường xảy ra các hành vi vi phạm của người, phương tiện nước ngoài, nhất là phương tiện chở hàng tạm nhập, tái xuất.1

- Từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC quy định thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện VPHC bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền làm phát sinh nhiều vụ việc vi phạm vượt quá thẩm quyền xử phạt của cơ quan cấp dưới bị dồn lên cơ quan cấp trên giải quyết, không bảo đảm tính kịp thời, nhanh chóng trong việc xử phạt2.

- Khoản 1 Điều 47 Luật XLVPHC có quy định thẩm quyền của Trưởng đại diện Cảng vụ đường thủy nội địa nhưng khoản 2 Điều 47 chỉ quy định thẩm quyền của Giám đốc Cảng vụ đường thủy nội địa thuộc Cục đường thủy nội địa, không có quy định về thẩm quyền của Giám đốc Cảng vụ đường thủy nội địa thuộc Sở Giao thông vận tải.3

- Khoản 1 Điều 56 Luật XLVPHC quy định trường hợp xử phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 250.000 đối với cá nhân và 500.000 đồng đối với tổ chức thì không lập biên bản vi phạm hành chính. Tuy nhiên, ở cấp xã phường, Chủ tịch hoặc Phó Chủ tịch UBND có thẩm quyền xử phạt thường không có điều kiện tự mình đi kiểm tra mà giao cho công chức xã, phường thực hiện. Do đó, khi phát hiện hành vi vi phạm được áp dụng mức phạt này, nếu không lập biên bản vi phạm thì khó có căn cứ để Chủ tịch, Phó Chủ tịch UBND cấp xã ra quyết định xử phạt.4

- Khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “Vi phạm hành chính xảy ra trên tàu bay; tàu biển, tàu hỏa thì người chỉ huy tàu bay, thuyền trưởng, trưởng tàu có trách nhiệm tổ chức lập biên bản và chuyển ngay cho người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính khi tàu bay, tàu biển, tàu hỏa về đến sân bay, bến cảng, nhà ga”. Quy định này chưa phù hợp với thực tiễn hoạt động hàng không, bởi vì hàng không là một ngành đặc thù, có nhiều chuyến bay có thời gian ngắn, các thành viên tổ bay đang thực hiện nhiệm vụ và có trách nhiệm bảo đảm an toàn, an ninh; do đó nếu quy định người chỉ huy có trách nhiệm tổ chức lập biên bản hành chính có thể ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ bay và gây mất an toàn, an ninh cho chuyến bay.5

- Thời hạn tạm giữ tang vật để xác định giá trị tài sản quy định tại khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC (thời hạn tạm giữ tối đa không quá 24 giờ kể từ thời điểm ra quyết định tạm giữ, trong trường hợp cần thiết có thể gia hạn nhưng không quá 24 giờ) chưa phù hợp với thực tế, đặc biệt đối với tang vật do tổ chức, cá nhân tự chế, hàng hóa nhập lậu...Vì trong các trường hợp này, Hội đồng định giá rất khó xác định giá và thường phải thuê đơn vị tư vấn để xác định giá.6

- Điểm d khoản 2 Điều 60 Luật XLVPHC quy định căn cứ định giá đối với tang vật là hàng giả là giá thị trường của hàng hóa thật hoặc hàng hóa có cùng tính năng, kỹ thuật, công dụng. Căn cứ định giá này áp dụng đối với hàng hóa giả mạo, hàng giả về sở hữu trí tuệ còn nhiều điểm bất hợp lý, thiếu tính khả thi vì nhiều loại hàng giả bị bắt giữ trong thời gian qua thường có giá trị thấp hơn hàng thật rất nhiều. 7

- Khoản 1 Điều 64 Luật XLVPHC quy định cơ quan, người có thẩm quyền cử phạt vi phạm hành chính chỉ được sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính về trật tự, an toàn giao thông và bảo vệ môi trường, không quy định được sử dụng thiết bị kỹ thuật nghiệp vụ để phát hiện vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế, phân bón, nông nghiệp…8

- Nội dung được quy định tại khoản 2 Điều 65 Luật XLVPHC là không hợp lý đối với trường hợp được quy định tại điểm b, c, d khoản 1 Điều 65 Luật này. Do một khi đã hết thời hiệu xử phạt, hết thời hạn ra quyết định, không xác định được đối tượng vi phạm hành chính, cá nhân vi phạm hành chính chết, mất tích, tổ chức vi phạm hành chính đã giải thể, phá sản, thì căn cứ để ra quyết định áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả và áp dụng đối với đối tượng nào khi không xác định được đối tượng hoặc đối tượng đã chết, mất tích, giải thể?9

- Theo quy định tại khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 07 ngày kể từ ngày lập biên bản vi phạm (bao gồm cả ngày nghỉ, ngày lễ). Với việc quy định thời hạn như vậy thì trong trường hợp người lập biên bản không có thẩm quyền ra quyết định xử phạt thì việc hoàn chỉnh hồ sơ xử phạt chuyển đến người có thẩm quyền gặp nhiều khó khăn, không đảm bảo về thời gian.10

- Điều 70 Luật XLVPHC quy định thời hạn gửi quyết định xử phạt vi phạm hành chính để thi hành trong vòng 02 ngày; tuy vậy, việc thực hiện quy định này trong xử phạt vi phạm hành chính ở lĩnh vực giao thông rất khó khăn vì khối lượng quyết định xử phạt nhiều, khó xác định địa chỉ vì hầu hết người vi phạm an toàn giao thông phần lớn là lái xe (nơi cư trú không ổn định nên ít khi có mặt ở địa phương; nhiều trường hợp địa chỉ ghi trong giấy tờ khác với địa chỉ nơi cư trú thực tế).11

- Quy định về chuyển hồ sơ và giấy tờ, tang vật, phương tiện vi phạm có liên quan đến cơ quan cùng cấp nơi cá nhân, tổ chức bị xử phạt cư trú, đóng trụ sở tại Điều 71 Luật XLVPHC là không có tính khả thi.12

- Điểm a, khoản 1, Điều 79 Luật Xử lý vi phạm hành chính quy định người vi phạm được nộp tiền phạt nhiều lần nếu bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 200.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức”. Tuy nhiên theo tình hình thực tế xử phạt tại địa phương, mức phạt phổ biến mà các cá nhân có đơn xin được nộp phạt nhiều lần đa phần là 15.000.000 đồng trở lên, mà theo quy định mức phạt phải từ 20.000.000 đồng vì vậy, đa phần các cá nhân vi phạm ở mức 15.000.000 đồng có hoàn cảnh khó khăn (có đơn xin được nộp phạt nhiều lần) lại không được chấp thuận. Do đó, tình trạng thi hành các quyết định xử phạt gặp khó khăn, kéo dài do người dân không có khả năng thi hành trong một lần đóng phạt, dẫn tới các Quyết định chậm thi hành, không thi hành được do hết thời hiệu thi hành.13

- Khoản 3 Điều 82 Luật XLVPHC quy định trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày có quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính, cơ quan có thẩm quyền phải chuyển cho tổ chức bán đấu giá. Nếu trường hợp tang vật, phương tiện bị tịch thu có số lượng ít và giá trị thấp thì số tiền thu được sau khi bán đấu giá sẽ không đủ để bù đắp cho các chi phí phát sinh. Mặt khác nếu kéo dài thời gian để tập trung tang vật, phương tiện bị tịch thu với số lượng lớn, giá trị cao mới chuyển cho tổ chức bán đấu giá thì không bảo đảm thời gian theo quy định của pháp luật.14

- Trình tự, thủ tục tịch thu, bán đấu giá tang vật, phương tiện vi phạm còn phức tạp dẫn đến việc xử lý tang vật, phương tiện phải kéo dài.15

- Theo khoản 4 Điều 92 và khoản 1 Điều 94 Luật XLVPHC, đối tượng bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc là người “02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc…nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự, đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn…” Vậy đối với trường hợp đối tượng trước đó đã bị áp dụng biện pháp GDTXPTT và trong 06 tháng thực hiện 02 lần hành vi quy định tại khoản 4 Điều 92 hoặc khoản 1 Điều 94 Luật XLVPHC, nhưng mới chỉ có 01 lần bị xử phạt vi phạm hành chính thì có thuộc đối tượng bị áp dụng BPXLHC nêu trên hay không, còn nhiều ý kiến khác nhau.16

- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 99, Khoản 3 Điều 101 Luật XLVPHC, sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường giáo dưỡng và cở sơ giáo dục bắt buộc, cơ quan đã lập hồ sơ phải thông báo cho người bị đề nghị áp dụng hoặc cha, mẹ hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ sơ. Quy định này trên thực tiễn thực hiện gặp khó khăn vì sau khi được thông báo các đối tượng thường tìm mọi biện pháp đối phó, trì hoãn hoặc trốn tránh.17

- Khoản 1 Điều 122 Luật XLVPHC quy định “Biện pháp tạm giữ người theo thủ tục hành chính chỉ được áp dụng trong trường hợp cần ngăn chặn, đình chỉ ngay những hành vi gây rối trật tự công cộng, gây thương tích cho người khác”. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều trường hợp đối tượng có hành vi vi phạm khác như: Trộm cắp tài sản, dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của người khác, cơ quan Công an cần thời gian để xác minh về các yếu tố nhân thân của đối tượng vi phạm để xử lý theo đúng pháp luật, tránh bỏ lọt tội phạm (đối với những tội có quy định đã bị xử phạt vi phạm hành chính về các hành vi trên) nhưng đối tượng lại không có nơi cư trú ổn định, nếu không tạm giữ hành chính để xác minh đối tượng sẽ bỏ trốn gây khó khăn trong công tác điều tra, xử lý về sau.18

- Khoản 3 Điều 122 Luật XLVPHC quy định “Đối với người vi phạm quy chế biên giới hoặc vi phạm hành chính ở vùng rừng núi xa xôi, hẻo lánh, hải đảo thì thời hạn tạm giữ có thể kéo dài hơn nhưng không được quá 48 giờ, kể từ thời điểm bắt đầu giữ người vi phạm”. Tuy nhiên do các đơn vị Bộ đội biên phòng thường đóng quân ở vùng biển đảo, việc đi lại hết sức khó khăn nên khó áp dụng các hoạt động như áp giải người vi phạm, thông báo về việc tạm giữ người. Bên cạnh đó, thời hạn 48 giờ vẫn không đủ để tiến hành xác minh, kết luận đối với những vụ việc phức tạp, xảy ra ngoài hải đảo.19

- Khoản 6 Điều 125 Luật XLVPHC quy định “Trong trường hợp chỉ áp dụng hình thức phạt tiền đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt có quyền tạm giữ một trong các loại giấy tờ theo thứ tự: giấy phép lái xe hoặc giấy phép lưu hành phương tiện hoặc giấy tờ cần thiết khác có liên quan đến tang vật, phương tiện cho đến khi cá nhân, tổ chức đó chấp hành xong quyết định xử phạt. Nếu cá nhân, tổ chức vi phạm không có giấy tờ nói trên, thì người có thẩm quyền xử phạt có thể tạm giữ tang vật, phương tiện vi phạm hành chính…”. Tuy nhiên đối với các hành vi vi phạm có mức xử phạt lớn, ví dụ hành vi vận chuyển lâm sản trái phép, nếu chỉ giữ các loại giấy tờ thì không đảm bảo cho việc thi hành quyết định xử phạt.20

- Luật XLVPHC không cho phép tạm giữ Giấy Chứng minh nhân dân, Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh…để đảm bảo xử phạt vi phạm hành chính (Điều 125). Tuy nhiên trên thực tế, nhiều tổ chức, cá nhân chỉ có các loại giấy tờ nêu trên mà không có giấy phép, chứng chỉ hành nghề…Do không tạm giữ được giấy tờ của các tổ chức, cá nhân này nên ảnh hưởng đến công tác bảo đảm thi hành quyết định XPVPHC.21

- Khoản 9 Điều 125 Luật XLVPHC quy định biên bản tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chỉ hành nghề phải có chữ ký của người ra quyết định tạm giữ. Quy định này không phù hợp với thực tiễn vì biên bản tạm giữ phải lập ngay trong cuộc kiểm tra và phải giao ngay cho đối tượng có tang vật, phương tiện bị tạm giữ trong khi người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ ít khi trực tiếp tham gia cùng đoàn kiểm tra xử phạt.22 Bên cạnh đó, quy định tại khoản 9 mâu thuẫn với khoản 5 Điều 125.23

- Khoản 1 Điều 126 Luật XLVPHC quy định “Đối với tang vật, phương tiện đang bị tạm giữ do bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép để vi phạm hành chính thuộc trường hợp bị tịch thu thì trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hoặc người sử dụng hợp pháp. Trong trường hợp này, cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước.” Quy định này khó thực hiện trên thực tế do hiện nay các phương tiện vận tải hầu hết có giá trị lớn, người lái xe đa số là làm thuê, thu nhập thấp nên không có khoản tiền tương đương để nộp.24

- Khoản 4 Điều 126 Luật XLVPHC quy định “Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính quá thời hạn tạm giữ nếu người vi phạm không đến nhận mà không có lý do chính đáng hoặc trường hợp không xác định được người vi phạm thì người ra quyết định tạm giữ phải thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng và niêm yết công khai tại trụ sở cơ quan của người có thẩm quyền tạm giữ; trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày thông báo, niêm yết công khai, nếu người vi phạm không đến nhận thì người có thẩm quyền phải ra quyết định tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính để xử lý…”. Tuy nhiên quy định này chỉ áp dụng được trong trường hợp người vi phạm cũng là chủ sở hữu hợp pháp, người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính. Trong trường hợp người vi phạm không phải là người chủ sở hữu hợp pháp hay người quản lý, sử dụng hợp pháp đối với các tang vật, phương tiện vi phạm hành chính mà họ “không đến nhận mà không có lý do chính đáng” hoặc trường hợp không xác định được thì không có cơ sở xử lý theo điều khoản nêu trên. 25

- Khoản 2 Điều 129 Luật XLVPHC quy định trong trường hợp khám nơi cất giấu tang vật, phương tiện là chỗ ở thì phải được sự đồng ý của Chủ tịch UBND cấp huyện. Quy định này không khả thi và gây khó khăn cho việc khám xét vì để có được sự đồng ý của Chủ tịch UBND cấp huyện thì thông thường phải mất từ 1 – 2 ngày (đối với những đồn Biên phòng ở vùng sâu, vùng xa, giao thông không thuận tiện).26

- Trong thời gian làm thủ tục áp dụng biện pháp xử lý hành chính thì người không có nơi cư trú ổn định được giao cho gia đình hoặc tổ chức xã hội quản lý (Điều 131 Luật XLVPHC). Tuy nhiên về điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị; về nhân sự theo quy định tại Điều 14 Nghị định số 221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 các tổ chức xã hội vẫn chưa đáp ứng được. Trên thực tế các tổ chức xã hội tại địa phương chưa đủ điều kiện để quản lý đối tượng này. Ngoài ra, chưa có quy định về chế độ, chính sách cho người được phân công quản lý, giáo dục đối tượng tại cộng đồng. Do vậy, việc thực hiện quy định giao cho gia đình, tổ chức quản lý người bị đề nghị áp dụng BPXLHC đưa vào trường giáo dưỡng, đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc trong thời gian làm thủ tục áp dụng các BPXLHC theo Điều 131 Luật XLVPHC mang tính hình thức, không khả thi, không mang lại hiệu quả trong thực tế. 27

- Điều 139 Luật XLVPHC quy định việc nhắc nhở các trường hợp vi phạm đối với người chưa thành niên vi phạm được thực hiện bằng lời nói, điều đó gây khó khăn cho cơ quan chức năng trong quá trình chứng minh có áp dụng biện pháp nhắc nhở đối với người chưa thành niên hay chưa28.

- Hiện nay, quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính tại điểm b khoản 1 Điều 163 Luật Thi hành án dân sự 2008 đã được bãi bỏ theo Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự 2014. Vì vậy quy định về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của các chức danh có liên quan đến công tác thi hành án dân sự trong Luật XLVPHC và một số Nghị định hướng dẫn thi hành Luật XLVPHC (ví dụ Nghị định số 110/2013/NĐ-CP) cần được sửa đổi để đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất của hệ thống pháp luật.29



1.1.2 Một số quy định của Luật XLVPHC chưa cụ thể, rõ ràng, dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau:

- Điểm e khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC quy định: “Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân”. Trên thực tế, khi phát hiện hành vi vi phạm hành chính, các cơ quan chức năng gặp lúng túng trong việc xác định chủ thể vi phạm là cá nhân hay tổ chức do không có hướng dẫn cụ thể thế nào là cá nhân, tổ chức vi phạm, đặc biệt là đối với trường hợp chủ thể vi phạm là loại doanh nghiệp tư nhân, hộ gia đình, cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo...phổ biến ở các lĩnh vực như xây dựng, kinh doanh, tệ nạn xã hội, bảo hiểm, lao động…30

- Một số quy định trong Luật XLVPHC quy định mang tính định tính nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể, do đó gây khó khăn cho việc áp dụng như: vi phạm hành chính “có quy mô lớn” (khoản 1 Điều 10); vụ việc “có nhiều tình tiết phức tạp”, vụ việc “đặc biệt nghiêm trọng” ( khoản 1 Điều 66); xác định “vi phạm hành chính vì hoàn cảnh đặc biệt khó khăn mà không do mình gây ra” (khoản 6 Điều 9); ”vi phạm hành chính nghiêm trọng” (Điều 26)31; ”người già yếu” vi phạm hành chính (khoản 5 Điều 9); vi phạm hành chính ”gây hậu quả lớn” (Điều 72); hành vi ”côn đồ hung hãn” (khoản 2 Điều 118); ”vi phạm nghiêm trọng” các hoạt động được ghi trong giấy phép, chứng chỉ hành nghề (Điều 25)...

- Khoản 1 Điều 2 Luật XLVPHC quy định ”vi phạm hành chính là hành vi có lỗi do cá nhân, tổ chức thực hiện...”; Điều 26 Luật XLVPHC quy định ”Tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính...đối với vi phạm hành chính nghiêm trọng do lỗi cố ý của cá nhân, tổ chức”; Điểm b khoản 1 Điều 59 Luật XLVPHC quy định xác minh tình tiết của vụ việc vi phạm hành chính, bao gồm ”cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi vi phạm hành chính, lỗi, nhân thân của cá nhân vi phạm hành chính”. Tuy vậy hiện nay chưa có quy định nào hướng dẫn việc xác định lỗi, các hình thức lỗi cố ý, vô ý của cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính để làm cơ sở pháp lý cho việc quy định và áp dụng hình thức xử phạt này.32

- Luật XLVPHC đã quy định vấn đề giao quyền xử phạt cho cấp phó tại Điều 54 (Giao quyền xử phạt); khoản 2 Điều 87 (Cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt VPHC); khoản 2 Điều 123 (Tạm giữ người theo thủ tục hành chính) nhưng lại chưa quy định việc giao cho cấp phó có thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn và bảo đảm việc xử phạt vi phạm hành chính cũng như các quyết định khác trong xử phạt vi phạm hành chính dẫn đến các cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau trên thực tế.33

- Trường hợp một hành vi vi phạm mà xảy ra tại nhiều thời điểm khác nhau nhưng chưa bị phát hiện, khi phát hiện ra hành vi vi phạm thì sẽ xử phạt 01 lần và áp dụng tình tiết tăng nặng theo điểm b khoản 1 Điều 10 Luật XLVPHC hay xử phạt theo từng thời điểm hành vi vi phạm theo điểm d khoản 1 Điều 3 Luật XLVPHC?34

- Quy định về thời điểm tính thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính tại điểm b khoản 1 Điều 6 Luật XLVPHC hiện nay có nhiều cách hiểu khác nhau, gây khó khăn trong việc xác định thời hiệu.35

- Chưa có quy định cụ thể về căn cứ, tiêu chí để xác định tình tiết giảm nhẹ đối với người có hành vi vi phạm hành chính tự nguyện khai báo hoặc thành thật hối lỗi hoặc trình độ lạc hậu theo Điều 9 Luật XLVPHC.36

- Khoản 3 Điều 15, khoản 3 Điều 18 Luật XLVPHC có quy định về các trường hợp tạm đình chỉ thi hành, sửa đổi, bổ sung, hủy bỏ quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng chưa có quy định cụ thể về điều kiện, trình tự, thủ tục thực hiện cũng như hệ thống biểu mẫu. Bên cạnh đó, chưa có quy định biện pháp khắc phục đối với trường hợp các quyết định xử phạt vi phạm hành chính có sai sót nhưng đã thi hành xong.37

- Khoản 3 Điều 25 Luật XLVPHC quy định : “Thời hạn tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề, thời hạn đình chỉ hoạt động quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này từ 01 tháng đến 24 tháng, kể từ ngày quyết định xử phạt có hiệu lực thi hành”. Quy định như vậy là chưa hợp lý, tạo điều kiện cho đối tượng vi phạm dễ dàng ‘lách luật” do hết thời hạn được quy định tại khoản 3 Điều 25 Luật XLVPHC. Do vậy, điều khoản này có thể được quy định cụ thể hơn theo hướng tách ra 02 mốc thời hạn: thời hạn nộp giấy phép, chứng chỉ hành nghề (tính từ ngày ra quyết định) và thời hạn tước quyền sử dụng (tính từ ngày nhận được giấy phép, chứng chỉ hành nghề từ đối tượng vi phạm – tính từ thời điểm kết thúc của thời hạn thứ nhất).38

- Điểm i, khoản 1 Điều 28 Luật XLVPHC quy định biện pháp ”Buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính hoặc buộc nộp lại số tiền bằng trị giá tang vật, phương tiện vi phạm hành chính đã bị tiêu thụ, tẩu tán, tiêu hủy trái quy định của pháp luật”. Tuy nhiên hiện nay chưa có hướng dẫn cụ thể về cách tính giá trị số lợi bất hợp pháp, gây khó khăn cho quá trình xử lý tại địa phương.39

- Chưa có quy định hướng dẫn cụ thể cách thức thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả buộc tiêu hủy hàng hóa, vật phẩm gây hại cho sức khỏe vật nuôi, cây trồng và môi trường, văn hóa phẩm có nội dung độc hại theo điểm đ khoản 1 Điều 28 Luật XLVPHC.40

- Khoản 1 Điều 52 Luật XLVPHC quy định thẩm quyền xử phạt tiền đối với tổ chức gấp 02 lần đối với cá nhân, trong khi đó, thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính lại được xác định theo mức tiền phạt (được quy định đối với cá nhân vi phạm hành chính) (từ Điều 38 đến Điều 49 Luật XLVPHC). Do Luật XLVPHC chưa quy định rõ về thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện đối với tổ chức vi phạm hành chính nên hiện nay có những cách hiểu và áp dụng khác nhau trên thực tế.41

- Thẩm quyền tịch thu tang vật, phương tiện bị giới hạn theo thẩm quyền phạt tiền theo quy định từ Điều 38 đến Điều 51 Luật XLVPHC. Tuy nhiên trên thực tế, trong một số trường hợp, người có thẩm quyền khó có thể xác định được giá trị hàng hóa vi phạm ngay tại thời điểm xử lý vi phạm do vậy các cơ quan chức năng gặp lúng túng trong việc áp dụng pháp luật.42

- Theo quy định Điều 54 của Luật XLVPHC và Nghị định số 81/2013/NĐ-CP thì người có thẩm quyền xử phạt có thể giao quyền cho cấp phó. Trong trường hợp này dẫn đến hai cách hiểu khác nhau:

Quan điểm thứ nhất cho rằng: cấp trưởng đã giao quyền cho cấp phó xử lý các vụ việc vi phạm hành chính thì trong thời gian đó, cấp trưởng sẽ không thực hiện ký bất kỳ quyết định xử lý vi phạm hành chính nào thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Trong quá trình thực hiện việc giao quyền, có thể có sự trao đổi, xin ý kiến giữa cấp phó với cấp trưởng về từng vụ việc cụ thể, nhưng cấp phó được giao quyền phải tự chịu trách nhiệm cá nhân trước cấp trưởng và trước pháp luật về quyết định xử lý vi phạm của mình.

Quan điểm thứ hai cho rằng: mặc dù về nguyên tắc cấp trưởng đã giao quyền cho cấp phó của mình xử lý các vụ việc vi phạm hành chính, nhưng trong thời gian thực hiện giao quyền, cấp trưởng vẫn có quyền yêu cầu bộ phận giúp việc trình hồ sơ trực tiếp cho mình và cấp trưởng sẽ là người quyết định và ký các quyết định xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của mình. Dẫn đến có hiện tượng, cấp trưởng “né tránh” những vụ khó hoặc những vụ việc vi phạm nhưng có tính chất “nhạy cảm”, dồn trách nhiệm cho cấp phó.43

- Khoản 1 Điều 58 Luật XLVPHC quy định “Trường hợp vi phạm hành chính được phát hiện nhờ sử dụng phương tiện, thiết bị kỹ thuật, nghiệp vụ thì việc lập biên bản vi phạm hành chính được tiến hành ngay khi xác định được tổ chức, cá nhân vi phạm.” Như vậy trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường (phải qua phân tích, kiểm nghiệm của đơn vị chức năng mới phát hiện được) thì việc lập biên bản vi phạm được diễn ra tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền xử phạt hay tại nơi tổ chức, cá nhân vi phạm? 44

- Khoản 1 Điều 58 quy định phải kịp thời lập biên bản vi phạm hành chính nhưng không quy định cụ thể thời gian phải lập biên bản vi phạm hành chính.45

- Khoản 2, khoản 3 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính có quy định về “người chứng kiến”. Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể như thế nào là “người chứng kiến”. Ví dụ trong trường hợp một tổ công tác có 03 người thực hiện tuần tra, kiểm soát vào ban đêm tại khu vực vắng vẻ và phát hiện hành vi vi phạm, nhưng người vi phạm lại không có mặt tại hiện trường hoặc cố tình trốn tránh thì ngoài thành viên đã đứng tên lập biên bản vi phạm hành chính, hai thành viên còn lại của tổ công tác có được coi là “người chứng kiến” hay không?46

- Chưa có quy định cụ thể về xác định “giá thị trường của địa phương tại thời điểm xảy ra vi phạm hành chính” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 60 Luật XLVPHC để xác định giá trị tang vật vi phạm hành chính làm căn cứ xác định khung tiền phạt, thẩm quyền xử phạt.47 Ngoài ra khoản 3 Điều 60 Luật XLVPHC quy định “Mọi chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá và thiệt hại do việc tạm giữ gây ra do cơ quan của người có thẩm quyền ra quyết định tạm giữ chi trả..”. Tuy nhiên chưa có hướng dẫn xác định “chi phí liên quan đến việc tạm giữ, định giá” cũng như kéo dài thời gian để xác định chi phí. 48

- Khoản 1 Điều 61 Luật XLVPHC quy định cá nhân, tổ chức được quyền thực hiện thủ tục giải trình trong trường hợp “áp dụng mức phát tiền tối đa của khung tiền phạt đối với hành vi đó từ 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức”. Quy định này hiện đang có hai cách hiểu và áp dụng khác nhau49 như sau:

+ Thủ tục giải trình được áp dụng khi hành vi vi phạm bị người có thẩm quyền xem xét áp dụng mức phạt tiền tối đa của khung tiền phạt là 15.000.000 đồng trở lên đối với cá nhân và từ 30.000.000 đồng trở lên đối với tổ chức.

+ Thủ tục giải trình được áp dụng khi hành vi vi phạm quy định tại Nghị định xử phạt vi phạm hành chính mà khung phạt tiền áp dụng đối với hành vi vi phạm đó có mức phạt tối đa là 15.000.000 đồng đối với cá nhân và 30.000.000 đồng đối với tổ chức.

- Theo quy định tại khoản 3 Điều 61 Luật XLVPHC, người có thẩm quyền xử phạt phải tổ chức phiên giải trình trực tiếp và không được ủy quyền cho người khác làm thay. Quy định này gây khó khăn trong công tác xử phạt trong trường hợp vụ vi phạm thuộc thẩm quyền xử phạt Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp, nhất là Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh do không sắp xếp được thời gian để thực hiện việc tiếp nhận nhận giải trình trực tiếp trong khi thời hạn để tổ chức tiếp nhận giải trình trực tiếp tối đa chỉ có 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người vi phạm.50

- Khoản 2 Điều 62 Luật XLVPHC quy định trong quá trình thi hành quyết định XPVPHC, nếu hành vi vi phạm được phát hiện có dấu hiệu tội phạm mà chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự thì người ra quyết định XPVPHC phải ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định đó. Khoản 1 Điều 66 Luật XLVPHC quy định trong trường hợp cần gia hạn thời hạn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì người có thẩm quyền đang giải quyết vụ việc phải báo cáo thủ trưởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn. Tuy nhiên trong hệ thống biểu mẫu đã được ban hành chưa có hai loại biểu mẫu này.51 Bên cạnh đó, chưa có hướng dẫn cụ thể “thủ trưởng trực tiếp” là thủ trưởng của cơ quan quản lý theo ngành dọc hay cơ quan thanh tra chuyên ngành?52

- Chưa có quy định rõ về cơ quan có thẩm quyền quản lý tang vật, phương tiện vi phạm, chi phí, thời gian, thủ tục tạm giữ trong trường hợp chuyển hồ sơ vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để truy cứu trách nhiệm hình sự và chuyển hồ sơ vụ vi phạm để xử phạt hành chính quy định tại Điều 62 và 63 Luật XLVPHC.53

- Điều 63 Luật XLVPHC quy định khi cơ quan tiến hành tố tụng không khởi tố vụ án hình sự, đình chỉ điều tra, chuyển hồ sơ để xử phạt hành chính thì người có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính chỉ có 30 ngày, trường hợp gia hạn là 45 ngày để ra quyết định xử phạt. Trong trường hợp thẩm quyền thuộc về Chủ tịch UBND thành phố, hồ sơ phải đi qua nhiều cơ quan thẩm định nên thời gian nói trên là không đủ.54

- Điều 68 Luật XLVPHC quy định trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không thực hiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính thì có thể bị cưỡng chế thi hành theo quy định tại Mục 3, Chương III Luật Xử lý vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có nhiều trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm không thực hiện quyết định đúng thời hạn thì sẽ bị đề nghị cưỡng chế, nhưng cũng trong thời gian đó, họ thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính và thời hiệu, thời hạn khiếu nại, khởi kiện được thực hiện theo quy định tại Luật Khiếu nại hoặc Luật Tố tụng hành chính. Do đó, trên thực tế, để tổ chức thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong những trường hợp này là khá khó khăn vì rất nhiều tổ chức, cá nhân cho rằng khi họ đang thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện thì cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền không được tổ chức cưỡng chế đối với việc xử phạt đó. Điều này đặt ra yêu cầu cần bổ sung quy định hướng dẫn trong trường hợp cá nhân, tổ chức vi phạm thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện về quyết định xử phạt hành chính thì vẫn có thể bị cưỡng chế thi hành nếu hết thời hạn thi hành nhưng không thực hiện hoặc quy định trong trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện quyền khiếu nại, khởi kiện thì có thể tạm dừng việc thi hành quyết định xử phạt hành chính cho đến khi quyết định giải quyết khiếu nại của cơ quan, người có thẩm quyền hoặc bản án, quyết định của tòa án có hiệu lực thi hành.55

- Điều 70 Luật XLVPHC quy định “Đối với trường hợp quyết định được giao trực tiếp mà cá nhân, tổ chức vi phạm cố tình không nhận quyết định thì người có thẩm quyền lập biên bản về việc không nhận quyết định có xác nhận của chính quyền địa phương và được coi là quyết định đã được giao”. Tuy nhiên trên thực tế gặp vướng mắc người có thẩm quyền lập biên bản về việc không nhận quyết định là ai? UBND cấp xã nơi đối tượng cư trú xác nhận vào biên bản hay UBND cấp xã nơi có trụ sở làm việc của người có thẩm quyền xử phạt xác nhận?56

- Luật XLVPHC đã quy định về việc chuyển hồ sơ xử phạt để thi hành trong trường hợp cá nhân, tổ chức thực hiện vi phạm hành chính ở địa bàn cấp tỉnh này nhưng cư trú, đóng trụ sở ở tỉnh khác và không có điều kiện chấp hành quyết định xử phạt tại nơi bị xử phạt (Khoản 1 Điều 71). Tuy nhiên, chưa có hướng dẫn cụ thể trình tự, thủ tục tổ chức thi hành, nơi nhận tiền phạt (nộp vào kho bạc nơi xử lý vi phạm hay kho bạc nơi tổ chức thi hành quyết định xử phạt); hướng dẫn cơ quan ban hành quyết định cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt trong trường hợp đối tượng vi phạm không chấp hành. Bên cạnh đó, chưa có quy định về xử lý trường hợp chuyển quyết định xử phạt để tổ chức thi hành đối với trường hợp vi phạm hành chính xảy ra ở địa bàn cấp huyện này nhưng cá nhân cư trú, tổ chức đóng trụ sở ở địa bàn cấp huyện khác trong cùng một tỉnh.57

- Điều 74 Luật XLVPHC quy định thời hiệu thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính là 01năm, trong trường hợp cá nhân, tổ chức bị xử phạt cố tình trốn tránh, trì hoãn thì thời hiệu nói trên được tính kể từ thời điểm việc trốn tránh, trì hoãn chấm dứt. Tuy nhiên hiện chưa có hướng dẫn hành vi như thế nào của cá nhân, tổ chức được xác định là “trốn tránh”, “trì hoãn”.58

- Khoản 5 Điều 80 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định “trường hợp phát hiện giấy phép, chứng chỉ hành nghề được cấp không đúng thẩm quyền hoặc có nội dung trái pháp luật thì người có thẩm quyền xử phạt phải tiến hành thu hồi ngay theo thẩm quyền,… trường hợp không thuộc thẩm quyền thu hồi thì phải báo cáo với cơ quan có thẩm quyền để xử lý”. Tuy nhiên, chưa có quy định nêu rõ việc “thu hồi giấy phép, chứng chỉ hành nghề” là hình thức xử phạt bổ sung hay là biện pháp khắc phục hậu quả, dẫn đến các cơ quan chức năng lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện.59

- Khoản 2 Điều 83 Luật XLVPHC quy định tiền thu từ xử phạt vi phạm hành chính phải nộp toàn bộ vào ngân sách nhà nước và được quản lý, sử dụng theo đúng quy định của pháp luật về ngân sách nhà nước. Tuy nhiên trên thực tế địa phương cần nguồn kinh phí để hỗ trợ các lực lượng chức năng làm công tác quản lý và xử lý phạm hành chính nhưng chưa có quy định cụ thể.60

- Các quy định về thi hành các biện pháp khắc phục hậu quả tại Điều 85 Luật XLVPHC còn chung chung, chưa cụ thể về trình tự, thủ tục, cách thức thi hành đối với từng biện pháp, gây khó khăn cho việc áp dụng các biện pháp nói trên để khắc phục triệt để hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra.61

- Điều 127 Luật Xử lý vi phạm hành chính có quy định: “Những người được quy định tại khoản 1, Điều 123 của Luật này có quyền quyết định khám người theo thủ tục hành chính. Trong trường hợp có căn cứ để cho rằng nếu không tiến hành khám ngay thì đồ vật, tài liệu, phương tiện được sử dụng để vi phạm hành chính bị tẩu tán, tiêu hủy, thì ngoài những người được quy định tại khoản 1, Điều 123 của Luật này, chiến sĩ cảnh sát nhân dân, cảnh sát viên cảnh sát biển, chiến sĩ bộ đội biên phòng, kiểm lâm viên, công chức hải quan, kiểm soát viên thị trường đang thi hành công vụ được khám người theo thủ tục hành chính và báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một trong những người được quy định tại khoản 1 Điều 123 của Luật này và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc khám người. Như vậy, theo quy định này cán bộ, chiến sỹ thuộc Bộ chỉ huy bộ đội biên phòng (Đội đặc nhiệm phòng chống tội phạm ma túy, đội trinh sát cơ động...) khi thực hiện nhiệm vụ được khám người theo thủ tục hành chính và phải báo cáo ngay bằng văn bản cho thủ trưởng của mình là một trong những người quy định tại khoản 1, Điều 123 của Luật này và phải chịu trách nhiệm về việc khám người. Tuy nhiên, thủ trưởng của những người này là Đội trưởng, Trưởng phòng hoặc cao hơn là Chỉ huy trưởng - là những chức danh được quy định có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính nhưng lại không thuộc những người được quy định tại Khoản 1, Điều 123 của Luật Xử lý vi phạm hành chính. Vậy, trong trường hợp này, chiến sỹ Bộ đội biên phòng sẽ phải báo cáo ai về việc tổ chức khám người theo thủ tục hành chính.62

- Các quy định tại khoản 4 Điều 92, khoản 1 Điều 94, khoản 1 Điều 96 Luật XLVPHC có sử dụng cụm từ “…đã bị áp dụng các biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn” nhưng trong thực tế đang tồn tại hai cách hiểu là đang bị áp dụng biện pháp này hoặc đã áp dụng xong biện pháp này.63

- Việc theo dõi lâm sàng để xác định người nghiện ma túy đối với đối tượng áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc theo quy định tại khoản 1 Điều 96 Luật XLVPHC còn gặp khó khăn do thời gian theo dõi dài (từ 24 đến 72 giờ), trong khi chưa có văn bản quy định ngành Y tế có quyền giữ người để theo dõi.64

- Khoản 2 Điều 97 Luật XLVPHC giao cho cơ sở bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em quản lý, giáo dục người chưa thành niên không xác định được nơi cư trú ổn định trong thời gian chấp hành biện pháp GDTXPTT. Tuy nhiên chưa có hướng dẫn cụ thể Chủ tịch UBND cấp xã nơi cơ sở bảo trợ xã hội đóng trụ sở hay Chủ tịch UBND cấp xã nơi người chưa thành niên có hành vi vi phạm là người có thẩm quyền ra quyết định GDTXPTT.65

- Chưa có quy định cụ thể thời gian Công an, tổ chức xã hội tạm giữ, lưu giữ đối tượng để chờ quyết định của Tòa án áp dụng BPXLHC có tính vào thời hạn áp dụng BPXLHC hay không.66

- Theo quy định tại Điều 111, 112 Luật Xử lý vi phạm hành chính thì các đối tượng có thể được hoãn hoặc miễn chấp hành quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc hoặc giảm thời hạn, tạm đình chỉ hoặc miễn chấp hành phần thời gian còn lại tại trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc trong trường hợp bị bệnh hiểm nghèo. Tuy nhiên, đến nay chưa có hướng dẫn cụ thể về việc xác định như thế nào là bệnh hiểm nghèo, do đó, các cơ quan có thẩm quyền gặp khó khăn trong việc xác định đối tượng có bị bệnh hiểm nghèo hay không để được hưởng quyền lợi theo quy định tại Điều 111 và Điều 112 của Luật nêu trên.67

- Khoản 6 Điều 125 Luật XLVPHC quy định việc tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chứng chủ hành nghề để bảo đảm thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính và việc trả lại phương tiện vi phạm cho chủ sở hữu hợp pháp trong trường hợp người vi phạm sử dụng trái phép. Tuy nhiên không có văn bản nào quy định cụ thể thời hạn tạm giữ là bao lâu, thời hạn trả lại là bao lâu, cũng như trình tự, thủ tục trả lại phương tiện, gây khó khăn cho quá trình thực thi nhiệm vụ.68

- Khoản 1 Điều 126 Luật XLVPHC quy định “cá nhân, tổ chức vi phạm phải nộp một khoản tiền tương đương trị giá tang vật, phương tiện vi phạm vào ngân sách nhà nước” nhưng Điều 21 Luật XLVPHC không quy định nội dung này là hình thức xử phạt hay biện pháp khắc phục hậu quả. Do vậy người có thẩm quyền áp dụng pháp luật gặp lúng túng khi thể hiện nội dung này trong quyết định xử phạt.69 Bên cạnh đó chưa có quy định cụ thể về trình tự, áp dụng các biện pháp này.70

- Luật XLVPHC và Nghị định 221/2013/NĐ-CP không quy định hướng dẫn việc đưa người nghiện ma túy vào CSCNBB đối với đối tượng là người chưa thành niên dưới 18 tuổi.71

- Luật XLVPHC và văn bản hướng dẫn thi hành chưa có quy định rõ về thời điểm bắt đầu tính thời gian chấp hành quyết định của Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, dẫn đến có nhiều cách tính khác nhau. Một số nơi tính từ ngày người nghiện ma túy không có nơi cư trú ổn định được đưa vào cơ sở xã hội, một số nơi tính từ ngày quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính của Tòa án có hiệu lực và một số nơi lại tính từ ngày cơ sở cai nghiện bắt buộc tiếp nhận người nghiện ma túy.72

- Theo quy định tại các khoản 1, 3 Điều 132 Luật XLVPHC và khoản 6 Điều 7 Nghị định số 02/2014/NĐ-CP thì người đã có quyết định đưa vào TGD bỏ trốn trước khi thi hành hoặc đang chấp hành quyết định tại TGD bỏ trốn, nếu khi tìm được mà người đó đã đủ 18 tuối thì Hiệu trưởng TGD đề nghị Tòa án nhân dân cấp huyện nơi có TGD xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào CSGDBB nếu đủ điều kiện. Quy định như vậy chỉ phù hợp với học sinh đang chấp hành quyết định tại TGD, trường hợp người đã có quyết định đưa vào TGD bỏ trốn trước khi thi hành quyết định là không phù hợp vì cơ quan ra quyết định truy tìm và có trách nhiệm chính trong việc truy tìm là Công an cấp huyện nơi lập hồ sơ đề nghị, khi đó TGD chưa tiếp nhận cả hồ sơ và người bị đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào TGD. Do vậy, nếu quy định TGD đề nghị TAND cấp huyện xem xét, quyết định áp dụng biện pháp đưa vào CSGDBB sẽ gây khó khăn và tốn kém trong việc cưỡng chế và đưa đối tượng đi thi hành quyết định cho cơ quan công an cấp huyện đã lập hồ sơ, do phải đưa hồ sơ và con người đến TGD làm các thủ tục trên. Mặt khác, khi đó cơ quan nào chịu trách nhiệm bổ sung tài liệu hồ sơ (nếu có) cũng chưa được quy định cụ thể. 73

- Chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể về việc thực hiện các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên vi phạm (từ Điều 138 đến Điều 140 Luật XLVPHC).74

- Chưa có quy định cụ thể cách tính ngày trong Luật XLVPHC có bao gồm ngày nghỉ, ngày lễ hay không nên việc áp dụng trên thực tế không thống nhất.75

- Theo quy định của Luật XLVPHC và các nghị định quy định về chế độ áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính, trong quá trình tham gia lập hồ sơ đề nghị áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đều đòi hỏi sự tham gia của thủ trưởng các cơ quan (Chủ tịch UBND cấp xã, Trưởng Công an, Trưởng phòng Tư pháp, Trưởng phòng Lao động-Thương binh và Xã hội) mà không có quy định cho phép những chức danh này được giao quyền hay ủy quyền cho cấp phó như trong trường hợp thực hiện thẩm quyền về xử phạt vi phạm hành chính. Điều này gây khó khăn cho địa phương vì không phải lúc nào cấp trưởng cũng có mặt tại cơ quan để xử lý công việc.76



    1. : tintuc -> Lists -> ChiDaoDieuHanh -> Attachments
      Attachments -> ĐẢng bộ khối các cơ quan tw
      Attachments -> BỘ TÀi chính cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
      Attachments -> BỘ CÔng an số: 411/bc-bca cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
      Attachments -> Điều Sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 103/2013/NĐ-cp ngày 12/9/2013 quy định về xử phạt VI phạm hành chính trong hoạt động thủy sản
      Attachments -> Hội nghị toàn quốc sơ kết công tác tư pháp 6 tháng đầu năm 2016
      Attachments -> BỘ TƯ pháp số: 1215/btp-pbgdpl v/v tăng cường quản lý về xây dựng, thực hiện hương ước, quy ước CỘng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
      Attachments -> BỘ TƯ pháp cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
      Attachments -> VĂn phòng số: 1470/tb-vp cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam
      Attachments -> DỰ thảO ngày 16/12/2014


  1   2   3   4


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương