NHỮng nguyên lý CƠ BẢn của chủ nghĩa mác lênin



tải về 0.74 Mb.
trang1/9
Chuyển đổi dữ liệu21.08.2016
Kích0.74 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9


BÀI GIẢNG: Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin


TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐÔNG Á

KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BÀI GIẢNG

NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN

CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN


CHƯƠNG MỞ ĐẦU

NHẬP MÔN NHỮNG NGUYÊN LÝ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

I. Khái lược về chủ nghĩa Mác - Lênin

1. Chủ nghĩa Mác - Lênin và ba bộ phận lý luận cấu thành


    1. Chủ nghĩa Mác - Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin là “hệ thống quan điểm và học thuyết” khoa học của C.Mác, Ph.Ăngghen và sự phát triển của V.I.Lênin; là sự kế thừa và phát triển những giá trị lịch sử của tư tưởng nhân loại, trên sơ sở thực tiễn của thời đại; là khoa học về sự nghiệp giải phóng vô sản, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người; là thế giới quan và phương pháp luận phổ biến của nhận thức khoa học.

    1. Ba bộ phận lý luận cơ bản cấu thành chủ nghĩa Mác- Lênin

Chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm hệ thống tri thức phong phú về nhiều lĩnh vực nhưng trong đó có ba bộ phận lý luận quan trọng nhất là: triết học, kinh tế chính trị học và chủ nghĩa xã hội khoa học.

- Triết học Mác - Lênin là bộ phận lý luận nghiên cứu những quy luật vận động, phát triển chung nhất của tự nhiên, xã hội và tư duy; xây dựng thế giới quan và phương pháp luận chung nhất của nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.

- Trên cơ sở thế giới quan và phương pháp luận Triết học, kinh tế chính trị Mác - Lênin nghiên cứu những quy luật kinh tế của quá trình ra đời,phát triển, suy tàn của PTSX TBCN và sự ra đời, phát triển của PTSX mới - PTSX CSCN.

- CNXH khoa học là kết quả tất nhiên của sự vận dụng thế giới quan, phương pháp luận Triết học và kinh tế chính trị Mác - Lênin vào việc nghiên cứu làm sáng tỏ những quy luật khách quan của quá trình cách mạng XHCN - bước chuyển biến lịch sử từ CNTB lên CNXH và tiến tới CNCS, từ vương quốc của tính tất yếu mù quáng sang vương quốc tự do của con người.

=> Mặc dù ba bộ phận lý luận cấu thành chủ nghĩa Mác - Lênin có đối tượng nghiên cứu cụ thể khác nhau những đều nằm trong một hệ thống lý luận khoa học thống nhất - đó là khoa học về sự nghiệp giải phóng giai cấp vô sản, giải phóng nhân dân lao động khỏi chế độ áp bức, bóc lột và tiến tới giải phóng con người.

Ngày nay, có thể có nhiều học thuyết với lý tưởng nhân đạo về giải phóng giai cấp, giải phóng nhân dân lao động và giải phóng con người khỏi ách áp bức, bóc lột nhưng chỉ có chủ nghĩa Mác - Lênin mới là học thuyết khoa học nhất, chắc chắn nhất và chân chính nhất để thực hiện lý tưởng đó.



2. Khái lược quá trình hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin

Quá trình ra đời và phát triển của chủ nghĩa Mác - Lênin bao gồm hai giai đoạn lớn là giai đoạn hình thành, phát triển chủ nghĩa Mác (do C.Mác, Ăngghen thực hiện) và giai đoạn bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác - Lênin (do Lênin thực hiện).



    1. 2.1. Những điều, kiện tiền đề của sự ra đời chủ nghĩa Mác

* Tiền đề kinh tế - xã hội

- Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời vào những năm 40 của thế kỷ XIX. Đây là thời kỳ PTSX TBCN ở các nước Tây Âu đã phát triển mạnh mẽ trên nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp, không chỉ đánh dấu bước chuyển hoá từ nền sản xuất thủ công TBCN sang nền sản xuất đại công nghiệp TBCN mà còn làm thay đổi sâu sắc cục diện xã hội, trước hết là sự hình thành và phát triển của giai cấp vô sản.

- Mâu thuẫn sâu sắc giữa LLSX mang tính xã hội hoá với QHSX mang tính chất tư nhân TBCN đã bộc lộ qua cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1825 và hàng loạt cuộc đấu tranh của công nhân chống lại chủ tư bản. Thể hiện giai cấp vô sản đã trở thành một lực lượng chính trị độc lập, tiên phong trong cuộc đấu tranh cho nền dân chủ, công bằng và tiến bộ xã hội

- Thực tiễn cách mạng của giai cấp vô sản nảy sinh yêu cầu khách quan là nó phải được soi sáng bằng lý luận khoa học. Chủ nghĩa Mác ra đời là sự đáp ứng yêu cầu khách quan đó; đồng thời chính thực tiễn cách mạng đó cũng đã trở thành tiền đề thực tiễn cho sự khái quát và phát triển lý luận chủ nghĩa Mác.



* Tiền đề lý luận:

- Chủ nghĩa Mác ra đời không chỉ xuất phát từ nhu cầu khách quan của lịch sử mà còn là kết quả của sự kế thừa tinh hoa di sản lý luận của nhân loại, trong đó trực tiếp là: Triết học cổ điển Đức, Kinh tế chính trị học cổ điển Anh, Chủ nghĩa xã hội không tưởng Pháp

- Triết học cổ điển Đức, đặc biệt là triết học của Hêghen và Phoiơbắc đã ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành thế giới quan và phương pháp luận triết học của con người Mác. Trên cơ sở phê phán tính chất duy tâm thần bí trong triết học Hêghen, C.Mác và P.Ăngghen đã kế thừa phép biện chứng của ông để xây dựng phép biện chứng duy vật. Với Phoiơbắc, C.Mác và P.Ăngghen đánh giá cao vai trò tư tưởng của ông trong cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa duy tâm, tôn giáo, khẳng định giới tự nhiên là tính thứ nhất, tồn tại vĩnh viễn, không phụ thuộc vào ý thức của con người, tạo tiền đề quan trọng cho bước chuyển biến của Mác và Ăngghen từ thế giới quan duy tâm sang thế giới quan duy vật - một tiền đề lý luận của quá trình chuyển từ lập trường chủ nghĩa dân chủ - cách mạng sang lập trường CNCS.

- Kinh tế chính trị cổ điển Anh với những đại biểu lớn là A.Smith và Đ. Ricácđô đã góp phần tích cực vào quá trình hình thành quan niệm duy vật về lịch sử của chủ nghĩa Mác. Từ đó, C. Mác đã giải quyết những bế tắc mà bản thân các nhà kinh tế chính trị cổ điển Anh đã không thể vượt qua để xây dựng lên lý luận về GTTD, luận chứng khoa học về bản chất bóc lột của CNTB và nguồn gốc kinh tế của sự diệt vong tất yếu của CNTB cũng như sự ra đời tất nhiên của CNXH.

- CNXH không tưởng đã có quá trình phát triển lâu dài và đạt đến đỉnh cao vào cuối thế kỷ XVIII đầu thế kỷ XIX. Kế thừa tinh thần nhân đạo và những quan điểm đúng đắn của các nhà CNXH không tưởng về lịch sử, về đặc trưng của xã hội tương lai đã trở thành một trong những tiền đề lý luận quan trọng cho sự ra đời của lý luận khoa học về CNXH trong chủ nghĩa Mác

* Tiền đề khoa học tự nhiên

Cùng với những điều kiện kinh tế - xã hội và tiền đề lý luận, những thành tựu khoa học tự nhiên cũng vừa là tiền đề vừa là luận cứ và là những minh chứng khẳng định tính đúng đắn về thế giới quan và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác; trước hết phải kể đến phát hiện ra quy luật bảo toàn và chuyển hoá năng lượng, thuyết tiến hoá và thuyết tế bào.

=> Như vậy sự ra đời của chủ nghĩa Mác là hiện tượng hợp quy luật; nó vừa là sản phẩm của tình hình kinh tế - xã hội đương thời, của tri thức nhân loại thể hiện trong các lĩnh vực khoa học, vừa là sản phẩm năng lực tư duy và tinh thần nhân văn của những người sáng lập ra nó.


    1. 2.2. Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác

Giai đoạn hình thành và phát triển chủ nghĩa Mác do C.Mác và P.Ăngghen thực hiện diễn ra từ những năm 1842 - 1843 đến sau những năm 1847 - 1848 và sau đó từ 1849 đến 1895 là quá trình phát triển sâu sắc hơn. Trong giai đoạn này, cùng với các hoạt động thực tiễn, C.Mác và P. Ăngghen đã nghiên cứu tư tưởng của nhân loại trên nhiều lĩnh vực từ cổ đại cho đến xã hội đương thời để từng bước củng cố, bổ sung và hoàn thiện quan điểm của mình.

- Vận dụng chủ nghĩa duy vật lịch sử vào việc nghiên cứu toàn bộ PTSX TBCN, C.Mác phát hiện ra rằng: việc tách những người sản xuất nhỏ khỏi TLSX bằng bạo lực là khởi điểm của sự xác lập PTSX TBCN.

- Thông qua tác phẩm bộ Tư bản, C. Mác và P.Ăngghen đã trình bày một cách hệ thống các quy luật vận động và phát triển của xã hội, cho thấy sự vận động và phát triển ấy là một quá trình lịch sử tự nhiên thông qua sự tác động biện chứng giữa LLSX và QHSX; giữa CSHT và KTTT. Lý luận hình thái kinh tế - xã hội đã làm cho chủ nghĩa duy vật lịch sử không còn là một giả thuyết mà là một nguyên lý đã được chứng minh một cách khoa học.

- Tư tưởng duy vật về lịch sử, về cách mạng vô sản tiếp tục được phát triển trong tác phẩm Phê phán cương lĩnh Gôta (C.Mác 1875). Trong tác phẩm này, những vấn đề về nhà nước chuyên chính vô sản, về TKQĐ lên CNXH, những giai đoạn trong quá trình xây dựng CNCS…đã được đề cập đến với tư cách là cơ sở khoa học cho lý luận cách mạng của giai cấp vô sản trong các hoạt động hướng đến tương lai.



    1. 2.3. Giai đoạn bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới

* Bối cảnh lịch sử và nhu cầu bảo vệ, phát triển chủ nghĩa Mác

- Những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, CNTB đã phát triển sang một giai đoạn mới là giai đoạn CNĐQ. Bản chất bóc lột và thống trị của CNTB ngày càng bộc lộ rõ; mâu thuẫn trong lòng xã hội tư bản ngày càng sâu sắc mà điển hình là mâu thuẫn giai cấp giữa vô sản và tư sản. Ở các nước thuộc địa, cuộc đấu tranh chống CNĐQ tạo nên sự thống nhất giữa cách mạng giải phóng dân tộc với cách mạng vô sản, giữa nhân dân các nước thuộc địa với giai cấp công nhân ở các nước chính quốc mà trung tâm là ở nước Nga.

- Trong giai đoạn này cùng với sự phát triển của nền đại công nghiệp TBCN là sự phát triển mạnh mẽ của khoa học tự nhiên. Bên cạnh đó, một số nhà khoa học rơi vào tình trạng khủng hoảng thế giới quan, làm cho chủ nghĩa duy tâm lợi dụng gây ảnh hưởng đến nhận thức và hành động của các phong trào cách mạng.

- Đây là thời kỳ chủ nghĩa Mác được truyền bá rộng rãi vào nước Nga. Để bảo vệ địa vị và lợi ích của giai cấp tư sản, những trào lưu tư tưởng như chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán, chủ nghĩa thực dụng ….đã mang danh đổi mới chủ nghĩa Mác để xuyên tạc và phủ nhận nó.

=> Trong bối cảnh như vậy, nhu cầu phải khái quát những thành tựu khoa học tự nhiên để rút ra những kết luận về thế giới quan và phương pháp luận, phải thực hiện cuộc đấu tranh lý luận để chống sự xuyên tạc và phát triển chủ nghĩa Mác đã được thực tiễn ở nước Nga đặt ra.

* Vai trò của V.I.Lênin đối với việc bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác trong điều kiện lịch sử mới

Quá trình V.I.Lênin bảo vệ và phát triển chủ nghĩa Mác có thể chia thành ba thời kỳ:

- Những năm 1893 - 1907 là những năm V.I.Lênin tập trung chống phái dân tuý. Lênin đưa ra nhiều tư tưởng về tầm quan trọng của lý luận, của thực tiễn và mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn, đề cập nhiều đến vấn đề đấu tranh kinh tế, đấu tranh chính trị, đấu tranh tư tưởng và đặc biệt là nhấn mạnh đến quá trình hình thành hệ tư tưởng của giai cấp vô sản.

- Những năm 1907 - 1917 là những năm vật lý học có cuộc khủng hoảng về thế giới quan làm xuất hiện nhiều tư tưởng duy tâm phủ nhận chủ nghĩa Mác. Trước tình hình đó, V.I.Lênin đã tổng kết toàn bộ thành tựu khoa học tự nhiên, tổng kết những sự kiện lịch sử để viết tác phẩm Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa kinh nghiệm phê phán (1909) không chỉ bảo vệ thành công mà còn phát triển chủ nghĩa Mác lên tầm cao mới.

- Cách mạng tháng 10 Nga năm1917 thành công đã mở ra một thời đại mới - thời đại quá độ lên CNXH trên phạm vi toàn cầu

Với những cống hiến to lớn ở trên cả 3 bộ phận cấu thành chủ nghĩa Mác, tên tuổi của V.I.Lênin đã gắn liền với chủ nghĩa này, đánh dấu bước phát triển toàn diện của chủ nghĩa Mác thành chủ nghĩa Mác - Lênin.



    1. 2.4. Chủ nghĩa Mác - Lênin và thực tiễn phong trào cách mạng thế giới

- Chủ nghĩa Mác - Lênin ra đời đã ảnh hưởng lớn đến phong trào cộng sản và công nhân quốc tế. Năm 1917, cách mạng XHCN của giai cấp vô sản thắng lợi mở ra kỷ nguyên mới cho nhân loại, chứng minh tính hiện thực của chủ nghĩa Mác - Lênin trong lịch sử để hình thành nên cộng đồng các nước XHCN, làm cho CNTB không còn là hệ thống duy nhất trên thế giới.

- Điều đó đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của GCCN toàn thế giới, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân các nước thuộc địa.



I. Đối tượng, mục đích và yêu cầu về phương pháp học tập, nghiên cứu môn học "Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin"

    1. Đối tượng, mục đích của việc học tập, nghiên cứu

- Đối tượng của môn học là những quan điểm cơ bản, nền tảng của chủ nghĩa Mác - Lênin trong phạm vi ba bộ phận lý luận cấu thành nó.

+ Trong phạm vi lý luận Triết học của chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là những nguyên lý cơ bản về thế giới quan và phương pháp luận chung nhất.

+ Trong phạm vi lý luận KTCT của chủ nghĩa Mác - Lênin, đó là học thuyết giá trị; học thuyết giá trị thặng dư; học thuyết về CNTB độc quyền và CNTB độc quyền nhà nước; khái quát những quy luật kinh tế cơ bản của PTSX TBCN từ khi hình thành cho đến giai đoạn phát triển cao của nó.

+ Trong phạm vi lý luận CNXH khoa học, đó là sứ mệnh lịch sử của GCCN và tiến trình cách mạng XHCN; phản ánh các quy luật kinh tế, chính trị xã hội của quá trình hình thành, phát triển HTKTXH CSCN và những định hướng cho hoạt động của GCCN trong quá trình thực hiện sứ mệnh lịch sử của mình.

- Mục đích: giúp cho người học

+ Nắm vững những quan điểm khoa học, cách mạng, nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lênin

+ Hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của ĐCSVN, nền tảng tư tưởng của Đảng

+ Xây dựng thế giới quan, phương pháp luận khoa học, nhân sinh quan cách mạng, xây dựng niềm tin và lý tưởng cách mạng

+ Vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin trong hoạt động nhận thức và thực tiễn, trong rèn luyện và tu dưỡng đạo đức, đáp ứng yêu cầu của con người Việt Nam trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc và xây dựng thành công CNXH.

2. Một số yêu cầu cơ bản về phương pháp học tập, nghiên cứu

Khi học tập, nghiên cứu Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác- Lênin phải đảm bảo một số yêu cầu sau:

- Những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin được thể hiện trong những bối cảnh khác nhau nên hình thức thể hiện cũng khác nhau. Vì thế, cần phải hiểu đúng tinh thần, thực chất của chủ nghĩa Mác - Lênin ; tránh bệnh kinh viện, giáo điều trong quá trình học tập, nghiên cứu và vận dụng chúng.

- Sự hình thành và phát triển những luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin là một quá trình. Vì thế học tập, nghiên cứu mỗi luận điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin phải đặt trong mối liên hệ với các luận điểm khác, các bộ phận cấu thành để thấy tính thống nhất, đa dạng và nhất quán của chủ nghĩa Mác - Lênin.

- Học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để hiểu rõ cơ sở lý luận quan trọng nhất của Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối cách mạng của ĐCSVN, nền tảng tư tưởng của Đảng, gắn vào thực tiễn cách mạng Việt Nam và của thời đại để thấy được sự vận dụng một cách sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

- Học tập, nghiên cứu những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin để đáp ứng những yêu cầu của con người Việt Nam trong giai đoạn mới.

- Chủ nghĩa Mác - Lênin không phải là hệ thống khép kín mà đó là hệ thống lý luận không ngừng phát triển trên cơ sở phát triển của thời đại.

PHẦN THỨ NHẤT

THẾ GIỚI QUAN VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN TRIẾT HỌC CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN

CHƯƠNG I

CHỦ NGHĨA DUY VẬT BIỆN CHỨNG

I. Chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy vật biện chứng

1. Sự đối lập giữa CNDV với CNDT trong việc giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học

- Tổng kết toàn bộ lịch sử Triết học, đặc biệt là Triết học cổ điển Đức, Ăngghen khái quát: “ Vấn đề cơ bản lớn của Triết học, đặc biệt là triết học hiện đại, là mối quan hệ giữa tư duy và tồn tại”; giữa ý thức và vật chất, giữa tinh thần và giới tự nhiên.

- Vấn đề cơ bản của triết học được phân tích trên hai mặt: + Thứ nhất: Giữa ý thức và vật chất thì cái nào có trước, cái nào có sau, cái nào quyết định cái nào?

+ Thứ hai: Con người có khả năng nhận thức được thế giới hay không?

- Việc giải quyết vấn đề cơ bản của Triết học là xuất phát điểm của các trường phái lớn: CNDV và CNDT; khả tri luận và bất khả tri luận. Ngoài ra còn có chủ nghĩa nhị nguyên và hoài nghi luận.

+ CNDV là trường phái Triết học xuất phát từ quan điểm: bản chất của thế giới là vật chất; vật chất là tính thứ nhất, ý thức là tính thứ hai; vật chất có trước và quyết định ý thức.



+ CNDT là trường phái triết học xuất phát từ quan điểm: bản chất thế giới là ý thức; ý thức là tính thứ nhất, vật chất là tính thứ hai; ý thức có trước và quyết định vật chất.

CNDT có hai hình thức cơ bản là CNDT chủ quan và CNDT khách quan. CNDT chủ quan thừa nhận tính thứ nhất của ý thức con người. Trong khi phủ nhận sự tồn tại khách quan của hiện thực, CNDT chủ quan khẳng định mọi sự vật hiện tượng chỉ là sự phức hợp những cảm giác của cá nhân. CNDT khách quan cũng thừa nhận tính thứ nhất của ý thức nhưng ý thức được quan niệm là tinh thần khách quan,ý thức khách quan có trước và độc lập với ý thức con người



2. CNDV biện chứng-hình thức phát triển cao nhất của CNDV

- CNDV chất phác là kết quả nhận thức của các nhà Triết học duy vật thời cổ đại, đồng nhất vật chất với một hay một số chất cụ thể, coi đó là thực thể đầu tiên, là bản nguyên của vũ trụ. Nhận thức còn mang nặng tính trực quan nên những kết luận của họ về thế giới còn ngây thơ, chất phác. Tuy nhiên nó đã lấy giới tự nhiên để giải thích giới tự nhiên chứ không dựa vào thần linh, thượng đế.

- CNDV siêu hình là hình thức cơ bản thứ hai của CNDV thể hiện khá rõ từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII và đạt đỉnh cao vào thế kỷ XIX. Nhận thức thế giới như một cỗ máy khổng lồ mà mỗi bộ phận cấu tạo nên cỗ máy tồn tại biệt lập với nhau, nếu có biến đổi thì đó chỉ là sự tăng giảm đơn thuần về lượng.

- CNDV biện chứng là hình thức cơ bản thứ ba của CNDV do C.Mác và P.Ăngghen bắt đầu xây dựng từ những năm 40 của thế kỷ XIX sau đó được V.I.Lênin và những người kế tục ông bảo vệ và phát triển. Trên cơ sở phản ánh đúng hiện thực khách quan trong mối liên hệ phổ biến và sự phát triển, CNDV biện chứng đã cung cấp công cụ vĩ đại cho hoạt động nhận thức khoa học và thực tiễn cách mạng.



II. Quan điểm của CNDV biện chứng về vật chất, ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức

1. Vật chất

1.1. Phạm trù vật chất

* Khái quát quan niệm của chủ nghĩa duy vật trước C. Mác về vật chất

- Theo quan điểm của CNDT quan niệm bản chất thế giới, cơ sở của mọi sự tồn tại là bản nguyên tinh thần, là ý chí thượng đế, là “ý niệm tuyệt đối nào đó”.…còn vật chất là sản phẩm của bản nguyên tinh thần

- Theo quan điểm của CNDV thì bản chất của thế giới là vật chất - cái tồn tại vĩnh viễn tạo nên mọi sự vật hiện tượng cùng với những thuộc tính của chúng.

- Trước khi CNDV biện chứng ra đời, các nhà Triết học duy vật quan niệm vật chất là một hay một số chất tự có, đầu tiên, sản sinh ra vũ trụ. Tức là họ đồng nhất vật chất với vật thể dẫn đến không hiểu được bản chất của các hiện tượng ý thức cũng như mối quan hệ giữa vật chất và ý thức; không có cơ sở để xác định biểu hiện của vật chất trong đời sống xã hội cho nên không có cơ sở để đứng trên quan điểm duy vật khi giải quyết các vấn đề xã hội.

- Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, với sự phát triển của khoa học - tự nhiên đã bác bỏ quan điểm của các nhà duy vật về những chất được coi là giới hạn tột cùng, dẫn tới cuộc khủng hoảng về thế giới quan nghiên cứu. Từ đó CNDT lợi dụng để khẳng định bản chất “phi vật chất” của thế giới, khẳng định vai trò của các lực lượng siêu nhiên đối với quá trình sáng tạo ra thế giới.

* Định nghĩa của Lênin về vật chất, những nội dung cơ bản và ý nghĩa của nó

Lênin đã đưa ra một định nghĩa khoa học về phạm trù vật chất như sau: “Vật chất là một phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta sao chép lại, chụp lại, phản ánh, và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.

- Theo định nghĩa V.I.Lênin về vật chất:

+ Cần phân biệt vật chất với tư cách là phạm trù Triết học với những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. Không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng biểu hiện cụ thể của vật chất.Vật chất với tư cách là phạm trù Triết học là kết quả của sự khái quát hoá, trừu tượng hoá những thuộc tính, những mối liên hệ vốn có của các sự vật; phản ánh cái chung, vô hạn, vô tận, không sinh ra không mất đi.

+ Đặc trưng quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, tức là tồn tại ngoài ý thức, độc lập và không phụ thuộc vào ý thức của con người.

+ Vật chất là cái có thể gây nên cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hoặc gián tiếp tác động đến giác quan của con người; Ý thức là sự phản ánh đối với vật chất,còn vật chất là cái được ý thức phản ánh.

- Ý nghĩa định nghĩa vật chất của V.I.Lênin:

+ Việc tìm ra thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thuộc tính khách quan, V.I.Lênin đã phân biệt sự khác nhau giữa vật chất và vật thể, khắc phục được hạn chế trong quan niệm về vật chất của CNDV cũ và CNDT

+ Không những khẳng định tính thứ nhất của vật chất, tính thứ hai của ý thức mà còn khẳng định khả năng con người có thể nhận thức được thực tại khách quan qua sự “chép lại, chụp lại, phản ánh” của con người đối với thực tại khách quan.

1.2. Phương thức và hình thức tồn tại của vật chất

* Vận động là phương thức tồn tại của vật chất

Ph.Ăngghen định nghĩa: "Vận động, hiểu theo nghĩa chung nhất, - tức được hiểu là một phương thức tồn tại của vật chất, là một thuộc tính cố hữu của vật chất, - thì bao gồm tất cả mọi sự thay đổi và mọi quá trình diễn ra trong vũ trụ, kể từ sự thay đổi vị trí đơn giản cho đến tư duy".

Ăngghen chia vận động thành 5 hình thức cơ bản: vận động cơ giới (sự di chuyển vị trí của các vật thể trong không gian); vận động vật lý (vận động của các phân tử, điện tử, các hạt cơ bản, các quá trình nhiệt, điện...); vận động hoá học (sự biến đổi các chất vô cơ, hữu cơ trong những quá trình hoá hợp và phân giải); vận động sinh vật (sự biến đổi các cơ thể sống, biến thái cấu trúc gen...); vận động xã hội (sự biến đổi trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá... của đời sống xã hội).

Các hình thức vận động trên được sắp xếp thư tự từ thấp đến cao, hình thức vận động cao xuất hiện trên cơ sở hình thức vận động thấp. Mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi hình thức vận động cao nhất mà nó có. Vận động là tuyệt đối, là vĩnh viễn.

Đứng im là tương đối, tạm thời vì đứng im, cân bằng chỉ xảy ra trong một số quan hệ nhất định chứ không xảy ra với mọi quan hệ; trong một hình thức vận động chứ không phải trong mọi hình thức vận động; chỉ tồn tại trong một thời gian nhất định.

* Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất

Không gian là nói đến vị trí, độ dài quảng tính (chiều cao, chiều rộng, chiều dài) và tồn tại trong mối tương quan nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái...). Thời gian là xét đến quá trình biến đổi: nhanh hay chậm, kế tiếp và chuyển hoá... Không gian và thời gian có tính khách quan, tính vĩnh cữu, tính vô tận và vô hạn.



1.3. Tính thống nhất vật chất của thế giới

CNDVBC khẳng định: bản chất của thế giới là vật chất, thế giới thống nhất ở tính vật chất của nó. Nghĩa là:

- Chỉ có một thế giới duy nhất là thế giới vật chất.

- Thế giới vật chất tồn tại vĩnh viễn, vô tận, vô hạn, không được sinh ra và không bị mất đi.

- Mọi tồn tại của thế giới vật chất đều có mối liên hệ khách quan, thống nhất với nhau.

2. Ý thức

2.1. Nguồn gốc của ý thức

- Nguồn gốc tự nhiên của ý thức: thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ óc đó cùng mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo.

+ Về bộ óc người: ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, là kết quả hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc.

+ Về mối quan hệ giữa con người với thế giới khách quan tạo ra quá trình phản ánh năng động, sáng tạo: thông quá hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc người, hình thành nên quá trình phản ánh.

+ Phản ánh là sự tái tạo những đặc điểm của dạng vật chất này ở dạng vật chất khác trong quá trình tác động lẫn nhau giữa chúng.

Phản ánh là thuộc tính của tất cả các dạng vật chất song phản ánh được thể hiện dưới nhiều hình thức: phản ánh vật lý, hoá học; phản ánh sinh học; phản ánh tâm lý và phản ánh năng động, sáng tạo (phản ánh ý thức)

Phản ánh vật lý, hoá học là hình thức thấp nhất, đặc trưng cho vật chất vô sinh, thể hiện qua những biến đổi về cơ, lý, hoá khi có sự tác động lẫn nhau giữa các dạng vật chất vô sinh => phản ánh mang tính thụ động, chưa có định hướng.

Phản ánh sinh học là hình thức phản ánh cao hơn, đặc trưng cho tự nhiên hữu sinh, thể hiện qua tính kích thích, tính cảm ứng, phản xạ…khi có sự tác động từ bên ngoài môi trường lên cơ thể sống.

Phản ánh tâm lý là phản ánh của động vật có hệ thần kinh trung ương được thực hiện trên cơ sở điều khiển của hệ thần kinh qua cơ chế phản xạ có điều kiện.

Phản ánh năng động sáng tạo là hình thức phản ánh cao nhất trong các hình thức phản ánh, nó chỉ được thực hiện ở dạng vật chất phát triển cao nhất, có tổ chức cao nhất là bộ óc người. Đây là sự phản ánh có tính chủ động,lựa chọn thông tin, xử lý thông tin, tạo ra những thông tin mới, phát hiện ý nghĩa của thông tin.

- Nguồn gốc xã hội của ý thức: bao gồm lao động và ngôn ngữ, chúng vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề cho sự ra đời của ý thức

+ Lao động: là quá trình con người sử dụng công cụ tác động vào giới tự nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người; là quá trình trong đó bản thân con người đóng vai trò môi giới, điều tiết sự trao đổi vật chất giữa mình với tự nhiên

Trong quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động.… của nó, biểu hiện thành những hiện tượng nhất định mà con người có thể quan sát được. Từ đó thông qua các giác quan, tác động vào bộ não người, tạo ra khả năng hình thành nên những tri thức nói riêng và ý thức nói chung. Tức là, sự ra đời của ý thức chủ yếu do hoạt động cải tạo thế giới khách quan thông qua quá trình lao động.

+ Ngôn ngữ: là hệ thống tín hiệu, vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung ý thức.

Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động, thông qua lao động, ngôn ngữ hình thành và phát triển. Nhờ ngôn ngữ con người giao tiếp, đúc kết thực tiễn…từ thế hệ này sang thế hệ khác.

=> Nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất cho sự ra đời và phát triển của ý thức là lao động, sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn ngữ.



2.2. Bản chất và kết cấu của ý thức

* Bản chất của ý thức

Ý thức là sự phản ánh năng động, sáng tạo thế giới khách quan vào bộ óc con người; là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.

- Tính chất năng động và sáng tạo của sự phản ánh ý thức được thể hiện ở khả năng hoạt động tâm - sinh lý của con người trong việc định hướng tiếp nhận thông tin, chọn lọc thông tin….Ngoài ra nó còn thể hiện ở quá trình con người tạo ra những giả tưởng, huyền thoại…trong đời sống tinh thần hoặc khái quát bản chất, quy luật khách quan, xây dựng các mô hình….

- Ý thức là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan tức là ý thức là hình ảnh về thế giới khách quan nhưng không còn y nguyên như thế giới khách quan mà đã cải biến thông qua lăng kính chủ quan của con người.

- Ý thức là một hiện tượng xã hội và mang bản chất xã hội. Sự ra đời và tồn tại của ý thức gắn liền với hoạt động thực tiễn. Do đó ý thức đã sáng tạo lại hiện thực theo nhu cầu của thực tiễn xã hội.

* Kết cấu của ý thức

Ý thức có kết cấu cực kỳ phức tạp. Với cách tiếp cận ý thức theo các yếu tố cơ bản nhất hợp thành, ý thức bao gồm: tri thức, tình cảm và ý chí (trong đó tri thức là yếu tố cơ bản nhất) ngoài ra còn có thể bao gồm nhiều yếu tố khác.

- Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình nhận thức,là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng được nhận thức dưới dạng các loại ngôn ngữ.

- Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các quan hệ, được hình thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi nhận sự tác động của ngoại cảnh.

- Ý chí là khả năng huy động sứ mạnh bản thân để vượt qua những cản trở trong quá trình thực hiện mục đích của con người, là quyền lực của con người đối với mình, nó điều khiển, điều chỉnh hành vi để con người hướng đến mục đích một cách tự giác, làm chủ bản thân và quyết đoán trong hành động…

=> Các yếu tố tạo thành ý thức có quan hệ biện chứng với nhau, song tri thức là yếu tố quan trọng nhất; là phương thức tồn tại của ý thức, đồng thời là nhân tố định hướng đối với sự phát triển và quyết định mức độ biểu hiện của các yếu tố khác.





  1   2   3   4   5   6   7   8   9


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương