Đông Phương Huyền Bí



tải về 1.6 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu16.10.2017
Kích1.6 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7
Đông Phương Huyền Bí


Nguyễn Hữu Kiệt dịch,

Nguyễn Minh Tiến hiệu đính

---o0o---

Nguồn

http://www.rongmotamhon.net

Chuyển sang ebook 20-11-2014

Người thực hiện :

Nguyễn Ngọc Thảo - thao_ksd@yahoo.com.vn

Nam Thiên - namthien@gmail.com

Link Audio Tại Website http://www.phapthihoi.org
Mục Lục

---o0o---

LỜI TÁC GIẢ
Trong những tác phẩm nói về đời sống ở Ấn Độ, thường có một khía cạnh mơ hồ mà tôi xin cố gắng giải thích để quí vị độc giả được am tường. Những du khách xưa và nay đi du lịch bên Ấn Độ trở về đều có tường thuật những chuyện lạ lùng về các nhà đạo sĩ (yogi) hay thuật sĩ (fakir) của xứ ấy. Những câu chuyện mà chúng ta vẫn nghe quen tai về hạng người bí mật, thường được gọi là đạo sĩ hay thuật sĩ đó, có chứa đựng một phần nào sự thật chăng? Và có bao nhiêu sự thật ẩn giấu sau những truyền thuyết cho rằng có một nền minh triết cổ truyền của Ấn Độ có thể đem đến cho hành giả sự phát triển quyền năng đến một mức độ phi thường? 

Để biết rõ sự thật về những điều này, tôi đã thực hiện một cuộc viễn du dài hạn, và những trang sách này là tóm tắt những kết quả điều tra sưu tầm của tôi. Tôi nói “tóm tắt”, là vì sự giới hạn của thời gian và không gian bắt buộc tôi chỉ ghi chép những tài liệu về một vài người đạo sĩ (yogi) tiêu biểu và điển hình trong số những người đặc biệt mà tôi chú ý nhất và có thể khêu gợi sự tò mò thích thú của thế giới Tây phương. Các bạn thử nghĩ xem: Bạn nghe nói về một đạo sĩ chân tu, nổi tiếng là có một sự minh triết thâm sâu và những quyền năng lạ lùng. Để mong gặp họ, bạn liền ra đi, bạn trải qua những ngày nóng như thiêu và những đêm mệt nhọc vì mất ngủ. Khi đến nơi, rốt cuộc bạn chỉ thấy toàn những kẻ mê tín dị đoan, những người nô lệ kinh sách, miệng nói lưu loát nhưng chẳng hiểu gì cả; những người ấy sẽ làm cho độc giả mất thời giờ vô ích, và đối với tôi đó là một việc làm không hứng thú. Vì thế, tôi đã loại bỏ những chuyện đó ra ngoài. 

Tôi có thể nói một cách khiêm tốn rằng tôi đã được cái hân hạnh khám phá một trong những khía cạnh của xứ Ấn Độ mà ít người du khách được thấy và hiểu rõ. Trong số những người Âu Tây đến xứ này, thử hỏi có được bao nhiêu người đã chịu tìm hiểu cái khía cạnh đó? Và trong cái thiểu số đó, cũng chỉ có rất ít người có đủ tự do sống len lỏi chung chạ trong đám bình dân để xem xét một cách tỉ mỉ và tường thuật lại một cách rõ ràng, bởi vì họ luôn muốn giữ gìn phẩm cách của họ đối với người bản xứ mà họ cho là thấp hèn. Vì thế mà những văn sĩ Âu Tây đã từng viết về vấn đề này đều bị ngăn cách với những nguồn tài liệu bản xứ, và làm cho những người Ấn Độ hiểu biết thâm sâu về vấn đề ấy phải lánh mặt không chịu đàm luận với họ. 

Kết quả của sự kiện trên là người da trắng thường chỉ có sự hiểu biết rất thiếu sót về các nhà đạo sĩ yogi và nếu họ có được biết về một vài người, thì chắc chắn rằng đó không phải là những người đạo sĩ chân tu thượng thặng. Những người này chỉ muốn ẩn mình đối với kẻ thế gian phàm tục và thường làm ra vẻ như người ngu xuẩn. Ở Ấn Độ cũng như Tây Tạng, Trung Hoa, họ xô đuổi những du khách Tây phương đường đột đến nơi ẩn trú của họ bằng cách cố ý khoác lấy một vẻ mặt ngu si đần độn. 

Có lẽ họ sẽ hiểu rõ hơn chúng ta, nếu họ biết được câu phương châm bất hủ củaEmerson: “Làm bậc vĩ nhân, tất sẽ bị hiểu lầm.” (Tre grand, c’est tre mai compris). Dầu sao, đó là những người ẩn sĩ, không thích sống chung lộn với người đời. Dầu cho họ có tiếp xúc với người thế gian, họ cũng không bao giờ từ bỏ thái độ dè dặt kín đáo, trừ phi đã sau một thời gian quen biết lâu dài. Chính bởi đó mà ở phương Tây chỉ có rất ít tài liệu sách vở được ghi chép về đời sống lạ lùng của những đạo sĩ yogi, và chính những tài liệu ít oi đó cũng hãy còn rất mập mờ và thiếu sót. 

Người ta có thể tìm thấy những sách vở tài liệu của những văn sĩ Ấn Độ, nhưng ta nên đọc những sách vở này một cách thận trọng. Thật là một điều đáng tiếc mà nhận thấy rằng người Ấn Độ thiếu óc phê bình sáng suốt về những vấn đề này và thường không phân biệt sự đồn đãi với những điều có thật. Bởi vậy, những tài liệu họ ghi chép bị giảm giá trị rất nhiều. 

Khi tôi nhận thấy nhiều người phương Đông bị tấm màn mê tín làm cho thiếu sáng suốt, tôi lấy làm cám ơn cuộc đời đã cho tôi có được một sự đào luyện trí tuệ theo phương pháp khoa học Âu Tây và có được một thái độ hợp lý của người làm nghề viết báo. Trong những điều mê tín dị đoan của phương Đông có ẩn giấu tiềm tàng một phần nào sự thật, nhưng người ta không thể khám phá ra sự thật này nếu không có một sự cảnh giác thường xuyên. 

Bất cứ chỗ nào tôi đi đến, tôi vẫn luôn duy trì một sự phê phán khách quan và chặt chẽ, nhưng hoàn toàn không có định kiến chống báng hay thù nghịch. Có người khi biết rằng ngoài sự khảo cứu triết học tôi còn thích sưu tầm những điều thần bí, nhiệm mầu, thì họ liền vẽ vời tô điểm những câu chuyện tầm thường của họ với một lớp sơn phết lòe loẹt. Có lúc tôi đã nghĩ tôi có thể dạy cho họ biết rằng sự thật vốn đủ sức đứng vững trên hai chân mà không cần đến những lớp sơn phết bóng bẩy của họ, nhưng tôi không có thì giờ. 

Tuy nhiên, tôi cũng lấy làm hài lòng mà có dịp học hỏi về những điều huyền bí của Đông phương ở ngay tại chỗ. Trong một khối vô cùng hỗn độn và phức tạp gồm rất nhiều những chuyện thần thoại ly kỳ, tôi đã thử lục lạo tìm kiếm những gì có in dấu vết của chân lý và có thể đứng vững sau những cuộc thử thách gắt gao của phương pháp thực nghiệm khoa học. Tôi tự hào rằng có lẽ tôi đã không bao giờ làm được điều này nếu tôi không dung hòa trong cái bản chất phức tạp của tôi hai yếu tố thường vẫn luôn luôn trái ngược nhau: đó là sự hoài nghi của một bộ óc khoa học và sự nhạy cảm tâm linh. 

Tôi đề tựa quyển sách này là “Đông phương huyền bí”, vì nó nói về một xứ Ấn Độ đã từng thoát khỏi mọi sự tìm tòi trong hàng bao nhiêu ngàn năm, và được che đậy ẩn giấu một cách kín đáo đến nỗi ngày nay những gì còn sót lại cũng đang tuần tự suy vong và biệt tích. Thái độ kín đáo và bí mật của người đạo sĩ Yogi về việc giữ gìn những sự hiểu biết của họ có vẻ như ích kỷ đối với quan niệm dân chủ tự do của phương Tây hiện nay, và cũng bởi lẽ đó mà họ đã dần dần biến mất và bị mai một với lịch sử. 

Hàng ngàn người Âu sống ở Ấn Độ và có đến hàng trăm ngàn người khác đến viếng xứ ấy mỗi năm. Tuy vậy, ít có ai biết được điều gì về Ấn Độ, ngoài những viên ngọc thạch quí giá và những hạt trân châu đắt tiền mà xứ ấy cung cấp. 

Càng ít hơn nữa là những người chịu khó đi tìm những đạo sĩ của pháp mônYoga, và trong một ngàn người Âu, có lẽ không có đến một người sẵn sàng khấu đầu làm lễ trước một nhà tu sĩ khổ hạnh mình trần, da sậm, ngồi thiền ở một nơi đầy chướng ngại đến nỗi cho dù là những người có tâm hồn quảng đại và trí thức cao xa, nếu bất thình lình phải rời khỏi khu cư xá người Âu và lọt vào nơi động đá thâm u đó, cũng sẽ nhận thấy là khó lòng mà sống chung gần gũi với một yogi và thông cảm với những ý tưởng của ông ta. 

Tuy nhiên, người ta không thể trách một người Âu, dù là chuyên viên, tư chức, thương gia hay du khách, vì quá kiêu hãnh nên không thể cùng ngồi chung một chiếu với một yogi. Ngoài vấn đề giữ gìn thể diện của người da trắng, còn có vấn đề khác là hình dáng bề ngoài của những người đạo sĩ thường là dị dạng và không được hấp dẫn. Tránh xa một người như thế chắc chắn là một quyết định an toàn và hợp lý nhất. Vì thế mà thật đáng tiếc khi thấy rằng sau một thời gian nhiều năm lưu trú ở xứ này, phần nhiều người Âu trở về nước với một sự thật thà ngây ngô, không hề biết có những gì nằm phía sau cái trán phẳng lì của một nhà hiền triết Ấn Độ. 

Tôi còn nhớ buổi gặp gỡ một người đồng hương dưới bóng mát của pháo đài lớn xây trên đồi tại tỉnh Tiruchi. Anh ta giữ một chức vụ quan trọng trong ngành hỏa xa Ấn Độ đã hơn hai mươi năm. Lẽ tự nhiên, tôi hỏi thăm anh ta về đời sống ở xứ này. Sau cùng tôi hỏi một câu đã quen miệng: 

– Anh từng gặp các yogi chưa? 

Anh ta nhìn tôi bằng cặp mắt vô tư và hỏi lại: 

– Yogi ư? Con gì vậy? Anh muốn nói đến một loại thú rừng chăng? 

Một sự ngờ nghệch như thế có thể tha thứ được đối với một người chỉ quanh quẩn ở xó nhà và chưa từng đi ra khỏi tầm tiếng chuông nhà thờ Sainte Marie le Bow, nhưng là sau hai mươi sáu năm lưu trú ở Ấn Độ thì đó quả thật là một điều hi hữu! 

Sở dĩ tôi có thể viết được thiên phóng sự này là vì tôi đã biết gạt bỏ sang bên lòng tự kiêu của người da trắng khi tôi sống chung đụng với mọi sắc dân của xứ Ấn Độ; vì tôi đã tiếp xúc với họ trong một tinh thần cảm thông, cởi mở và gạt bỏ mọi thành kiến; và sau cùng là vì tôi đã suốt đời đi tìm chân lý và sẵn sàng chấp nhận những gì xảy đến cho tôi. 

Tôi đã phải vạch một con đường đi xuyên qua những đám rừng người dị đoan mê tín, những thuật sĩ giả mạo bịp đời, để có thể ngồi dưới chân của những bậc hiền triết chân tu, và trực tiếp lắng tai nghe những lời dạy chân chính về khoa pháp môn yoga Ấn Độ. 

Tôi đã từng ngồi xếp bằng dưới đất trong những đạo viện hẻo lánh thâm nghiêm, giữa những người bản xứ màu da sậm và nói những thổ ngữ lạ lùng. Tôi đã từng đi tìm những nhà tu sĩ ẩn dật, lánh đời, những bậc yogi thượng đẳng, để lắng tai nghe một cách khiêm tốn những lời dạy khẩu truyền của họ. Tôi đã từng đàm luận suốt nhiều giờ với những nhà bác học Bà-la-môn ở thành Bénarès về những vấn đề triết học thâm sâu và cổ kính, đã từng giày vò khối óc và quả tim của con người kể từ khi mới bắt đầu biết ngẫm nghĩ suy tư. Thỉnh thoảng tôi cũng đã dừng chân để giải trí bên cạnh những vị pháp sư, phù thủy chuyên làm những phép thuật kỳ dị, và tôi đã từng chứng kiến nhiều việc lạ lùng. 

Như đã nói trên, tôi muốn ghi chép những sự việc có thật về những người yogithời nay bằng phương pháp điều tra tại chỗ. Tôi cũng tự hào rằng kinh nghiệm trong nghề làm báo đã giúp tôi gom góp được nhiều tài liệu trong một thời gian ngắn; và thói quen cầm cây bút chì xanh ngồi sửa bài trong một văn phòng tòa soạn đã đào luyện cho tôi một khối óc phê phán chặt chẽ và xác đáng để phân biệt ngọc đá, vàng thau. Sự tiếp xúc với mọi hạng người trong xã hội mà nghề nghiệp phóng viên bắt buộc, gồm cả các giới nam nữ, kẻ sang người hèn, kẻ cùng đinh chí đến nhà triệu phú, đã giúp tôi biết cách đi đứng len lỏi dễ dàng giữa những đám quần chúng đông đảo và phức tạp của xã hội Ấn Độ để lục lạo tiếp xúc với những người bí mật lạ lùng mà người ta gọi là yogi

Mặt khác, tôi đã từng có một đời sống nội tâm hoàn toàn cách biệt với sự sinh hoạt hằng ngày. Tôi đã dành nhiều thời giờ để khảo cứu những sách vở về khoa huyền môn và thám hiểm những ngõ ngách khó khăn của khoa tâm lý. Tôi đã từng vùi đầu vào những vấn đề xưa nay vẫn được bao trùm trong một tấm màn bí mật hoàn toàn. Thêm vào đó là một sự thích thú tự nhiên đối với những gì thuộc về Đông phương. 

Trước cuộc du hành đầu tiên của tôi, phương Đông đã xâm chiếm tâm hồn tôi với một sự hấp dẫn vô cùng mạnh mẽ. Về sau, tôi quay sang việc khảo cứu các kinh điển của Á châu, nghiền ngẫm về những lời bình luận sâu xa của các nhà bác học và những tư tưởng siêu việt của các nhà hiền triết Đông phương mỗi khi tôi tìm được những bản dịch Anh ngữ. 

Hai thứ kinh nghiệm sóng đôi trên đây đã tỏ ra rất hữu ích cho công việc tìm tòi của tôi. Nhờ đó, tôi không bao giờ để cho sự thiện cảm của tôi đối với các vấn đề Đông phương làm thiên lệch óc phê bình và xét đoán khoa học trong công việc điều tra sưu tầm. Nhưng nếu không có mối thiện cảm nói trên thì không bao giờ tôi có thể sống chung đụng với dân bản xứ và len lỏi vào những nơi bình dân mà một người Âu bình thường không thèm đi đến. Còn nếu không có một khối óc phê bình chặt chẽ và lý luận khoa học, tôi đã có thể bị lạc vào đám rừng hỗn độn của sự mê tín dị đoan, mà điều này dường như có nhiều người Ấn Độ đã mắc phải. 

Muốn dung hòa những đức tính thường được xem như là tương phản nhau thật không phải là một điều dễ dàng. Tuy nhiên, tôi vẫn luôn luôn cố gắng gìn giữ những đức tánh đó trên một thế quân bình và hợp lý. 

Nói rằng Tây phương không có gì phải học hỏi từ xứ Ấn Độ về các phương tiện vật chất kỹ thuật, điều đó có thể không cần bàn cãi nhiều. Nhưng tôi có thể quả quyết không chút do dự rằng chúng ta có rất nhiều điều cần phải học hỏi từ những bậc hiền triết cổ Ấn Độ và một số bậc hiền giả đương thời về mặt tinh thần và đạo đức. 

Người du khách Tây phương đi một vòng viếng những thành phố lớn và những nơi cổ tích lịch sử rồi lên tàu về nước, vui lòng quay lưng từ giã một nền văn minh mà họ cho là lạc hậu, dĩ nhiên cũng có lý do trong sự nhận xét của họ. Nhưng một ngày kia chắc sẽ có một hạng du khách thông minh hơn, thay vì đi tìm tàn tích sụp đổ của những ngôi đền miếu bỏ hoang, hay cung điện cũ của những bạo chúa thời xưa nay đã mai một với lịch sử, hạng du khách này lại đi tìm những bậc hiền giả đương thời, những người có thể tiết lộ cho họ một nền minh triết không hề được giảng dạy ở các trường đại học của phương Tây. 


Phải chăng những nhà hiền triết Ấn Độ này chỉ là những kẻ vô công rỗi nghề, ngồi ngáp dài dưới ánh mặt trời nóng như thiêu của vùng nhiệt đới? Phải chăng họ chẳng làm được gì có ích cho thế gian? Người du khách nào chỉ nhìn thấy riêng khía cạnh vật chất thiếu thốn và thái độ có vẻ như tiêu cực vô vi của họ, hẳn là đã không nhìn thấy xa. Người ấy hãy thay thế sự khinh bỉ bằng một chút kính nể, quí trọng, rồi sẽ có thể làm cho những vị hiền triết ấy mở miệng và hé mở những cánh cửa bí mật, diệu huyền. 

Đành rằng xứ Ấn Độ đã ngủ im lìm trong suốt hàng bao nhiêu thế kỷ, và có hàng triệu người dân quê Ấn Độ hiện nay vẫn sống trong vòng dốt nát và dị đoan giống như tình trạng của người dân quê Anh quốc hồi thế kỷ 14. Đành rằng những nhà bác học Bà-la-môn ở những trung tâm học thuật bản xứ thường lãng phí thời giờ vô ích để chẻ sợi tóc triết lý ra làm bốn và nói chuyện siêu hình một cách vu vơ, viển vông chẳng thua gì những nhà học giả phương Tây thời Trung Cổ. Tuy nhiên, vẫn còn một ngành học thuật tuy nhỏ nhưng vô giá, được biết đến dưới cái danh từ Yoga, có thể mang đến cho nhân loại những ích lợi cũng quan trọng như tất cả những tiến bộ của khoa học Âu Tây. 

Nó có thể đem đến cho thể xác chúng ta một tình trạng sức khoẻ kiện toàn đúng theo ý muốn. Nó có thể đem đến cho nền văn minh tân tiến của chúng ta một trong những điều mà nhân loại cần đến một cách cấp bách nhất, đó là sự bình an trong tâm hồn. Và nó có thể đem đến cho người nào chịu bỏ ra một chút công phu cố gắng cần thiết những phần thưởng quí báu trên địa hạt tâm linh. 

Tôi nhìn nhận rằng sự minh triết cao cả đó dường như không phải là của xứ Ấn Độ ngày nay, mà nó thuộc về Ấn Độ của quá khứ, và ngày nay đã không cònnữa thời hưng thịnh của pháp môn Yoga, đã từng có lúc qui tụ chung quanh những bậc danh sư nhiều môn đệ xứng đáng. Tôi tự hỏi, phải chăng chính tấm màn bí mật mà người ta dùng để che đậy ẩn giấu pháp môn Yoga một cách vô cùng chặt chẽ đó đã giết chết sự phát triển mở mang của nó? 

Như thế, có lẽ cũng không phải là một điều ngốc nghếch khi yêu cầu những người phương Tây hãy quay mắt nhìn về phương Đông, không phải để tìm một tín ngưỡng mới, mà để thâu thập vài điều kiến thức mới lạ, thêm vào số vốn hiểu biết sẵn có của họ. 

Khi những nhà Đông phương học như Burnouf Colebrooke và Max Muller xuất hiện trên diễn đàn học thuật của thế giới và đem đến cho chúng ta vài nghệ phẩm văn chương kiệt tác của Ấn Độ, thì những nhà bác học Âu Châu mới bắt đầu hiểu rằng những dân tộc “dị giáo” ở xứ ấy không phải là ngu đần như họ vẫn lầm tưởng do nơi sự dốt nát của chính họ. Những kẻ tự phụ là khôn ngoan nói rằng nền học thuật Á châu vốn trống rỗng, không có gì bổ ích cho Tây phương, ấy là họ đang tự phô bày sự trống rỗng của chính họ. Có những người tự cho là thực tế thường bảo rằng khảo cứu văn hóa Đông phương là một điều dại dột, nhưng rốt cuộc điều đó chỉ bày tỏ sự dại khờ và nông cạn của chính họ. 

Chúng ta có xứng đáng là một dân tộc văn minh chăng nếu quan niệm của chúng ta về cuộc đời lại hoàn toàn bị định đoạt bởi một sự ngẫu nhiên tình cờ, khiến cho ta sinh ra ở London thay vì ở Bombay? Những kẻ nào khép chặt trí óc đối với những tư tưởng Đông phương tức là tự khép chặt trí óc họ đối với những tư tưởng tế nhị, những chân lý uyên thâm và những sự hiểu biết sâu rộng về các vấn đề tâm linh. Người khôn ngoan hơn chịu khó tìm tòi lục lạo trong kho tàng hỗn độn cũ kỹ của Đông phương để hy vọng tìm thấy một vài viên ngọc quí, một sự kiện lạ lùng, một vài điểm minh triết quí báu, sẽ thấy rằng công phu tìm kiếm của họ rốt cùng không phải là vô ích. 

Tôi lên đường thẳng đến phương Đông để tìm những nhà đạo sĩ và khoa học huyền bí thâm sâu của họ. Tôi cũng nuôi ý nghĩ đi tìm một sự giác ngộ tâm linh và một đời sống siêu việt hơn, tuy rằng đó không phải là mục đích chính của tôi. Tôi đã từng đi dạo trên bờ những con sông linh thiêng của Ấn Độ: sông Hằng với dòng nước xám xanh chảy lờ đờ, sông Jumna rộng lớn, sông Godavari hùng vĩ và ngoạn mục. 

Tôi đi châu du khắp chốn và đã được đền đáp trọng hậu: xứ Ấn Độ đón tiếp tôi với hai tay mở rộng, ôm chặt tôi vào lòng, và những bậc hiền giả cuối cùng còn sót lại của xứ ấy đã hé mở những cánh cửa bí mật, diệu huyền trước cặp mắt vô cùng ngạc nhiên của người khách lạ Tây phương! 

Tôi có thể nói rằng, chính ở Ấn Độ mà tôi nhận thấy đức tin đã trở lại với tôi. Trước đây không lâu, tôi vẫn còn ở trong số những người xem các học thuyết tâm linh như một điều ảo tưởng, chân lý như một đám mây mù không thiết thực, và luật nhân quả, nền công lý thiêng liêng, như một sản phẩm giả tạo của những kẻ có đầu óc không tưởng, hư vô. Tôi đã phải chịu đựng một cách khốn khổ những người xây dựng cõi thiên đàng thần học, họ thản nhiên dắt bạn đi chơi một vòng trên cõi ấy, tự xem mình là những người của Thượng đế! Tôi chỉ có sự dửng dưng đối với những hành động quá khích và vô vị của những người ấy. 

Bởi vậy, nếu tôi đã bắt đầu suy nghĩ khác đi về những vấn đề đó, ấy là tôi có những lý do chính đáng. Tuy thế, tôi vẫn không theo một tín ngưỡng Á Đông nào, vì thật ra tôi đã từng khảo cứu về những vấn đề ấy từ lâu. Điều mà tôi thâu thập được, đó là một quan niệm mới về những vấn đề tâm linh. Điều này dường như chỉ là nhỏ nhặt không đáng kể và có tính cách cá nhân, nhưng đối với một con người của thế hệ hiện nay, không hề tin tưởng ở thần quyền, thì thiết tưởng đó là một kỳ công đáng kể. Đức tin vào đời sống tâm linh đã đến với tôi bằng một phương tiện độc đáo, làm hoán cải một kẻ hoài nghi, nghĩa là không phải do sự lý luận mà do một kinh nghiệm của tự thân. Và chính một bậc hiền giả trong rừng thẳm, một vị ẩn sĩ vô danh và khiêm tốn đã từng sống trong một động đá suốt sáu năm trường, đã mang lại cho tôi sự chuyển biến sâu xa và huyền diệu đó. Tôi tin rằng vị này không hề thi đỗ một cấp bằng khoa cử nào, nhưng tôi không chút hổ thẹn mà nhìn nhận nơi đây tất cả sự biết ơn sâu xa của tôi đối với ngài. 

Một xứ sở tạo ra được những con người như vậy ít nhất cũng có đủ uy tín để kêu gọi sự chú ý của những người phương Tây tự cho là thông minh, hiểu biết. Đời sống tâm linh của xứ Ấn Độ huyền bí vẫn luôn có thật và ẩn giấu dưới sự che đậy bên ngoài của những cơn giông tố ồ ạt trên trường chính trị. 


Tôi đã cố gắng ghi chép lại trong quyển sách này những chuyện có thật của nhiều bậc tu sĩ đã đạt được sức mạnh tâm linh và sự bình an trong tâm hồn, tức là những ân huệ quí báu mà người đời vẫn thường mong ước một cách tuyệt vọng! Trong sách này, tôi cũng ghi chép nhiều chuyện khác nữa, những chuyện huyền bí và lạ lùng đến nỗi có vẻ như hết sức khó tin. 

Thật thế, tôi cũng đã lấy làm ngạc nhiên về sự bạo gan của mình, khì tôi dám viết quyển sách này cho một thế giới hoài nghi và không tin tưởng. Tuy nhiên tôi không tin rằng trào lưu chạy theo vật chất trên thế giới hiện nay sẽ tồn tại mãi mãi với thời gian. Người ta đã bắt đầu nhận thấy những dấu hiệu đầu tiên của một sự tiến hóa tư tưởng trong tương lai. 

Thật ra, tôi cũng như phần đông người của thế hệ này, không hề tin tưởng nơi những phép lạ nhiệm mầu. Nhưng tôi tin rằng sự hiểu biết của chúng ta về những định luật thiên nhiên hãy còn rất thiếu sót, và tôi cũng tin rằng những nhà bác học tiền phong, hiện đang lần mò từng bước để thám hiểm lãnh vực đó, rồi sẽ có ngày khám phá được những điều mà ngày nay ta vẫn thường xem như những phép lạ nhiệm mầu. 
PAUL BRUNTON
---o0o---
CHƯƠNG 01 : ĐỊNH MỆNH
Ông giáo sư môn sử địa, tay cầm cây thước dài, bước tới trước tấm bản đồ lớn treo trên vách, trước một lớp học đang buồn ngủ. Ông ta chỉ trên bản đồ một vật lớn hình tam giác màu đỏ, mũi nhọn quay xuống đến gần đường xích đạo, và để kích thích phần nào cái tinh thần uể oải của đám học trò, ông ta nói với một giọng kéo dài và rõ ràng từng tiếng, dường như sắp sửa tiết lộ một chân lý trọng đại: 

– Người ta thường nói rằng Ấn Độ là viên ngọc quí nhất của Hoàng gia Anh quốc. 

Nghe đến đây, một người học trò với vẻ mặt suy tư đang ngồi mơ mộng, bỗng giật mình và cố gom trí óc vẩn vơ của cậu ta quay trở về thực tế giữa bốn bức vách tường lớp học. Hai chữ “Ấn Độ” có một sức hấp dẫn rất mãnh liệt, nó như khêu gợi lên trong trí cậu ta cái hình ảnh xa xăm của một xứ sở lạ lùng, huyền bí. 

Khi ông giáo sư môn toán tưởng rằng người học trò ấy đang vùi đầu chăm chỉ giải một bài toán đại số, thì có ngờ đâu rằng cậu học trò lém lỉnh ấy lại sử dụng bàn viết vào những mục đích xa xôi hơn! Nấp sau một chồng sách được xếp đặt như bát trận đồ, cậu ta say mê vẽ những đầu người quấn khăn, những gương mặt đen sạm và những chiếc tàu buồm chở đầy hàng hoá, thổ sản đầy hương vị phương Đông. 


Thời niên thiếu đã qua, nhưng lòng yêu mến xứ Ấn Độ của cậu học trò ngày xưa vẫn không thay đổi. Hơn nữa, mối quan tâm đó càng nới rộng thêm và bao gồm luôn cả châu Á với một sự ám ảnh đến cuồng nhiệt. Anh ta nuôi trong đầu những kế hoạch táo bạo. Anh ta muốn vượt biển trên muôn dặm trùng dương. Anh ta biết rằng, một khi đã lên tàu thì việc đến viếng xứ Ấn Độ chỉ còn là vấn đề thời gian. 

Mặc dầu đó chỉ là những kế hoạch suông, nhưng anh ta đã thổ lộ những ý tưởng đó cho những bạn học cùng lớp với rất nhiều danh từ thơ mộng, và sau cùng có một đứa trong bọn bị lôi cuốn theo sự hứng khởi nhiệt thành của anh ta. Cả hai bèn âm thầm bày mưu tính kế và hành động một cách bí mật. Chương trình của họ là vượt qua châu Âu bằng đường bộ, sau đó tiếp tục đi bộ vượt qua xứ Tiểu Á và Ả Rập đến hải cảng Aden

Xin quí vị độc giả đừng vội cười ! Họ tin tưởng một cách ngây thơ và hồn nhiên rằng một viên thuyền trưởng nào đó bỏ neo ở bến cảng Aden sẽ chịu nghe họ thuyết phục. Đó chắc sẽ là một người giàu lòng nghĩa hiệp và cởi mở. Ông ta sẽ cho phép họ xuống tàu, và một tuần lễ sau họ sẽ đặt chân lên xứ Ấn Độ hằng mơ ước! 

Họ âm thầm chuẩn bị một cuộc phiêu lưu dài hạn. Họ để dành tiền và sắm sửa cụ bị những đồ hành trang. Họ thăm dò bản đồ và những quyển sách du lịch chỉ nam với những trang màu mè lòe loẹt và những hình ảnh khêu gợi hấp dẫn làm cho dòng máu giang hồ phiêu lưu của họ càng tăng thêm nhiệt độ và sôi lên thành cơn sốt! 

Sau cùng, họ đã có thể định ngày ra đi và giao phó tất cả cho định mệnh. Có ai biết được sự gì đang chờ họ ở ngã ba đường? Than ôi! Bao nhiêu nghị lực và lòng sốt sắng nhiệt thành của thời niên thiếu đều lãng phí vô ích! Người đỡ đầu của anh bạn trẻ đã khám phá ra mọi việc và biết rõ tất cả mọi chi tiết của vấn đề. Những sấm sét búa rìu đều giáng xuống vào đúng lúc! Tất cả chương trình đều phải bỏ dở dang, nhưng có ai hiểu thấu nỗi khổ của hai người bạn trẻ? 

Tuy nhiên, người chủ mưu cuộc hành trình bất hạnh này vẫn giữ nguyên vẹn lòng mong ước đến viếng xứ Ấn Độ. Nếu sự mong ước đó tạm thời bị dẹp sang một bên, đó là bởi vì tuổi trưởng thành của một đời người thường đem đến biết bao nhiêu bổn phận đối với gia đình và xã hội, cùng bao nhiêu những sợi dây trói buộc, cầm chân anh ta ở lại. 

Thời gian trôi qua. Nhiều trang đã lật qua trên quyển lịch đời, trước khi một cuộc gặp gỡ bất ngờ bỗng đánh thức dậy giấc mộng đã tàn của người thanh niên ấy. 

Đó là cuộc tiếp xúc với một người ngoại quốc có gương mặt rám nắng, nước da sậm, đầu quấn khăn: khách là một người Ấn Độ từ phương xa đến! 

Người khách lạ bước vào cuộc đời tôi một cách dột ngột. Mùa thu đã hầu tàn, sương mù tỏa khắp không gian, tiết trời lạnh buốt thấm vào da thịt. Tôi cảm thấy chán nản, tuyệt vọng. Sự ngã lòng rủn chí như một cái bóng ma, bóp nát quả tim héo hắt của tôi bằng một bàn tay giá lạnh! 
Để thoát khỏi cơn ám ảnh, tôi bước vào một quán nước đèn điện rực sáng, hy vọng rằng ở nơi đây ít nhất tôi cũng sẽ tìm thấy sự dễ chịu của một gian phòng ấm áp. Nhưng tách trà nóng thường khi vẫn hiệu nghiệm thì chiều hôm ấy lại không thể đem đến sự yên tĩnh thư thái cho tâm hồn tôi. Tôi không thể thoát ra khỏi cơn ám ảnh nặng nề đang giày vò tâm trí. Phải chăng sự âu lo phiền muộn sẽ theo dõi và ám ảnh tôi suốt đời? 

Rốt cuộc, trạng thái băn khoăn đó làm cho tôi phải rời khỏi gian phòng ấm cúng mà tôi vừa bước vào. Tôi lại đi lang thang ngoài đường phố, không mục đích nhất định, nhưng theo thói quen tôi lần mò đến tiệm sách của một người bạn làm nghề bán sách cũ. 

Cửa tiệm của anh ta cũng cũ kỹ như những chồng sách bày bán bên trong. Chủ tiệm này là một nhân vật lạ lùng, một di sản còn sót lại của những thời đại đã qua. Thời đại máy móc cơ khí của chúng ta không thích hợp với tính chất của anh ta, cũng như anh ta không thể hoà mình để sống một cách hứng thú với thời đại này. Anh ta chỉ bán những loại sách quý và hiếm có, chuyên về các vấn đề siêu hình và khoa học huyền bí. Anh ta hiểu biết khá nhiều, mặc dầu chỉ là những hiểu biết về phần lý thuyết, những vấn đề khúc mắc và khó khăn của khoa triết lý. 

Thỉnh thoảng tôi hay ghé lại tiệm sách và thảo luận với anh ta về những vấn đề triết học siêu hình. Chiều hôm ấy, vừa bước vào cửa tiệm, vô tình tôi lật những trang giấy cũ đã trổ ngả sang màu vàng của một quyển sách đóng bìa da, và tôi cầm quyển sách lên để nhìn kỹ hơn vì cái tựa ngoài bìa làm cho tôi chú ý. 

Người chủ tiệm nhận thấy sự thích thú của tôi với cái nhìn thoáng qua sau cặp kính trắng. Anh ta bèn nêu ra một đề tài thảo luận đúng với nội dung quyển sách tôi đang cầm trong tay, nói về vấn đề luân hồi. Và theo cái đà của thói quen, anh ta luôn nắm ưu thế trong câu chuyện. Anh ta nói trôi chảy dễ dàng, và dường như anh ta hiểu biết tất cả mọi khía cạnh hiểm hóc của vấn đề lạ lùng này, còn hơn cả tác giả quyển sách. Thỉnh thoảng, anh ta còn dẫn chú đến những tác phẩm khác mà anh ta thuộc như lòng bàn tay. 

Bỗng nhiên, tôi nghe từ phía sau như có tiếng động. Tôi quay lại nhìn thì thấy một người dong dỏng cao xuất hiện từ trong bóng tối của phía sau nhà sách, là nơi chứa những loại sách quý hiếm. Người lạ mặt là một người Ấn Độ. Ông ta tiến đến gần chúng tôi với một dáng điệu sang trọng quí phái và nói với người chủ tiệm: 

– Xin lỗi ông nếu tôi làm phiền. Câu chuyện của các ông vừa nói làm cho tôi chú ý, vì tôi cũng rất thích vấn đế này. Tôi vừa được nghe ông kể tên những bậc triết gia cổ Hy Lạp, Ai Cập và vài vị cố đạo Gia Tô như là những người đầu tiên chủ trương thuyết luân hồi. Tôi cũng tin rằng những triết gia thời cổ đã hiểu rõ về vấn đề ấy. Nhưng các ông có biết thuyết luân hồi từ dâu mà có và nguồn gốc của nó ở đâu chăng? 

Anh ta ngừng một lúc, nhưng không để cho chúng tôi kịp nói gì, anh ta liền tiếp theo ngay với một nụ cười nhã nhặn: 


– Tôi xin phép được nói ngay: chính xứ Ấn Độ từ nghìn xưa đã phát minh ra thuyết luân hồi trước nhất. Những dân tộc bản xứ chúng tôi đã xem thuyết ấy như một chân lý căn bản từ những thời đại cổ xưa nhất trong lịch sử. 

Gương mặt của người này làm tôi chú ý. Đó là một gương mặt khác thường mà người ta có thể nhận ra ngay giữa hàng trăm người Ấn Độ khác. Cặp mắt tinh anh, một quai hàm lớn, vầng trán cao khác thường biểu lộ một sự thông minh, nước da sậm hơn mức trung bình. Đầu ông ta quấn một chiếc khăn rất đẹp, có nhận một viên ngọc quý chớp sáng trong bóng tối. Ông ta mặc một bộ Âu phục may rất khéo và hợp thời trang. Lời nói có vẻ rất tự tin của ông ta dường như không làm hài lòng người đối thoại và người chủ tiệm, đứng khuất phía sau quầy hàng, liền mở cuộc phản công: 

– Làm sao có thể như vậy được, vì vùng Cận Đông xưa kia gồm những trung tâm văn hóa phồn thịnh nhất của nền văn minh nhân loại từ trước Công nguyên. Những triết gia thông thái nhất thời cổ phải chăng đều đã xuất hiện ở những xứ thuộc vùng Cận Đông, từ Athenes đến Alexandrie? Như vậy hẳn là học thuyết của các bậc hiền triết đó đã từ phương Tây tiến về phương Đông và sau cùng được lưu truyền đến Ấn Độ. 

Người Ấn Độ mỉm cười một cách khoan dung:

– Không phải thế, thưa ông. Ngược lại, chính phương Tây đã nhận lãnh những tư tưởng triết học cao siêu nhất từ phương Đông. 

– Không thể! Đâu có lẽ nào nền văn minh tiến bộ của Tây phương lại nhận lãnh những tư tưởng triết học từ một xứ Đông phương còn lạc hậu? Không thể như vậy được, thưa ông! 

Người khách lạ đáp: 

– Vì sao lại không thể được? Ông hãy xem lại bộ sách Apuleus thì sẽ thấy rằngPythagore đã từng sang Ấn Độ học đạo với các bậc danh sư Bà-la-môn, và khi trở về nước mới bắt đầu dạy thuyết luân hồi. Đó chỉ là một trong rất nhiều bằng chứng khác. Ông nói rằng Đông phương lạc hậu ư? Hàng nghìn năm về trước, những nhà hiền triết Ấn Độ đã từng nghiền ngẫm, suy tư về những vấn đề siêu hình trừu tượng nhất, vào lúc mà người Âu châu hãy còn chưa biết gì cả về những vấn đề ấy. 

Người lạ mặt im lặng một lúc và nhìn chúng tôi một cách chăm chú, có lẽ để dò xem phản ứng của chúng tôi. Người chủ tiệm tỏ ra rất lưỡng lự phân vân. Tôi chưa hề thấy anh ta bị cạn lời và chịu khuất phục trước một kẻ đối thoại như thế bao giờ. Về phần tôi, tôi chỉ lẳng lặng nghe và không xen vào câu chuyện giữa hai người. 

Câu chuyện đến đây thình lình chấm dứt và không ai nói thêm một lời nào để phá tan sự im lặng. Người Ấn Độ chọn một quyển sách quý, trả tiền và sửa soạn ra về. Tôi nhìn theo ông ta mà không nói gì. Ra tới ngưỡng cửa, ông ta bèn dừng chân quay lại phía tôi rồi mở ví lấy ra một danh thiếp đưa cho tôi và mỉm cười nói:

– Ông có vui lòng tiếp tục câu chuyện này với tôi chăng? Nếu vậy, xin mời ông quá bộ lại chơi, chúng ta sẽ nói chuyện. 
Tôi lấy làm vô cùng ngạc nhiên và vui lòng chấp nhận. Ông ta liền mời tôi đến nhà dùng cơm ngay chiều hôm sau đó. 

Qua hôm sau, tôi vội vàng tìm đến nhà người khách lạ. Đó không phải là một việc dễ dàng, vì sương mù dày dặc đã xâm chiếm cả thành phố, làm cho đèn đuốc ngoài đường đều gần như tắt hẳn. Một nghệ sĩ có thể nhận thấy vẻ đẹp lãng mạn của thủ đô London vào cuối mùa thu trong cảnh sương mù bao phủ, nhưng với tôi thì tâm trí như mơ màng vơ vẩn đâu đâu nên không nhìn thấy gì cả và cũng không cảm thấy dễ chịu chút nào vì sự khó khăn trong khi tìm đường. 

Cuối cùng rồi tôi cũng tìm được đến nơi. Một cánh cửa lớn và nặng từ trong bóng tối thình lình hiện ra trước mắt tôi, làm cho tôi tỉnh giấc mơ và quay về thực tại. Hai ngọn đèn lồng ở hai bên cổng vào do hai cây trụ sắt uốn cong nâng đỡ, trông giống như hai cánh tay dang rộng để đón tiếp tôi. Qua khỏi cổng, vừa bước vào nhà, tôi lấy làm ngạc nhiên vì người Ấn Độ mới quen không có nói trước cho tôi biết về cảnh nhà sang trọng quý phái của ông ta. 

Tôi có cảm giác như đang bước vào một nơi cung điện của phương Đông, với cách trang trí rất lịch sự và kiểu cách. Trên vách có treo những tấm thảm thêu rồng và sàn gạch được trải bằng những tấm nệm Ấn Độ nhiều màu sặc sỡ, bàn chân bước lên trên nệm êm ái như nhung. Một tấm da cọp rất lớn đặt trên nệm ở phòng khách gần bên lò sưởi. Trong một góc phòng có một cái bàn nhỏ, trên đó có đặt một cái trang thờ bằng ngà và thếp vàng. Trên đó tôi thấy một pho tượng nhỏ, chắc hẳn là tượng Phật ngồi kiết già, gương mặt yên lặng, mí mắt chỉ hơi hé mở. 

Chủ nhà bước vào phòng và tiếp đón tôi một cách vui vẻ. Ông ta mặc một bộ dạ phục rất đẹp. Tôi nghĩ rằng một người như vậy hẳn có thể dễ dàng hoà mình với mọi giới thượng lưu trong xã hội. 

Vài phút sau, chúng tôi đã ngồi vào bàn ăn. Những món ăn toàn là cao lương mỹ vị. đó là lần đầu tiên tôi thưởng thức món ca-ri Ấn Độ, và từ đó về sau tôi vẫn không quên mùi vị đặc biệt của nó. 

Người bồi bàn dọn ăn cho chúng tôi cũng ăn mặc lịch sự. Anh ta vận một bộ đồng phục trắng, thắt lưng thêu chỉ vàng và vấn một chiếc khăn trắng tinh. Trong bữa ăn, câu chuyện không có gì đặc biệt lắm, chỉ quanh quẩn với những chủ đề thông thường. Tuy nhiên, dầu là nói về vấn đề gì, những lời nói của người Ấn Độ này vẫn luôn tỏ ra thật cứng cỏi và xác đáng. Giọng nói của ông ta mang một vẻ tự tin và dứt khoát. 

Đến lúc ăn tráng miệng và dùng cà phê, ông ta mới nói đôi chút về đời tư của mình. Ông ta có gia sản lớn, và đã từng đi du lịch nhiều nơi. Ông ta làm cho tôi thích thú khi được nghe những cảm tưởng du hành của ông ta ở Trung Hoa, và ông ta cũng đã từng lưu trú một thời gian trong một tu viện Gia Tô ở Syrie

Kế đó, ông ta mới trở lại câu chuyện chiều hôm qua ở trong tiệm sách. Nhưng chiều nay chắc hẳn là ông ta đã có những ý nghĩ khác, vì khi vừa bàn rộng thêm câu chuyện, ông ta liền bắt đầu nói về nền minh triết cổ truyền của xứ Ấn Độ. 

Những giáo lý của các bậc hiền triết Ấn Độ đã được lưu truyền sang Tây phương, nhưng trong nhiều trường hợp chánh giáo đã bị hiểu lầm hoặc có khi bị cố ý xuyên tạc. Tuy nhiên, việc ấy không phải nói ra chỉ để than phiền, bởi vì ngay chính tại xứ Ấn Độ ngày nay cũng đã có một sự suy thoái nghiêm trọng không thể phủ nhận. Nó không còn là xứ Ấn Độ cao cả thiêng liêng của thời quá khứ. Đó là một việc đáng buồn, rất đáng buồn. Người dân Ấn ngày nay vẫn còn bám víu lấy một vài lý tưởng, nhưng lại bị đầu độc bởi nhiều hơn là những điều mê tín dị đoan. Nói đến đây, tôi buột miệng hỏi: 

– Nguyên nhân nào đã gây nên tình trạng suy đồi như thế? 

Người chủ nhà im lặng. Một phút trôi qua, đôi mắt lim dim nhắm như không buồn nhìn đến ngoại cảnh, anh ta nói nhỏ bằng một giọng thì thầm dường như không muốn phá tan cái im lặng trong gian phòng: 

– Này anh bạn! Xứ Ấn Độ của tôi xưa kia có rất nhiều bậc hiền triết đã từng thấu đạt được mọi lẽ huyền vi bí ẩn của đời người. Các bậc vua chúa cũng như người dân lành đều thỉnh cầu lời dạy bảo của các ngài. Chính nhờ sự dìu dắt của các ngài mà nền văn minh Ấn Độ đã tiến lên đến cực điểm. Ngày nay, các bậc tôn sư ấy còn lại được bao nhiêu và ở những nơi nào? Còn chăng có lẽ cũng chỉ độ vài ba người, mà người đời thì không còn biết đến và không ai nhắc đến nữa. Các ngài hiện sống cách biệt với cuộc đời thế gian. Khi các bậc hiền giả đó, mà chúng tôi gọi là các đấng Rishis (hay Chân sư), không còn nữa, điều tất nhiên là nền văn hóa tâm linh của chúng tôi phải bắt đầu suy tàn. 

Ông ta ngồi dựa lưng trên ghế bành và nghiêng đầu về phía trước ngực, câu nói sau cùng được thốt ra với một giọng bi thương. Trong một lúc, ông ta ngồi lặng yên và như quên cả sự có mặt của tôi. Cả tâm hồn ông ta đắm chìm trong một cơn trầm tư mặc tưởng, như nuối tiếc một thời đại đã qua. 

Ông ta có một phong độ đặc biệt và rất hấp dẫn, khiến cho người đối thoại phải chú ý. Đôi mắt đen láy và sáng ngời biểu lộ một đời sống nội tâm dồi dào phong phú và giọng nói ấm áp biểu lộ một tâm hồn rộng rãi khoáng đạt. Tôi cảm thấy chắc chắc rằng tôi sẽ yêu mến một người như thế. 

Người bồi bàn rón rén bước vào, tiến đến bàn thờ và thắp một nén nhang. Một luồng khói xanh tỏa ra khắp phòng một mùi hương thơm dịu. Bỗng nhiên người chủ nhà ngước mặt lên và nhìn tôi vào tận mặt: 

– Phải chăng tôi vừa nói rằng hiện nay chỉ còn độ vài ba vị chân sư như thế? À, tôi đã nhớ ra rồi. Tôi đã được biết một trong các bậc hiền giả đó. Đó là điều tôi rất ít cho ai biết. Đối với tôi, Ngài vừa là một người cha, một người Thầy, vừa là một người bạn. Sự minh triết của ngài quả thật là thiêng liêng. Tôi yêu Ngài chẳng khác nào như đứa con kính yêu cha. Trong những lúc sung sướng mà tôi được ở gần bên Ngài, tôi cảm thấy rằng hạnh phúc vốn ở gần kề một bên. Thật vậy, thậm chí bầu không khí ở chung quanh Ngài cũng đủ để tạo nên sự an lạc mầu nhiệm. Tôi vốn là người có tâm hồn thẩm mỹ, yêu nghệ thuật và cái đẹp. Nhờ có Ngài, tôi đã tập nhìn thấy cái đẹp nơi những kẻ phong cùi, tàn tật, khốn khó lầm than, những người mà trước kia tôi ngoảnh mặt đi vì ghê tởm. 

Ngài sống trong một đạo viện hẻo lánh cách xa thành phố. Tôi tìm thấy đạo viện của Ngài dường như do sự tình cờ. Kể từ đó, tôi trở lại thăm viếng Ngài nhiều lần và ở lại đạo viện với Ngài trong một thời gian. Ngài đã dạy tôi rất nhiều điều. Một xứ sở tạo ra được những con người như thế nhất định phải là một xứ sở cao cả và uyên bác. 

– Nhưng tại sao Ngài không phục vụ xứ sở bằng cách tham gia việc nước? 

Tôi thành thật nêu câu hỏi. Người Ấn Độ lắc đầu: 

– Những tư tưởng sâu xa của một hạng người đặc biệt như thế không dễ gì hiểu thấu được, cho dù là đối với chúng tôi, huống chi với người Âu Tây như các anh. Có lẽ Ngài sẽ trả lời câu hỏi của anh rằng, người ta có thể phụng sự thế gian một cách âm thầm lặng lẽ bằng cách nuôi dưỡng những tư tưởng và tình cảm tốt lành. Ngài cũng có thể nói rằng, một xã hội suy tàn phải chịu cái số kiếp đau thương của nó. 

Tôi nói với ông bạn mới của tôi rằng quả thật tôi không ngờ tới một câu trả lời như thế. Ông ta đáp: 

– Tôi cũng biết rằng bạn sẽ nghĩ như thế, ông bạn ạ! 

Sau buổi tối gặp gỡ đầu tiên và đáng ghi nhớ đó, tôi đã nhiều lần trở lại nhà người bạn Ấn Độ mới quen. Tôi bị hấp dẫn bởi những kiến thức rộng rãi và cái phong độ phóng khoáng của ông ta. Ông ta đã khơi dậy những hoài bão tiềm tàng của tôi, làm cho tôi muốn tìm hiểu thêm về ý nghĩa thâm sâu của cuộc đời. 

Một hôm, câu chuyện của chúng tôi xoay về một chiều hướng mà ngay lập tức đã in sâu vào cuộc đời tôi những dấu vết và ảnh hưởng sâu sắc. Ông bạn tôi nói qua về những phong tục lạ lùng và những tập quán cổ truyền của người Ấn Độ. Ông ta diễn tả một cách linh hoạt vài hạng người của cái xứ lạ lùng huyền bí đó, và trong câu chuyện có đề cập đến những người đạo sĩ Yogi. Tôi chỉ hiểu một cách mập mờ về ý nghĩa của danh từ đó. Tôi đã từng gặp danh từ ấy nhiều lần trong khi đọc sách, nhưng mỗi lần với một ý nghĩa khác nhau đến nỗi tôi không sao hiểu được một cách rõ rệt. Và khi tôi nghe ông bạn tôi thốt ra danh từ này, tôi liền ngắt lời ông ta như một nhà báo lành nghề để hỏi thêm một vài chi tiết. Ông ta trả lời: 

– Người ta không thể tóm tắt trong một câu cái ý nghĩa đầy đủ của danh từ Yogi. Khi bạn hỏi người Ấn Độ, họ sẽ định nghĩa cho bạn nghe danh từ đó bằng mười cách khác nhau. Thí dụ, có hàng ngàn người hành khất thường đi lang thang từ làng này qua làng khác và tụ họp thành nhóm đông đảo ở các nơi đền chùa khi có những cuộc lễ lớn, họ cũng tự xưng là yogi. Sự thật, nhiều người trong số đó chỉ là những kẻ không có nghề nghiệp, hoàn toàn thất học, không biết gì cả về lịch sử hay lý thuyết của pháp môn Yoga

Ông ta ngừng một lúc và nói tiếp: 

– Nhưng nếu bạn đi về những nơi như Rishikesh chẳng hạn, nơi có dãy Hi Mã Lạp Sơn đầy tuyết phủ bao bọc chung quanh như thành quách, bạn sẽ gặp được một hạng người hoàn toàn khác hẳn. Những người này sống trong những túp lều sơ sài hoặc trong động đá, họ ăn rất ít và suốt ngày chỉ tập trung vào việc cầu nguyện. Tôn giáo đối với họ cũng cần thiết như hơi thở, nó chiếm hết tâm trí họ ngày cũng như đêm. Phần nhiều là những người có tâm đạo dành trọn thời giờ để học hỏi các Thánh Kinh cổ điển và tham thiền, tụng niệm. Những người này cũng được người ta gọi là yogi mặc dầu họ không giống như những người hành khất kể trên. Như thế, bạn thấy rằng danh từ đó có rất nhiều nghĩa khác nhau, và ngoài hai nghĩa đó còn có rất nhiều nghĩa khác nữa. 

– Tuy vậy, phải chăng người ta thường thán phục những quyền năng bí mật lạ lùng của các yogi

Ông bạn tôi mỉm cười nói: 

– À! Tôi còn có một định nghĩa khác nữa. Hiện nay người ta vẫn tìm thấy ở những nơi hẻo lánh, ẩn trong rừng thẳm hoặc trong hang núi, những người lạ lùng dành trọn đời để tu luyện theo những phương pháp mà họ tin rằng sẽ đem đến cho họ những quyền năng mầu nhiệm và phép thuật. Có người khinh bỉ cả tôn giáo hoặc có người lại rất tín ngưỡng, nhưng tất cả đều hợp nhất trong sự chiến đấu để thắng đoạt thiên nhiên và chinh phục những sức mạnh vô hình bí ẩn. Bạn hãy nhớ rằng, xứ Ấn Độ xưa nay vẫn luôn tin tưởng vào các điều huyền bí, nhiệm mầu, và người ta vẫn thường nghe nói về những phép thuật của các nhà đạo sĩ. Những người này cũng được gọi là yogi

– Nhưng bạn có từng gặp những người ấy chăng? Và bạn có tin nơi những phép thuật, quyền năng nhiệm mầu đó không? 

Tôi hỏi một cách ngây thơ. Người bạn tôi im lặng một lúc dường như để suy nghĩ câu trả lời. Tôi đưa mắt nhìn về hướng bàn thờ và tưởng chừng như pho tượng Phật trên đó cũng nhìn tôi và mỉm cười. Tôi đâm ra vơ vẩn, và nghĩ rằng bầu không khí chung quanh pho tượng hẳn có đượm một vẻ linh thiêng, thần bí. Nhưng đúng vào lúc đó, giọng nói rõ ràng của người Ấn Độ làm gián đoạn sự mơ màng viển vông của tôi. Anh ta lấy tay vạch cho tôi xem một vật mà anh ta đeo ở trong cổ áo và nói: 

– Bạn hãy xem đây, tôi là người Bà-la-môn, và đây là sợi dây thánh, tiêu biểu cho giai cấp tôi. Một đời sống khắc kỷ, đạm bạc, trải qua hàng bao nhiêu ngàn năm đã làm cho giai cấp chúng tôi có một vài đặc tính tự nhiên mà sự học vấn theo Âu Tây và sự giao thiệp với người Âu Tây cũng không làm sao xóa bỏ được. Đức tin nơi một quyền năng thiêng liêng, sự tin tưởng nơi những sức mạnh huyền bí và sự tiến bộ tâm linh của nhân loại, những thứ ấy vốn in sâu trong tâm hồn ngườiBà-la-môn chúng tôi. Đức tin đó, tôi không thể nào hủy bỏ được, và khi nào có sự xung đột giữa đức tin và lý trí, thì tự nhiên lý trí phải nhường bước. Bởi đó, mặc dầu tôi rất có thiện cảm với những phương pháp khoa học tối tân của các anh, điều mà sau cùng tôi có thể trả lời cho câu hỏi của anh là: Tôi tin. 

Ông ta im lặng nhìn tôi một lúc và nói tiếp: 

– Lẽ tự nhiên là tôi đã từng gặp những người đó. Có lẽ khoảng vài ba người. Thật không dễ gì gặp họ trên đường đời. Ngày xưa, người ta có thể tìm thấy họ dễ dàng hơn, nhưng ngày nay tôi tin rằng họ hầu như đã hoàn toàn biến mất. 

– Nhưng phải chăng bạn vừa nói là còn lại vài ba người? 

– Rất có thể, nhưng để tìm được họ lại là một vấn đề khác. Điều đó đòi hỏi một sự tìm kiếm công phu và lâu dài. 

– Thầy của bạn phải chăng cũng là một trong số những người đó? 

– Không, ngài thuộc về một tầng bậc cao hơn nữa. Phải chăng tôi đã nói với bạn rằng Ngài là một vị Rishi

Tôi thú thật rằng tôi không hiểu gì cả, nếu ông ta không giải thích rõ danh từ sau này. Ông ta chậm rãi nói:

– Những vị Rishi còn cao hơn những yogi. Chúng ta hãy thử đem thuyết tiến hóa của Dawin áp dụng vào lãnh vực tinh thần, và chấp nhận giáo lý của đạo Bà-la-môn cho rằng có một sự tiến hóa của linh hồn đi đôi với sự tiến hóa của thể xác. Bạn hãy tưởng tượng những vị Rishi như những người đã đạt tới tột đỉnh của những nấc thang tiến hóa đó, và chừng đó bạn sẽ có một ý niệm đại khái về sự cao cả huy hoàng của các ngài. 

– Một vị Rishi có thể thực hiện những phép lạ hay chăng?

– Tất nhiên là có thể, nhưng những phép lạ thật ra không có nhiều giá trị như nhiều người lầm tưởng. Đó chỉ là một quyền năng do kết quả tự nhiên của sự tập trung tư tưởng và ý chí mà thôi. Đối với các ngài, sự nhiệm mầu hay phép lạ chỉ là một phương tiện mà các ngài rất ít khi dùng đến. Mục đích chính của các ngài là trở nên toàn thiện toàn giác, giống như đức Phật đã đạt đến. 

– Nhưng chính đấng Christ của phương Tây cũng đã từng làm phép lạ! 

– Dĩ nhiên, tôi tin, nhưng bạn tưởng rằng ngài làm như thế vì mục đích khoe khoang chăng? Không bao giờ! Chắc chắn đó chỉ là một phương tiện để cảm hóa những người dân hiền lành, chất phác và mang lại cho họ một đức tin cần thiết. 

Tôi trở nên phấn khích:

– Nếu ở Ấn Độ thực sự có những người như các vị Rishi thì chắc hẳn quần chúng sẽ qui tụ theo các ngài? 

– Lẽ tất nhiên là vậy, với điều kiện trước hết các ngài phải nhập thế và hiển lộ cho người đời biết các ngài là ai. Nhưng rất ít khi các đấng Rishi làm như vậy. Các ngài thường chọn sống cách biệt với thế gian. Những vị nào muốn nhập thế để làm việc giúp đời cũng chỉ xuất hiện trong một thời gian nhất định, rồi lại rút lui vào đời sống ẩn dật. 

Tôi bèn lên tiếng phản đối ngay rằng nếu các vị ấy cứ sống ẩn dật như thế mãi thì liệu có ích gì cho đời. Người Ấn Độ nở một nụ cười đầy cảm thông và tha thứ: 

– Tục ngữ có câu: “Không nên tin ở bề ngoài.” Vì không biết rõ các đấng Rishinên thế gian không thể xét đoán các ngài một cách đúng đắn. Tôi đã nói rằng các đấng Rishi đôi khi cũng xuất hiện ngoài thế gian và chung đụng với người đời. Thuở xưa kia, khi các ngài xuất hiện như thế nhiều hơn bây giờ, thì sự minh triết, quyền năng, đức độ của các ngài luôn nổi bật trước mắt mọi người, và ảnh hưởng của các ngài được công khai nhìn nhận. Những vị vua chúa cũng phải nghiêng mình thán phục sự minh triết của các ngài và không ngần ngại thỉnh cầu ý kiến về các vấn đề quốc sự. Nhưng có điều chắc chắn là các đấng Rishi thường hoạt động âm thầm lặng lẽ trong bóng tối hơn là xuất hiện giữa cuộc đời. 

Tôi bỗng nhiên đâm ra mơ mộng và bất giác thì thầm như nói với chính mình: 

– Tôi muốn được gặp một vị Rishi, hoặc ít ra cũng là một yogi chân chính. 

Người bạn tôi đáp lời một cách quả quyết:

– Bạn hãy tin rằng có ngày rồi bạn sẽ được như ý nguyện. 

Tôi ngạc nhiên hỏi: 

– Làm sao bạn biết được? 

Câu trả lời của ông ta càng làm cho tôi ngạc nhiên hơn nữa: 

– Tôi biết như thế ngay từ ngày chúng ta gặp nhau lần đầu. Đó là một thứ trực giác, một thứ linh cảm khiến tôi cảm biết được một cách sâu xa nhưng không thể giải thích được. Sư phụ tôi đã dạy tôi tập luyện và sử dụng năng khiếu đó. Khi gặp việc, tôi hoàn toàn tin tưởng vào năng khiếu trực giác của tôi. 

Tôi hỏi nửa tin nửa ngờ: 

– Thế lời tiên tri của bạn đến bao giờ mới được thực hiện? 

Bạn tôi nhún vai và lắc đầu: 

– Tôi không phải là một nhà tiên tri. Tôi rất tiếc là không thể nói trước ngày giờ nào bạn sẽ thực hiện điều ấy. 

Tôi không hỏi thêm điều gì, tuy tôi ngờ rằng ông ta có thể nói nhiều hơn nếu ông ta muốn. Tôi bèn suy nghĩ và đề nghị: 

– Chắc có ngày nào đó bạn sẽ trở về xứ. Nếu lúc ấy tôi rảnh việc, chúng ta có thể cùng đi chung để tìm gặp những người ấy được chăng? 

– Không được, bạn phải đi một mình. Tốt hơn hết là bạn hãy tự mình tìm kiếm. 

Tôi nài nỉ: 

– Đó là điều rất khó đối với một người ngoại quốc như tôi. 

– Hẳn là rất khó. Nhưng bạn hãy đi một mình, rồi có ngày bạn sẽ thấy rằng điều đó là cần thiết. 

Từ đó trở đi, tôi luôn tin rằng có ngày tôi sẽ thả neo ở một hải cảng phương Đông đầy ánh nắng. Tôi nghĩ rằng, nếu trong quá khứ xứ Ấn Độ đã từng tạo ra những người như các vị Rishi, và nếu một vài vị ấy hiện nay vẫn còn sống như bạn tôi đã nói, thì cái công phu khó nhọc đi tìm các ngài sẽ không phải là vô ích. Nó sẽ được đền bù lại gấp bội phần bằng những lời vàng ngọc minh triết mà mình sẽ được nghe từ các ngài thốt ra. Biết đâu tôi chẳng có cái may mắn là nhờ đó mà đời sống nội tâm của tôi sẽ trở nên dồi dào phong phú hơn. Và dầu cho tôi bị thất bại, cuộc hành trình của tôi cũng không phải là vô ích. Vì những người yogi kích thích sự tò mò của tôi một cách mãnh liệt bởi cách sinh hoạt lạ lùng và những phép tu luyện huyền bí của họ. 


Sự đam mê của tôi về những điều huyền diệu phi thường đã được khích động đến một mức độ cao tột. Cái viễn ảnh đi thám hiểm những chân trời xa lạ đó làm cho tôi ngây ngất. Tôi tự thả trôi theo đà tưởng tượng của mình, dự định rằng khi gặp cơ hội thuận tiện, tôi sẽ đáp ngay chuyến tàu đầu tiên sang Ấn Độ. 

Người bạn Ấn Độ của tôi vẫn còn tiếp tôi tại nhà anh ta trong nhiều tháng. Anh ta giúp tôi nhận định đường lối trong cái chương trình tương lai của tôi, nhưng không chịu làm người hướng dẫn tôi trên những bước đường xa lạ mà tôi phải vượt qua. Nhưng biết được vị trí của mình, nhận định được những khả năng tiềm tàng của mình, tự vạch lấy con đường đi rõ ràng nhất định, đó phải chăng đã là điều rất quý báu đối với một người còn đang tuổi thanh xuân? Vậy thì không phải là một điều quá đáng nếu tôi bày tỏ nơi đây lòng biết ơn của tôi đối với người bạn mới của thuở ban đầu. 

Nhưng bánh xe định mệnh vẫn tiếp tục xoay vần và cái ngày phân ly giữa chúng tôi đã đến quá mau. Cách sau đó vài năm, tôi được tin ông ta qua đời, hình như vì tai nạn. 

Cuộc hành trình của tôi vẫn chưa gặp được thời cơ và hoàn cảnh thuận tiện để khởi đầu. Những sự ước mơ và tham vọng ở đời thường tạo ra những trách nhiệm ràng buộc mà người ta không dễ gì thoát ra khỏi được. Tôi đành an phận với cuộc đời hiện tại đang giam hãm tôi trong một khuôn khổ chật hẹp. An phận nhưng vẫn chờ đợi, vì tôi không hề mất đi sự tin tưởng vào lời tiên tri của người bạn Ấn Độ. 

Ngày kia, có một việc xảy đến bất ngờ càng xác nhận và củng cố thêm đức tin của tôi. Những hoạt động trong nghề nghiệp đã đưa đến cho tôi một dịp tiếp xúc trong nhiều tháng với một người mà tôi lấy làm quí trọng và giao du với một tình thân hữu đặc biệt. Anh ta có một trí thông minh tuyệt vời, vô cùng linh hoạt và tỏ ra am hiểu nhân tình thế thái. Anh ta đã từng làm giáo sư dạy khoa tâm lý ở một trường đại học, nhưng cuộc đời giáo sư mô phạm không thích hợp với anh ta. Anh ta bèn từ chức để chuyển sang một ngành hoạt động khác để có thể sử dụng số vốn kiến thức rộng rãi của mình. 

Trong một thời gian, anh ta làm cố vấn cho nhiều nhà kinh doanh trên thương trường và từng được hưởng những số tiền thù lao khổng lồ từ những ông chủ của các xí nghiệp lớn. Anh ta có cái thiên tư đặc biệt là giúp nguồn cảm hứng và khích lệ cho những kẻ khác thành công trên đường đời. Dầu là kẻ bần cùng hay triệu phú, ai đã đến tiếp xúc với anh ta đều được sự giúp đỡ ý kiến hoặc sự nâng đỡ về tinh thần, làm cho họ tăng lòng hứng khởi, và những lời khuyên bảo của anh ta đều có giá trị như vàng ngọc. 

Tôi vẫn thường nghe theo những lời khuyên của anh ta, vì những dự kiến và trực giác của anh ta thường được chứng minh một cách hùng hồn trong các vấn đề kinh doanh cũng như các vấn đề cá nhân. Điều mà tôi thán phục nhất là anh ta đã dung hòa được trong tâm tính mình những khía cạnh hoàn toàn trái ngược nhau. Anh ta có thể bàn luận những vấn đề triết lý khó khăn nhất ngay sau khi vừa bàn tính xong một công việc kinh doanh! Vì thế người ta không hề thấy anh ta có vẻ buồn bực, ưu sầu mà luôn vui vẻ, hài hước và hồn nhiên cởi mở. 

Anh ta đã cùng tôi trải qua những giờ thú vị trong khi làm việc chung, hoặc trong những khi rảnh rang, nhàn hạ. Tôi lấy làm thích thú mà nghe anh ta nói chuyện, vì những kiến thức rộng rãi của anh ta luôn làm tôi ngạc nhiên. Tôi thường tự hỏi, làm sao khối óc của một con người có thể chứa đựng được một kho tàng kiến thức rộng rãi đến thế! 

Một buổi chiều, chúng tôi cùng nhau dùng cơm tối ở một quán ăn nhỏ ấm cúng. Khi ăn xong bước ra về, bầu trời quang đãng dưới ánh trăng rằm làm cho chúng tôi thấy cảm hứng dồi dào. Thế là chúng tôi bèn rủ nhau đi bách bộ thưởng trăng. Câu chuyện lúc ban chiều chỉ quanh quẩn với các vấn đề tầm thường, không có gì đặc biệt, nhưng một đêm trăng tịch mịch như đêm nay tự nhiên sẽ khêu gợi đến những câu chuyện triết lý. Cuộc đi chơi bách bộ dưới ánh trăng khuya đưa đến những câu chuyện triết lý trừu tượng, đến nỗi những danh từ của chúng tôi nói ra hẳn phải làm cho những thân chủ của bạn tôi rùng mình! 

Về đến trước cửa nhà, khi chúng tôi bắt tay từ giã, giọng nói của bạn tôi bỗng nhiên trở nên nghiêm nghị, và anh ta nói một cách chậm rãi: 

– Thiết tưởng anh không nên theo đuổi nghề nghiệp hiện nay. Anh quả thật là một triết gia nhưng lại phải chịu trói buộc bởi các vấn đề thời sự hằng ngày. Tại sao anh không chọn làm giáo sư đại học và dành nhiều thời gian cho công việc khảo cứu, sưu tầm? Anh có một tâm hồn thấm nhuần triết lý và những hoài bão tâm linh. Tôi chắc chắn rằng có ngày anh sẽ đi tìm những nhà đạo sĩ yogi Ấn Độ, những vị Lạt-ma Tây Tạng, hoặc những vị cao tăng Thiền tông bên Nhật Bản. Nhưng thôi, trong khi chờ đợi những điều ấy, tôi hãy chúc anh một đêm yên giấc. 

Như được gãi đúng vào chỗ ngứa, tôi không ra về ngay mà lập tức quay lại hỏi: 

– Anh vừa nói đến các đạo sĩ yogi? Anh nghĩ sao về những người ấy? 

Anh bạn tôi bèn bước đến gần tôi và kề tai nói nhỏ: 

– Đó là những người hiểu biết rất nhiều! Tôi chỉ có thể nói như vậy, họ hiểu biết rất nhiều! 

Lúc đó, tôi bước chân ra về mà trong lòng vô cùng xao xuyến. Cuộc hành trình sang phương Đông vẫn chưa thể thực hiện được. Càng ngày tôi càng đi sâu vào những trách nhiệm nặng nề và phức tạp mà dường như tôi không thấy có cách nào để thoát ra khỏi. Tôi có những lúc ngã lòng. Hay là định mệnh khắt khe đã trói buộc tôi mãi mãi với những tham vọng thường tình và những cạm bẫy của cuộc đời trần tục! 

Nhưng không, tôi đã lầm! Định mệnh không phải là một cái gì bất biến, mà nó hầu như luôn luôn chuyển biến, đổi thay trong từng phút, từng giờ, và mặc dầu chúng ta không thể nhìn thấy rõ điều đó, nhưng chúng ta vẫn bị cuốn trôi trong dòng chảy của những sự kiện để rồi chắc chắn sẽ tiến đến một mục đích nào đó dường như đã được định sẵn. Không đầy một năm sau đó, tôi đã đặt chân lên hải cảngBombay của Ấn Độ, mở to mắt ngắm nhìn những cảnh vật tưng bừng rực rỡ của một thành phố phương Đông và lắng tai nghe nhiều thổ ngữ lạ lùng của những dân tộc bản xứ qua lại nơi này!
---o0o---




  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương