ĐẢng cộng sản việt nam lịch sử §¶ng bé Vµ nh¢n d¢n x· T¢n hång 1930 2010



tải về 2.06 Mb.
trang8/16
Chuyển đổi dữ liệu11.08.2016
Kích2.06 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   16

Về chăn nuôi trâu bò, lợn cá và gia cầm ở cả hai khu vực tập thể và gia đình đều được phát triển. Nghĩa vụ thực phẩm đối với Nhà nước đều hoàn thành và còn cải thiện đời sống nhân dân. Đặc biệt là nguồn phân chuồng rất lớn để chăm bón lúa và hoa mầu. Trâu bò của tập thể và gia đình thường giữ mức 100-120 con. Trong những năm này đàn lợn của tập thể và gia đình đều tăng. Lợn tập thể có 4 trại, mỗi trại nuôi 150 con.

Ngoài sản xuất và chăn nuôi. Đảng bộ, Chính quyền và HTX vẫn coi trọng công tác trồng và chăm bón cây lấy gỗ, cây ăn quả ở cả hai khu vực tập thể và gia đình. Trong 10 năm, cả xã đã trồng được hàng ngàn cây bạch đàn, phi lao, xà cừ. Việc trồng và chăm sóc cây là nhiệm vụ chung của toàn dân nhưng chủ yếu là các cụ phụ lão, các cháu thiếu niên nhi đồng.

Song song với sự phát triển của HTX nông nghiệp thì HTX mua bán, HTX tín dụng vẫn được duy trì và hoạt động tốt. Ngoài hàng hóa của Nhà nước đưa về, HTX mua bán tích cực khai thác các nguồn hàng phục vụ nhân dân, phục vụ sản xuất, từ chiếc liềm, kim chỉ cho đến quần áo, vải vóc… tương đối đầy đủ, mua bán thuận tiện. HTX tín dụng cũng đã có nhiều cố gắng, phát triển xã viên, thu hồi nợ, tạo nguồn vốn phục vụ HTX nông nghiệp, phục vụ nhân dân. Ngoài ra còn vận động nhân dân có tiền chưa sử dụng vào gửi tiết kiệm, góp phần xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật cho địa phương.

Ngoài nhiệm vụ sản xuất, phát triển kinh tế, Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng còn làm tốt nhiệm vụ chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Hai nhiệm vụ đó có mối quan hệ khăng khít với nhau, chiến đấu để bảo vệ sản xuất, sản xuất để phục vụ chiến đấu. Trong sản xuất và chiến đấu thì công tác phòng tránh cũng vô cùng quan trọng. Xã Tân Hồng nằm ở phía Bắc huyện, là một xã nằm xa các mục tiêu quan trọng. Song trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Tân Hồng lại là nơi cất dấu tài sản của Nhà nước, nơi thường xuyên có bộ đội đóng quân, luyện tập, nơi cơ quan huyện sơ tán…

Thấy rõ vị trí quan trọng của mình, Đảng bộ đã lãnh đạo nhân dân thường xuyên đề cao cảnh giác, sẵn sàng chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Đảng bộ đã chăm lo xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, đủ số lượng, đảm bảo chất lượng, có thể chiến đấu liên tục trong mọi tình huống. Dân quân tự vệ từ xã đến các thôn được tổ chức biên chế lại cho phù hợp với tình hình thời chiến. Xã thành lập các đội trực ban, trực chiến gồm 25 đồng chí trẻ khỏe. Được trang bị súng đại liên và súng trường để bắn máy bay tầm thấp. Mỗi thôn thành lập một trung đội dân quân tự vệ. Ngoài ra còn thành lập các đội cứu thương, cứu hỏa, công binh, tổ cứu sập… Dân quân tự vệ của xã, thôn được tổ chức luyện tập kỹ thuật mỗi năm hai kỳ vào tháng 3 và tháng 8.

Những năm địch đánh phá vào địa bàn huyện, đội cơ động của xã được phân công làm nhiệm vụ trực chiến ở cầu Thị Vạn. Đơn vị của xã đã phối hợp với bộ đội pháo phòng không chiến đấu 14 trận góp phần đánh bại cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ. Trong chiến đấu, nhiều đồng chí thể hiện tinh thần dũng cảm. Năm nào lực lượng vũ trang của xã cũng được công nhận là lá cờ đầu đơn vị quyết thắng.

Dân quân tự vệ ở các thôn xóm ngày đêm tuần tra canh gác, giữ gìn bí mật, đảm bảo tốt an ninh chính trị, trật tự xã hội ở địa phương. Ngoài ra còn là lực lượng xung kích trong sản xuất, đào đắp công sự, trận địa pháo, đào hầm hào phòng tránh.

Bước vào cuộc chiến tranh phá hoại, Hội mẹ chiến sỹ được thành lập, hội đã vận động các hội viên và nhân dân quyên góp lương thực, thực phẩm để giúp bộ đội. Hội thường xuyên tổ chức hội viên động viên các đơn vị đóng quân ở địa phương, động viên chồng con em lên đường chiến đấu.

Về công tác phòng tránh, Nghị quyết của Đảng bộ đã nhấn mạnh: Phải đào nhiều hầm hố cá nhân ở những nơi công cộng, nơi tập trung đông người, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trường phổ thông, ở các gia đình, ngoài hầm hố cá nhân phải làm… Kết quả từ cuối năm 1965 đến hết năm 1967, nhân dân đã đào đắp được 8.800m hào giao thông, đào đắp 4.750 hố cá nhân, hầm kèo nhà. Đến thời kỳ địch đánh phá, ban đêm nhân dân còn đào hầm trong nhà, ở các trường phổ thông, thầy cô giáo còn phát động học sinh đan và đội mũ rơm, nùm rơm để tránh mảnh bom, đạn pháo. Những năm địch đánh phá ác liệt, các lớp học phải sơ tán trong làng, thầy trò đắp và đào hầm xung quanh lớp học. Do làm tốt công tác phòng tránh nên qua 2 đợt máy bay giặc Mỹ bắn phá xuống thôn My cầu và Mộ Trạch đã không gây tổn thất đáng kể. Mặt khác ta cũng giải quyết hậu quả một cách nhanh gọn.

Về nhiệm vụ xây dựng lực lượng vũ trang, chi viện sức người cho tiền tuyến đối với đảng bộ và nhân dân Tân Hồng là nhiệm vụ thường xuyên được đặt lên hàng đầu. Việc tuyển quân đối với cán bộ và nhân dân trong xã là pháp lệnh, là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người. Những năm kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân trong xã đã phát huy truyền thống của cha anh, tiếp tục động viên con em mình ra đi chiến đấu. Từ năm 1966-1972 có 250 anh em lên đường nhập ngũ, tái ngũ. Anh em ra đi hầu hết đã phát huy truyền thống của quê hương chiến đấu dũng cảm. Cùng với công tác tuyển quân, chi viện Đảng bộ đã làm tốt chính sách hậu phương quân đội. Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng vốn có đạo lý “ăn quả nhớ kẻ trồng cây” truyền thống đó đã được thể hiện trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Đảng, Chính quyền, HTX không những chỉ đảm bảo đầy đủ các chế độ tiêu chuẩn của Nhà nước đối với những gia đình thuộc đối tượng chính sách mà còn có nhiều hình thức, biện pháp cụ thể để làm cho các gia đình và cá nhân trong diện chính sách tiến bộ về chính trị, vui vẻ về tinh thần, đầy đủ về vật chất, HTX nông nghiệp điều hòa về lương thực, HTX mua bán ưu tiên về hàng hóa. Những ngày lễ, ngày tết, Đảng, Chính quyền thăm hỏi, động viên, tặng quà. Mỗi khi địa phương có người hy sinh thì Đảng ủy, Chính quyền, các tổ chức quần chúng cử đại diện đến gia đình có người thân hy sinh làm lễ truy điệu nghiêm trang, long trọng. Đảng bộ phát động toàn dân chăm lo gia đình có tử sỹ… đảm bảo hạnh phúc riêng cho những người ra đi chiến đấu. Hội mẹ chiến sỹ, hội phụ nữ cũng đã động viên được hàng trăm đơn vị bộ đội mặc dầu chồng đi chiến đấu nhiều năm vẫn công tác, sản xuất tốt, chung thủy, nuôi dạy con cái, trông nom bố mẹ gia đình nhà chồng, con yên tâm chiến đấu. Những việc làm thiết thực trên vừa là “đền ơn đáp nghĩa” vừa là động lực để thúc đẩy phong trào cách mạng ở địa phương.

Giữa lúc nhân dân ở cả hai miền Nam, Bắc đang tập trung đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến gần thắng lợi thì ngày 2/9/1969, Hồ Chủ tịch, vị lãnh tụ kính yêu của toàn đảng, toàn dân ta đã qua đời, nhân dân Tân Hồng cùng với nhân dân cả nước vô cùng đau buồn và thương tiếc vô hạn.

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, toàn thể Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng đã tổ chức trọng thể lễ truy điệu Hồ Chủ tịch vào sáng ngày 2/9/1969 tại các cơ sở thôn. Hàng ngàn cán bộ, đảng viên, nhân dân trong xã đã tới dự sau khi nghe lời điếu của Ban Chấp hành Trung ương Đảng do đồng chí Lê Duẩn Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương đọc tại buổi lễ truy điệu Hồ Chủ tịch ở quảng trường Ba Đình - Hà Nội phát qua đài tiếng nói Việt Nam, hàng nghìn cánh tay giơ cao xin thề! Đảng bộ Tân Hồng đã mở đợt sinh hoạt chính trị rộng lớn trong toàn Đảng bộ và nhân dân biến đau thương thành hành động cách mạng, quyết tâm thực hiện di chúc thiêng liêng của Hồ Chủ tịch, kiên trì và đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.

Ngay trong và sau những ngày đau thương ấy, toàn Đảng, toàn dân trong xã hội đã dấy lên những hành động cách mạng sôi nổi, nguyện đoàn kết chặt chẽ quyết tâm làm theo di chúc của Hồ Chủ tịch và lời thề thiêng liêng trước anh linh của người. Bằng những việc làm thiết thực.

Trong khi tập trung sức phát triển kinh tế, chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Đảng bộ vẫn giành công sức cho việc phát triển giáo dục, y tế, văn hóa – xã hội. Nhận rõ sự nghiệp giáo dục là khâu quan trọng trong cách mạng tư tưởng văn hóa, cũng là yêu cầu cấp thiết của nhân dân ngay từ khi đế quốc Mỹ gây chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc. Đảng bộ chỉ đạo chính quyền, HTX, nhà trường đào hầm trú ẩn, sơ tán trường lớp. Đảng bộ có chủ trương trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải đảm bảo cho nhà trường dạy và học được. Vì vậy mà trong những năm đế quốc Mỹ đánh phá miền Bắc (1966 - 1967) việc học tập vẫn được duy trì đều đặn. Phong trào thi đua “hai tốt” vẫn được đẩy mạnh bước vào năm học 1969-1970, hầu hết các trường đã được tu sửa và trở về địa điểm cũ. Nhà trường có đủ bàn ghế, phương tiện dạy và học cho các lớp phổ thông. Đội ngũ giáo viên cũng được phát triển về số lượng và thường xuyên được học tập về chính trị, nghiệp vụ, số đảng viên trong đội ngũ cán bộ tăng lên.

Do có nhiều cố gắng nên số lớp và học sinh các cấp ngày một tăng. Hằng năm tỷ lệ lên lớp đạt 80 – 90%, thi tốt nghiệp đỗ đạt từ 70 – 80%, thi chuyển cấp đạt trên 60%. Một số thầy cô giáo qua các đợt hội giảng của huyện được công nhận là giáo viên dạy giỏi. Mỗi năm trường bình xét được hàng trăm em học sinh đạt danh hiệu “Cháu ngoan Bác Hồ” và học sinh tiên tiến. Bên cạnh trường phổ thông, một số lớp bổ túc văn hóa vẫn được duy trì, mỗi năm ngành bổ túc văn hóa của xã đã dạy cho hàng trăm người lớn tuổi có trình độ văn hóa cấp 1 để đảm đương nhiệm vụ thay thế người đi đánh Mỹ. Các lớp mẫu giáo, nhà trẻ đã thu hút được hầu hết các cháu trong độ tuổi đến lớp.

Cuộc vận động xây dựng văn hóa mới và con người mới XHCN được duy trì như: Các công trình vệ sinh phòng bệnh, việc tang lễ, cưới hỏi được thực hiện theo nếp sống mới. Phong trào “tiếng hát át tiếng bom” đã phát triển ở các tổ chức quần chúng đội sản xuất, nhất là tổ chức thanh thiếu niên. Đội văn nghệ xã thường xuyên luyện tập với các tiết mục tự biên, tự diễn, đội đã có nhiều buổi, nhiều tiết mục phục vụ nhân dân và bộ đội.

Công tác y tế có nhiều tiến bộ, đã hợp nhất hai trạm y tế thành một trạm y tế xã, dụng cụ y tế khám chữa bệnh được trang bị thêm. Việc khám chữa bệnh cho nhân dân được tiến hành đều đặn. Phong trào vệ sinh phòng bệnh có tiến bộ, số hố xí hai ngăn, giếng khơi, nhà tắm… được sửa chữa và xây dựng thêm. Đường sá được quét dọn, nếp sống, ăn ở trong các gia đình cũng dần dần đi vào nề nếp. Trạm xá xã đã tiến hành trồng cây thuốc nam nhằm phục vụ nhân dân. Tinh thần phục vụ của đội ngũ cán bộ y tế xã có nhiều tiến bộ rõ nét.

Cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân xã ngày 30/4/1967 và ngày 30/4/1969 được tiến hành tốt. Trên 95% số cử tri trong xã đã đi bỏ phiếu. Thành phần Hội đồng nhân dân được đại diện đầy đủ cho mọi ngành hoạt động, mọi tầng lớp nhân dân. Hội đồng nhân dân và Ủy ban hành chính xã đã phát huy được vai trò, chức năng và hoạt động có nhiều chuyển biến tốt. Nhất là sau khi học tập và phát động chính quyền đã tổ chức, lãnh đạo nhân dân thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, thực hiện tốt các chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Đồng thời làm tốt công tác an ninh trật tự an toàn xã hội.

Đoàn thanh niên lao động đã thực hiện đúng vai trò cánh tay đắc lực của Đảng. Xứng đáng là đội quân tiên phong trên mặt trận chiến đấu và sản xuất. Trong những năm qua, đoàn thanh niên đã động viên được đông đảo thanh niên tham gia các đợt sinh hoạt chính trị và các phong trào do Đảng, chính quyền phát động. Qua đó hầu hết thanh niên đã nâng cao nhận thức của mình, hiểu được tình hình nhiệm vụ mới, xác định rõ trách nhiệm, nhất là tình hình cả nước có chiến tranh vai trò của thanh niên càng phải xung kích hơn lúc nào hết trong mọi lĩnh vực sản xuất, chiến đấu, công tác. Thể hiện bằng việc Đoàn thanh niên đã nhận cánh đồng 5 tấn. Các công việc khác như phân bón, thủy lợi, áp dụng khoa học kỹ thuật cũng như trong lao động sản xuất… Đoàn đều đóng góp vai trò xung kích, 100% đoàn viên thanh niên đăng ký “Ba sẵn sàng”, hàng chục thanh niên xung kích tình nguyện nhập ngũ. Số còn lại hầu hết đều tham gia dân quân du kích, đào hầm hố, công sự, canh gác chống bão lụt, sẵn sàng chiến đấu bảo vệ sản xuất và đời sống nhân dân.

Đoàn thanh niên lao động cùng với ngành giáo dục và các ngành giới khác có nhiều chủ trương, biện pháp chỉ đạo công tác tổ chức, giáo dục thanh niên, nhi đồng. Nhiều hình thức tổ chức phù hợp với lứa tuổi các em được phát động như: “Vì miền Nam ruột thịt chúng em nguyện làm người chiến sỹ nhỏ thắng Mỹ”, “Làm nghìn việc tốt” ở trường học và địa phương. Đoàn đã kết hợp với nhà trường phát động phong trào thi đua ngắn ngày để các em lúc nào cũng hăng hái học tập và sản xuất… Những năm qua các em đã xây dựng được hàng trăm góc học tập, hàng chục tổ chăm sóc trâu bò, thành lập câu lạc bộ, tham gia thể dục buổi sáng. Ngoài ra, các em còn làm tốt công tác xã hội khác như vệ sinh làng xóm, giúp đỡ gia đình liệt sỹ…

Hội liên hiệp phụ nữ xã được Đảng bộ chú trọng, Chấp hành Nghị quyết 152, 153 của Ban Bí thư Trung ương Đảng về công tác phụ nữ và cán bộ nữ, Đảng bộ hết sức coi trọng công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ nữ. Hàng trăm chị em phụ nữ trong xã đã đăng ký thi đua phấn đấu đạt danh hiệu “Ba đảm đang”. Qua phong trào, nhiều chị em đã đạt được thành tích cao trên mặt trận sản xuất, phục vụ chiến đấu và công tác hậu phương quân đội. Trên lĩnh vực sản xuất nông nghiệp có 65% là lao động nữ. Nhiều chị em biết cày bừa, lợp nhà, tham gia đội thủy lợi chuyên trách, đội chăn nuôi lợn, đội kỹ thuật… Tuyệt đại bộ phận các mẹ, các chị đã khuyên chồng, con tham gia nhập ngũ và sẵn sàng thay chồng đảm đang mọi việc của gia đình, xã hội. Nhiều chị đã chịu khó đi học văn hóa để nâng cao trình độ chính trị, xã hội, có những chị em khi tiễn chồng đi nhập ngũ mới có trình độ văn hóa lớp 1, lớp 2 nay đã có trình độ cấp II. Một số chị em đã tham gia lãnh đạo, quản lý về mặt Nhà nước, quản lý HTX. Tính đến năm 1971 đã có hàng trăm chị em đạt danh hiệu “Ba đảm đang”. Một số chị em được công nhận là Kiện tướng thủy lợi.

Mặt trận Tổ quốc xã được kiện toàn. Mặt trận đã tổ chức học tập cương lĩnh mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam, thư của bác Tôn Đức Thắng gửi các cụ phụ lão và phát động phong trào phụ lão “Ba giỏi”. Ngoài ra còn tổ chức học tập thời sự chính sách khác. Thông qua công tác chính trị, tư tưởng mọi mặt hoạt động của Mặt trận được đẩy mạnh, các cụ phụ lão đã cùng con cháu tham gia phong trào sản xuất, tuyên truyền giúp đỡ bộ đội, làm lán trực chiến, giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ…

Đảng luôn quan tâm chăm sóc công tác xây dựng Đảng. Trước hết làm cho Đảng bộ quán triệt tình hình nhiệm vụ chống Mỹ cứu nước theo tinh thần Nghị quyết 11, 12 của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết của Tỉnh ủy, Huyện ủy đề ra. Đây là những đợt giáo dục chính trị tư tưởng tập trung lớn. Ngoài các đợt học tập nghị quyết, Đảng bộ còn luôn tổ chức các đợt sinh hoạt chính trị, nổi bật là học tập lời kêu gọi của Hồ Chủ tịch “Không có gì quý hơn độc lập tự do hạnh phúc” và “Học tập và làm theo lời Bác”. Trên cơ sở quán triệt tình hình nhiệm vụ để củng cố thêm sự nhất trí, tăng thêm lòng tin tưởng tuyệt đối vào Trung ương, Đảng bộ xác định vai trò, trách nhiệm của mỗi đảng viên, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong lao động sản xuất cũng như trong chiến đấu. Đề cao ý chí phấn đấu vươn lên hàng đầu, chống tư tưởng chủ quan, thỏa mãn, công thần, địa vị, cục bộ địa phương, đề cao đạo đức cách mạng, tinh thần tận tụy vì Đảng, vì dân. Nâng cao trình độ lý luận chính trị cho cán bộ, đảng viên được coi trọng. Hàng năm Đảng bộ đã cử cán bộ đi học tập, bồi dưỡng tại trường đảng của huyện, tỉnh. Vì vậy, nhiều cán bộ, đảng viên đã vận dụng những hiểu biết vào công tác của bản thân được tốt hơn. Trong dịp Đại hội Đảng bộ đầu năm 1967, Đảng ủy tổ chức cho đảng viên quán triệt Chỉ thị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về việc “tiếp tục đẩy mạnh hơn nữa cuộc vận động xây dựng chi bộ, đảng bộ cơ sở 4 tốt”. Đảng bộ phát động quần chúng nhân dân góp ý kiến xây dựng Đảng. Mối quan hệ giữa Đảng và quần chúng thêm gắn bó, đảng viên thường xuyên nêu cao tinh thần phê và tự phê bình, lấy tiêu chuẩn 4 tốt để phấn đấu. Hầu hết đảng viên trong đảng bộ đều có chuyển biến tốt về tư tưởng và hành động.

Đi đôi với công tác giáo dục chính trị tư tưởng, Đảng bộ luôn chăm lo công tác tổ chức cán bộ, mỗi kỳ Đại hội là một kỳ kiện toàn tổ chức từ Đảng ủy đến các tổ đảng. Hầu hết cấp ủy viên đã hoàn thành chức năng lãnh đạo của mình được đảng viên, quần chúng tin cậy. Đại hội Đảng bộ nhiệm kỳ 1970-1971, đồng chí Vũ Xuân Quyên được bầu làm bí thư, đồng chí Lê Văn Cảnh làm phó bí thư-Chủ tịch UBHC xã.

Công tác phát triển đảng viên mới cùng với công tác kiểm tra kỷ luật của Đảng được các chi bộ, đảng bộ làm thường xuyên. Trong những năm qua Đảng bộ đã kết nạp được 12 đảng viên mới. Số đảng viên mắc sai lầm nghiêm trọng hầu như không có. Hằng năm qua tổng kết số đảng viên đạt tiêu chuẩn 4 tốt đạt trên 70%, chi bộ 4 tốt đạt trên 80%. Đảng bộ được công nhận là đảng bộ 4 tốt.

Trong lúc Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng hăng hái lao động và công tác, nhưng lại phải chiến đấu và khắc phục hậu quả của trận lụt tháng 8/1971. Một trận lụt lịch sử chưa từng có mấy chục năm nay. Ngày 22/8/1971 đê Nhất trai (Hà Bắc) bị vỡ, cùng ngày đê sông Thái Bình thuộc địa phận Cẩm Giàng tràn hết trên mặt đê, đến 9 giờ tối ngày 23/8/1971 nước lũ tràn vào hầu hết các xã trong huyện và cho đến ngày 26/8/1971, toàn huyện Bình Giang đều ngập nước. Trận lũ này tàn phá hoa mầu, nhà cửa, gia súc… gây thiệt hại rất lớn đối với tập thể và nhân dân trong xã. Nhà cửa của dân bị đổ 209 cái, công trình phụ đổ 89 cái; toàn bộ diện tích lúa mầu gồm 1320 mẫu đang xanh tốt bị ngập nước.

Ngay từ khi nước mới tràn về, Đảng bộ đã kịp thời tập trung lãnh đạo nhân dân nêu cao tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau di chuyển cụ già, trẻ nhỏ, tài sản, súc vật lên chỗ cao, tổ chức lực lượng dân quân, thanh niên tăng cường tuần tra canh gác để giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ tài sản của nhân dân và tập thể. Giúp đỡ các gia đình thương binh, liệt sỹ, kê cao các kho tàng của tập thể và Nhà nước. Tìm các biện pháp bảo vệ đàn trâu, bò, đàn lợn tập thể. Chỉ đạo ngành y tế tổ chức tốt việc vệ sinh phòng bệnh, phòng dịch. Giải quyết tốt việc cấp phát thức ăn, đồ dùng do Nhà nước cung cấp cho các đối tượng chính sách và nhân dân. Sau hơn 1 tháng nước mới rút, Đảng bộ đã kịp thời lãnh đạo nhân dân tập trung sức để khắc phục hậu quả lũ lụt. Với tinh thần hữu ái giai cấp, lá lành đùm lá rách của nhân dân đã giúp đỡ nhau xây dựng, sửa chữa lại nhà cửa, cho nhau vay vốn, lương thực… Nhà nước hỗ trợ cứu tế, cho vay để nhanh chóng ổn định đời sống nhân dân.

Để phục hồi sản xuất, biện pháp cấp bách trước mắt là vận động nhân dân trồng cây rau mầu ngắn ngày, giữ vững đàn trâu còn lại để đảm bảo sức kéo phục vụ cho vụ đông xuân tới, chăm bón cho những thửa ruộng còn có thể cho thu hoạch. Tích cực tận dụng mọi khả năng để cấy tái giá, chuẩn bị mọi mặt để sản xuất vụ đông.

Chúng ta đã kịp thời trợ cấp cho các đối tượng chủ yếu là các gia đình thương binh, liệt sỹ, gia đình leo đơn. Tổng số trợ cấp là 767 hộ trong số đó có 365 hộ là đối tượng chính sách với số bột mỳ là 23,352 tấn mỳ, gạo, thóc. Cho vay là 82,7 tấn. Ngoài ra, một số gia đình được trợ cấp chăn màn, quần áo, chiếu, giống… Dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, với truyền thống tốt đẹp của quê hương, cùng với sự giúp đỡ vô tư của các đồng bào trong và ngoài nước, Tân Hồng đã nhanh chóng vượt qua khó khăn do trận lụt gây ra.

Trong những năm 1966-1971 Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng đã phải trải qua bao khó khăn do thiên tai, địch họa gây ra. Dưới sự lãnh đạo của Huyện ủy, Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng đã liên tiếp giành được những thắng lợi trong sản xuất, cũng như trong chiến đấu, phục vụ chiến đấu. Những thành tích đạt được đã góp phần xứng đáng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ, cùng sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nước.

2 - Ra sức đẩy mạnh sản xuất, chiến đấu, tất cả cho sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc (1972 – 1975).

Buộc phải chấm dứt không điều kiện ném bom bắn phá trên lãnh thổ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và ngồi vào hội nghị Pari, đế quốc Mỹ vẫn ôm ảo tưởng giải quyết cuộc chiến tranh trên thế mạnh.

Trên chiến trường chính quân dân miền Nam vẫn liên tiếp chiến thắng, nhiều vùng nông thôn được giải phóng. Trước nguy cơ sụp đổ hoàn toàn của quân nguỵ và nguy cơ phá sản của chiến lược “Việt Nam hoá”. Từ 16/4/1972 đế quốc Mỹ huy động ồ ạt không quân và hải quân vào tham chiến ở miền Nam, đồng thời tiến hành chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc lần thứ.

Trước tình hình trên, bộ chính trị Trung ương Đảng đã chỉ rõ nhiệm vụ của miền Bắc là: Kiên cường chiến đấu, đánh bạt cuộc chiến tranh phá hoại của Ních-Sơn, đồng thời chuyển hướng kinh tế cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh phá hoại ác liệt, ổn định đời sống nhân dân, quyết tâm làm tròn nhiệm vụ của hậu phương đối với tiền tuyến trong mọi tình huống.

Dưới ánh sáng của nghị quyết 220 của Bộ chính trị và thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Huyện uỷ Bình Giang Đảng bộ chủ trương:

- Phát động toàn dân sửa chữa và làm nhiều hầm hào giao thông ở các gia đình, nơi công cộng, Tổ chức tốt các lực lượng và phương tiện cứu hộ, cứu hoả. Hạn chế cao sự thiệt hại về người do máy bay địch bắn phá.

- Tổ chức thu hoạch vụ đông xuân nhanh gọn, và sản xuất mùa đúng thời vụ, đúng kỹ thuật.

- Củng cố lực lượng dân quân tự vệ, đơn vị trực chiến sửa chữa trận địa phòng không sẵn sàng đánh trả máy bay địch.

- Chính quyền các đoàn thể phải tổ chức cuộc sống và làm việc cho nhân dân theo thời chiến, đám ma, đám cưới hạn chế tập trung đông. Tổ chức gọn, khôn ăn uống linh đình. Mọi hoạt động văn hoá – xã hội phải đảm bảo bí mật an toàn. Các cuộc họp phải chuẩn bị tốt nội dung tiến hành nhanh, gọn, an toàn. Đồng thời phải tuyệt đối giữ bí mật, không gây thiệt hại về người và của.

Thực hiện chủ trương trên toàn Đảng, toàn dân Tân Hồng sẵn sàng sản xuất, chiến đấu trên mọi lĩnh vực tư thế của người chiến thắng.

Trên mặt trận sản xuất nông nghiệp theo phương hướng nghị quyết lần thứ 19 của Trung ương Đảng, cùng những chỉ thị nghị quyết cụ thể của Huyện uỷ các hợp tác xã nông nghiệp trong xã đã có những cố gắng rất lớn.

Khi bước vào thực hiện vụ sản xuất đông xuân, mở đầu cho việc thực hiện chỉ tiêu kế hoạch sản xuất năm 1972 của xã nhà cũng khác hẳn với các vụ trước, năn trước. Nhân dân trong xã vừa trải qua một trận lũ lớn chưa từng có. Vụ mùa tuy hậu quả của trận lụt đã được khắc phục, song cũng phải trải qua khó khăn do thiên tai, dịch hoạ.

Để chuẩn bị cho vụ sản xuất đông xuân năm 1971 – 1972 và cả năm 1972 Đảng bộ đã phát động toàn dân tiến quân vào vụ sản xuất đông xuân với quyết tâm giành thắng lợi vượt bậc để bù lại cho vụ mùa năm 1971. Biết bao khó khăn đặt ra sau lũ lụt. Trước hết là thiếu sức kéo, thiếu thóc giống, phân bón... Trước tình hình đó Đảng bộ đã tập trung lãnh đạo nhân dân giải quyết từng mặt cụ thể là:

- Tận dụng số thóc "thịt" của một số gia đình còn lại và đề nghị Huyện hỗ trợ.

- Giải quyết sức kéo bằng biện pháp tập trung vốn của hợp tác xã, một mặt vay vốn ngân hàng tậu trâu, mặt khác phát động toàn dân đi cuốc ruộng.

- Giải quyết phân bón bằng cách tập trung làm phân bùn, phân xanh, đào ải để cải tạo đất.

- Đảm bảo sản xuất đúng thời vụ, đúng kỹ thuật.

- Tăng cường chống rét để đảm bảo người, gia súc, mạ chiêm.

Nhờ quyết tâm phấn đấu nỗ lực của toàn đảng, toàn dân trong xã, Tân Hồng đã giành được thắng lợi lớn cả về diện tích, năng xuất và tổng sản lượng. Đây là năm được mùa nhất từ trước tới nay. Do vậy vừa bảm đảm đời sống ổn định, vừa hoàn thành vượt mức nghĩa vụ cho nhà nước trên cả 3 mặt: Thuế, nghĩa vụ, giá cao với thời gian sớm.

Về mầu so với diện tích các năm trước thì có giảm. Việc nuôi thả cá sau lũ lụt, sang năm 1972 vẫn chưa phục hồi được như cũ. Riêng về cây thì hợp tác xã có quy hoạch và trồng nhưng vẫn không bằng số cây trước lụt.

Trên mặt trận quân sự xã củng cố tổ chức phân đội trực chiến, đội cơ động đi tham gia trực chiến tại đầu cầu Thị Vạn. Công tác phòng không trong nhân dân được thực hiện tốt.

Phong trào tòng quân diệt Mỹ diễn ra sôi nổi, Đảng bộ đã làm tốt công tác động viên tuyển quân, năm 1972 đã đạt và vượt chỉ tiêu trên giao, các cấp các ngành luôn chăm lo công tác tuyển quân và công tác hậu phương quân đội, xã đã mở...

Trước thắng lợi to lớn của quân và dân hai miền Nam - Bắc, trước nguy cơ sụp đổ của chính quyền Sài Gòn, để cứu vãn tình thế, đế quốc Mỹ đã mở cuộc tập kích chiến lược bằng không quân với các loại máy bay hiện đại nhất ( B52, F111) đánh liên tục 12 ngày đêm (18 - 12 - 1972 đến 29 - 12 - 1972) ném bom rải thảm vào nhiều nơi thuộc Hà Nội, Hải Phòng...Mục đích làm suy yếu ý chí và quyết tâm đánh Mỹ và thắng Mỹ của quân và dân ta. Để đập tan mưu đồ đen tối của Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã chiến đấu anh dững bắn rơi 61 máy bay Mỹ, bắt sống nhiều giặc lái, làm lên trận địa “Điện Biên Phủ” trên không oanh liệt. Đập tan ý đồ đàm phán trên thế mạnh của kẻ thù.

Đế quốc Mỹ thua đau. Ngày 30 – 12 – 1972 Nich-Xơn buộc phải tuyên bố kết thúc cuộc tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng, ngày 15 - 01 - 1973 Chính phủ Mỹ phải tuyên bố ngừng mọi hoạt động tiến công: bao gồm ném bom, bắn phá, thả mìn phong toả miền Bắc nước ta.

Ngày 27 - 01 - 1973 đại diện Mỹ, Nguỵ Sài Sòn phải cùng đại diện Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hoà và Chính phủ cách mạng lâm thời miền Nam Việt Nam ký chính thức bản Hiệp định về chấm dứt chiến tranh lập lại hoà bình ở Việt Nam. Trong thắng lợi chung đó có phần đóng góp xứng đáng của Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng.

Tranh thủ thời gian hoà bình, Đảng ta chủ trương nhanh chóng khôi phục và phát triển kinh tế, đẩy mạnh công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, dồn sức chi viện nhiều nhất cho cách mạng miền Nam giành thắng lợi hoàn toàn.

Dưới ánh sáng các Nghị quyết 19, 20, 22 của Ban chấp hành Trung ương Đảng, nghị quyết của Tỉnh uỷ và phương hướng nhiệm vụ cụ thể của Đại hội đại biểu huyện Đảng bộ Cẩm Bình lần thứ XV (1973), giữa năm 1973 Đại hội Đảng bộ xã Tân Hồng được tổ chức. Đại hội đã đi sâu kiểm điểm việc thực hiện nghị quyết Đại hội trước, căn cứ vào khả năng và điều kiện thực tế của xã, Đại hội đề ra phương hướng nhiệm vụ cho nhiệm kỳ mới. Đại hội bầu đồng chí Vũ Xuân Quyên làm bí thư đảng uỷ, đồng chí Lê Văn Cảnh làm phó bí thư - Chủ tịch UBHC xã.

Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng bộ, toàn đảng toàn dân trong xã ra sức lao động sản xuất, khắc phục hậu quả của chiến tranh, khôi phục phát triển kinh tế nông nghiệp cũng như đẩy mạnh mọi mặt công tác khác.

Về nông nghiệp mặc dầu phải khắc phục nhiều khó khăn do thiên tai gây ra. Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng bộ, với những kinh nghiệm thực tiễn của đồng ruộng, các hợp tác xã chủ động và các biện pháp chỉ đạo sâu sát, tích cực và quyết tâm cao. Các biện pháp thâm canh được chú ý như khâu: mạ, làm đất, nước cấy, chăm sóc, thời vụ, phân bón đều có chuẩn bị chu đáo từ đầu vụ, vì vậy đã giành được thắng lợi lớn. Tính đến cuối năm 1974 xã có một hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn.




Năm

Diện tích

mẫu

Năng suất

kg/sào

Tổng sản lượng tấn

1972

2503

82

2072

1973

2501

80

2001

1974

2492

84

2132

1975

2492

79

1968

Về chăn nuôi, quán triệt nghị quyết lần thứ 19 (khoá III) của BCH Trung ương Đảng là: đưa chăn nuôi dần trở thành ngành sản xuất chính đã được Đảng bộ quán triệt và vận dụng vào điều kiện địa phương. Trong những năm 1973-1975, Đảng bộ đã lãnh đạo các hợp tác xã khắc phục khó khăn, củng cố tổ chức để duy trì và phát triển đàn lợn tập thể. Đồng thời tổ chức tốt việc thực hiện chính sách chăn nuôi, do đó đàn lợn tập thể và gia đình đã từng bước chuyển biến. Hàng năm tổng số đàn lợn có từ 300 – 350 con.

Đàn trâu vẫn giữ vững khoảng 100 – 120 con, trong đó có trên 70 con trâu cày để đảm bảo mức độ làm đất với việc sử dụng từ 40 – 60 % diện tích cầy bừa bằng máy.

Đàn gia cầm có từ 18.000 – 20.000 con. Việc thả cá được duy trì, toàn xã có trên 20 mẫu ao, đầm mương nuôi cá. Mỗi năm cho thu hoạch từ 10 – 15 tấn.

Phong trào trồng cây đã được hầu hết các hợp tác xã làm tốt. Các vườn ươm cây ở các hợp tác xã đều đảm bảo giống cây con. Một số hợp tác xã đã xây dựng vườn quả của tập thể. Trong các năm 1973, 1974, 1975 xã đã trồng tiếp và bổ sung hàng ngàn cây lấy gỗ, cây ăn quả.

Công tác văn hoá, xã hội, vệ sinh phòng bệnh, xây dựng nếp sống văn minh, gia đình văn hoá, công tác giáo dục phổ thông, bổ túc văn hoá đã có những chuyển biến đồng đều và đạt kết quả khá. Công tác vệ sinh phòng bệnh đã tạo thành phong trào đòi hỏi bức thiết của cán bộ và nhân dân. Công tác bảo vệ sức khoẻ được chú trọng. Đến năm 1974 đã có trên 70% số hộ có hố xí hộp, 35% số hộ có giếng nước, 80% số hộ có nhà tắm. Công tác bảo vệ bà mẹ trẻ em được chú ý hơn. Trong mấy năm qua đã vận động hàng chục phụ nữ mang vòng tránh thai, thực hiện sinh đẻ có kế hoạch. Phong trào rèn luyện sức khoẻ (thể dục thể thao) giáo dục đạo đức cách mạng trong nam nữ thanh niên, học sinh đã có những tiến bộ. Các tục lệ mê tín dị đoan giảm. Đặc biệt sự nghiệp giáo dục phát triển mạnh. Số học trường phổ thông mức tăng hàng năm trên 10%. Các lớp bổ túc văn hoá vẫn duy trì. Các nhà trẻ, lớp mẫu giáo duy trì đều đặn. Chất lượng giáo dục đạt kết quả khá. Phong trào thi đua “Hai tốt” luôn luôn được thực hiện, hàng năm tỷ lệ thi tốt nghiệp đạt từ 80 – 90% và lên lớp đạt từ 90 – 95%.

Công tác trật tự trị an, địa phương đã làm tốt công tác 3 phòng (phòng gian, phòng gián, phòng hoả) đã đóng góp một phần rất quan trọng trong công tác giữ gìn an ninh thôn xóm. Những vấn đề tranh chấp trong nông thôn được kịp thời giải quyết. Những vụ tham ô trong các hợp tác xã nông nghiệp được phát hiện và giải quyết kịp thời. Những tệ nạn buôn bán trái phép, làm ăn phi pháp đã có những biện pháp tích cực để ngăn chặn.

Công tác tuyển quân chi viện tiền tuyến Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng duy trì là xã hoàn thành và vượt chỉ tiêu sớm của huyện. Năm 1973 đạt mức chỉ tiêu trên 100%. Năm 1974 với 3 đợt tuyển quân, thời gian cách nhau không xa và số lượng tương đối lớn, nhưng với tinh thần và ý thức trách nhiệm cao, Đảng bộ đã tập trung suy nghĩ và quyết tâm chỉ đạo, lăn lộn với phong trào, kiên trì thuyết phục, tạo chất tạo nguồn nên đã vượt mức chỉ tiêu.

Song song với công tác tuyển quân, công tác xây dựng lực lượng dân quân tự vệ cũng được thường xuyên chú trọng. Đảng bộ đã tăng cường giáo dục cho dân quân tự vệ nâng cao cảnh giác cách mạng không ngừng rèn luyện chiến đấu kỹ thuật để sẵn sàng làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ quê hương. Trong các năm 1972 – 1975 lực lượng tự vệ xã đều được công nhận là đơn vị “Quyết thắng”.

Công tác hậu phương quân đội được quan tâm chỉ đạo. Đảng bộ, chính quyền, hợp tác xã đã chăm lo tốt đời sống, giải quyết công ăn việc làm cho anh em thương bệnh binh, gia đình liệt sĩ, gia đình quân nhân cách mạng. Các chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước như báo tử, tiền tuất, tiền đi các chiến trường B, C được thực hiện đầy đủ. Do đó đã có tác dụng mạnh mẽ đến công tác tuyển quân, chi viện.

Trên cơ sở sản xuất phát triển, ngoài việc ổn định đời sống nhân dân, những năm qua Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng đã hoàn thành nghĩa vụ lương thực, thực phẩm một cách xuất sắc:




Năm

Nghĩa vụ lương thực(tấn)

Nghĩa vụ thực phẩm

(tấn)

1972

650

48

1973

650

48

1974

650

48

1975

650

48

Đi đôi với các mặt đóng góp nghĩa vụ trên, Đảng bộ và nhân dân trong xã còn cung cấp nhiều thanh niên, cán bộ đi thanh niên xung phong, công nhân quốc phòng, dân quân hoả tuyến.

Trong những năm qua công tác xây dựng Đảng, chính quyền các đoàn thể quần chúng được Đảng bộ thường xuyên quan tâm. Chính quyền xã đã tổ chức thực hiện tốt mọi nhiệm vụ chính trị ở địa phương như phong trào lao động sản xuất, hợp tác hoá. Công tác tuyển quân, an ninh trật tự và thực hiện các chính sách lớn và mọi hoạt động xã hội khác. Cuối năm 1974 địa phương tiến hành tốt cuộc bầu cử Hội đồng nhân dân 3 cấp (tỉnh, huyện, xã) và tiến hành nhanh gọn công tác điều tra dân số.

Đoàn thanh niên lao động Hồ Chí Minh được Đảng bộ thường xuyên chăm lo, giáo dục chính sách, tình hình nhiệm vụ cách mạng. Đoàn xã mở các lớp học chính trị cho đoàn viên, thanh niên. Trong việc thực hiện 3 cuộc cách mạng ở nông thôn, Đoàn xã đã làm nòng cốt trong phong trào làm phân bón, thuỷ lợi, các biện pháp kỹ thuật, một số đoàn viên tham gia trong ban quản lý, đội sản xuất. Đoàn xã còn làm nòng cốt trong công tác tuyển quân, thanh niên xung phong, công nhân quốc phòng, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. Trên các lĩnh vực văn hoá - xã hội, y tế, giáo dục Đoàn xã cũng đã có những đóng góp tốt. Thông qua các phong trào công tác xây dựng Đoàn được phát triển. Hàng năm đã kết nạp được nhiều thanh niên tiên tiến vào Đoàn. Mặt khác Đoàn cũng đã lựa chọn được một số đoàn viên ưu tú giới thiệu với tổ chức Đảng. Trong những năm qua đã có hàng chục đoàn viên được đứng trong hàng ngũ của Đảng.

Đội thiếu niên, nhi đồng Hồ Chí Minh cũng được Đảng bộ quan tâm chăm lo. Các em đã được giáo dục, học tập toàn diện với nội dung “5 điều Bác Hồ dạy”. Việc giáo dục kết hợp giữa: Nhà trường, đoàn thể, gia đình đã có tác dụng rõ rệt. Các phong trào thi đua “Công tác Trần Quốc Toản”, “Nghìn việc tốt” cũng được duy trì và đẩy mạnh lên một bước. Nhìn chung các em chăm học, chăm làm, ngoan ngoãn, lễ phép làm theo các bậc cha mẹ vui lòng.

Hội liên hiệp phụ nữ xã đã tổ chức học tập chính trị cho các hội viên. Chị em có những đóng góp công sức rất to lớn vào việc thực hiện cuộc cách mạng ở nông thôn. Tham gia tích cực phong trào sản xuất, làm phân bón, thuỷ lợi v..v. Chị em đã tích cực vận động chồng, con anh em lên đường nhập ngũ. Tổ chức và tham gia “Hội mẹ chiến sỹ” để giúp đỡ những gia đình gặp khó khăn. Có mẹ chỉ có con trai độc nhất nhưng đã động viên con lên đường nhập ngũ. Ngoài những mặt công tác sản xuất, xã hội chị em còn tổ chức tốt đời sống gia đình, chăm sóc ông bà, cha mẹ, nuôi dạy con, cháu thay chồng con em đang chiến đấu trên các chiến trường xa. Thông qua các phong trào, hàng năm qua bình xét có trên 70% số chị em đạt danh hiệu “Ba đảm đang”.

Công tác Mặt trận đã có nhiều cố gắng. Mặt trận đã có khá nhiều thành tích trong việc vận động nhân dân làm công tác tuyển quân, phong trào sản xuất, tổ chức gia đình và công tác xã hội. Các cụ Phụ lão đã tích cực tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng trong các tầng lớp nhân dân. Tham gia phong trào vận động tiết kiệm. Ngoài ra có một số cụ còn trực tiếp tham gia các tổ trồng cây, cùng các mặt công tác khác. Mặt trận Tổ quốc là người động viên thiết thực con cháu hăng hái thi đua thực hiện những nhiệm vụ của Đảng bộ địa phương.

Công tác xây dựng Đảng được Đảng bộ hết sức coi trọng. Trước hết, Đảng bộ gắn công tác xây dựng Đảng với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Trên cơ sở đó Đảng bộ đã vận dụng đường lối chính sách của cấp trên vào hoàn cảnh thực tế của mình và có chủ trương, biện pháp để thực hiện có hiệu quả. Trong việc kiểm điểm, phê bình, tự phê bình cất nhắc, đề bạt cán bộ, phân loại đảng viên, đều được thông qua từ tổ đảng và từ việc thực hiện nhiệm vụ chính trị của mỗi đảng viên mà xem xét.

Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đã chuyển biến rõ nét bằng việc tổ chức học tập quán triệt sâu sắc và kịp thời các chủ trương, nghị quyết của Đảng (nghị quyết 19, 20, 22 và huyện uỷ). Tiếp tục quán triệt nghị quyết 195, chỉ thị 192 về nâng cao chất lượng đảng viên đưa người không đủ tư cách ra khỏi Đảng. Đặc biệt là đợt học tập nghị quyết lần thứ 23 của Ban chấp hành Trung ương Đảng “Về tăng cường sự lãnh đạo và nâng cao sức chiến đấu của Đảng”, thông tin thời sự, chính sách cho toàn Đảng bộ. Ngoài ra còn cử một số cán bộ, đảng viên đi dự các lớp bồi dưỡng lý luận chính trị và học tại chức. Trên cơ sở đó nâng cao thêm một bước về nhận thức đường lối chính sách của Đảng, đạo đức, phẩm chất và năng lực công tác cho đảng viên. Hầu hết cán bộ, đảng viên đã xác định được trách nhiệm của mình trước Đảng, trước dân, nêu cao vai trò tiền phong gương mẫu trên mọi lĩnh vức công tác.

Công tác tổ chức cũng được thực hiện đúng quy trình. Đảng uỷ, chi uỷ hết nhiệm kỳ đều được bầu lại. Thông qua việc kiện toàn tổ chức qua mỗi kỳ Đại hội đã lựa chọn được những đồng chí có đủ điều kiện, tiêu chuẩn vào cấp uỷ mới. Từ việc kiện toàn tổ chức mà nhiều đồng chí đảng uỷ, chi uỷ đã phát huy tốt khả năng, hoàn thành được chức trách nhiệm vụ của mình. Nội bộ được đoàn kết nhất trí hơn, tăng thêm lòng tin tưởng của quần chúng đối với Đảng.

Qua việc thực hiện nghị quyết 195 và chỉ thị 192, Đảng bộ đã coi trọng việc cải tiến sinh hoạt và nâng cao chất lượng sinh hoạt (quy định lịch sinh hoạt hàng tháng cho chi bộ, tổ đảng và nội dung sinh hoạt). Vì vậy số lượng đảng viên đi sinh hoạt đông và đúng giờ hơn. Từ đó mỗi đảng viên đều thấy hào hứng, phấn khởi trong sinh hoạt và lo lắng trách nhiệm của mình.

Cùng với các mặt công tác trên, công tác kết nạp đảng viên mới và xử lý kỷ luật đảng viên cũng được tiến hành thường xuyên, từ năm 1973 đến 1974 đảng bộ đã kết nạp được 5 đảng viên mới.

Vấn đề giữ gìn kỷ luật trong Đảng và xử lý kỷ luật đảng viên có vi phạm được đảng bộ thực hiện rất nghiêm túc. Qua việc xử lý kỷ luật một số đảng viên và đưa những người không đủ tư cách đảng viên ra khỏi Đảng đã nâng cao thêm một bước về đạo đức, phẩm chất cách mạng, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm cho mỗi cán bộ, đảng viên.

Được sự chi viện to lớn và kịp thời của miền Bắc xã hội chủ nghĩa, quân và dân ta giành được những thắng lợi to lớn và liên tiếp trên chiến trường miền Nam, đẩy lùi địch ở khắp nơi, giành quyền làm chủ.

Mùa xuân năm 1975, cách mạng miền Nam đang đứng trước thời cơ thuận lợi, Đảng ta chủ trương mở ra cuộc tiến công và nổi dậy với phương châm thần tốc, táo bạo bất ngờ và chiến thắng. Mở đầu bằng chiến dịch Tây Nguyên, phát triển mạnh mẽ trong chiến dịch Trị - Thiên Huế, Quảng Nam – Đà Nẵng. Và cuối cùng kết thúc bằng chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Sau 55 ngày đêm chiến đấu (5 -3 đến 30 - 4 - 1975). Quân dân ta đã giành được toàn thắng, giải phóng hoàn toàn Miền Nam.

Thắng lợi vĩ đại của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước và đỉnh cao là chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã tạo ra bước ngoặt lịch sử đưa cách mạng nước ta chuyển sang một giai đoạn mới. Giai đoạn cả nước Độc lập, Thống nhất và tiến lên chủ nghĩa xã hội.

Dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Huyện uỷ, Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng đã ra sức phấn đấu, kiên trì khắc phục khó khăn để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ và hết lòng hết sức chi viện cho miền Nam đấu tranh thống nhất nước nhà.

Trên mặt trận sản xuất, xây dựng hậu phương tuy có nhiều khó khăn về thiên tai, dịch họa, nhưng đã chuyển biến mạnh mẽ về nhiều mặt. Quan hệ sản xuất từng bước được củng cố và hoàn thiện. Tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất phát triển mở ra khả năng, triển vọng mới cho sản xuất nông nghiệp.

Trong sản xuất nông nghiệp đã coi trọng các biện pháp kỹ thuật liên hoàn. Đồng thời coi trọng khâu cải tạo đất cùng các biện pháp thâm canh nên năng xuất lúa và tổng sản lượng ngày càng tăng. Hàng năm đều hoàn thành tốt kế hoạch Nhà nước, làm tròn các nghĩa vụ trên giao. Đời sống nhân dân từng bước được cải thiện.

Cùng với phát triển sản xuất nông nghiệp, công tác chăn nuôi, trồng cây, thả cá cũng phát triển khá. Lĩnh vực văn hoá xã hội, y tế, giáo dục đều có nhiều cố gắng vươn lên đạt những thành tích mới.

Chặng đường 20 năm (1955-1975) xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng là chặng đường đầy khó khăn, gian khổ, nhưng thắng lợi rất vẻ vang. Dưới sự lãnh đạo của Huyện uỷ, thấm nhuần nghị quyết chỉ thị của cấp trên, vận dụng vào tình hình cụ thể của xã, Đảng bộ lãnh đạo nhân dân từng bước khôi phục kinh tế, cải cách ruộng đất, cải tạo xã hội chủ nghĩa xây dựng chủ nghĩa xã hội và kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Mỗi chặng đường đi lên, ngoài những thuận lợi cơ bản, cũng có nhiều khó khăn phức tạp. Nhưng được sự lãnh đạo của Huyện uỷ, nhân dân đồng tình ủng hộ, những khó khăn dần dần được đẩy lùi, tạo nên những thuận lợi mới. Đảng bộ lấy công tác giáo dục chính trị, tư tưởng đối với đảng viên, nhân dân đi trước một bước. Lấy hành động cách mạng, người thực, việc thực để động viên cổ vũ phong trào, lấy đấu tranh phê bình tự phê bình trong Đảng và quần chúng để khắc phục mặt yếu kém, phát huy mặt mạnh. Xây dựng tinh thần đoàn kết thống nhất trong nội bộ Đảng, giữa Đảng với quần chúng nhân dân.

Trong công tác xây dựng Đảng, Đảng bộ luôn lấy tiêu chuẩn trong sạch về chính trị, chặt chẽ về tổ chức, vững vàng về tư tưởng, lấy tiêu chuẩn “4 tốt” để rèn luyện đảng viên. Với phương châm: Đảng lãnh đạo tuyệt đối, toàn diện. Tổ chức của Đảng từ một chi bộ có 20 đảng viên sau hoà bình lập lại đến khi thành lập Đảng bộ (12 - 1962) lên 80 đảng viên (gồm 4 chi bộ). Đến cuối năm 1975 số đảng viên răng lên 105 đồng chí. Ở các thôn, các đội sản xuất, các ngành nghề, nhà trường đều có chi bộ hoặc tổ chức Đảng. Trong vòng 20 năm qua Đảng bộ đã kết nạp được hàng chục đảng viên mới, và cũng thời gian đó Đảng bộ đã cung cấp cho các ngành, lực lượng vũ trang nhiều đảng viên.

Về nhiệm vụ xây dựng chủ nghĩa xã hội, Tân Hồng đã thiết lập được quan hệ sản xuất mới, quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Từ chỗ làm ăn manh mún nay cả xã đã có 4 hợp tác xã. Từ chỗ chỉ cấy lúa một vụ, tiến tới cấy 2 vụ, một số diện tích sản xuất 3 vụ. Giống lúa mới có năng xuất cao, ngắn ngày chiếm ưu thế trên đồng ruộng. Bờ vùng, bờ thửa, mương máng, cầu cống, đập nước... tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho tưới, tiêu. Diện tích năng xuất và tổng sản lượng lương thực mỗi năm một tăng.

Về chiến đấu, phục vụ chiến đấu và công tác hậu phương quân đội, đó là những nhiệm vụ thường xuyên và đạt kết quả cao trong những năm chống Mỹ, cứu nước của Đảng bộ và nhân dân trong xã. Lực lượng dân quân tự vệ được củng cố về số lượng, mạnh về chất lượng để trực tiếp tham gia chiến đấu, phục vụ chiến đấu tốt. Năm nào cũng đạt chỉ tiêu trên giao về quân số.

Công tác văn hoá, xã hội đã từng bước chuyển biến mạnh và vững chắc. Trình độ văn hoá của cán bộ đảng viên ngày một nâng cao, tiếp thu và áp dụng kiến thức khoa học kỹ thuật vào sản xuất.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng đã tiễn đưa 365 thanh niên lên đường cầm súng giết giặc, trực tiếp chiến đấu ở các chiến trường A, B, C. Chúng ta nguyện đời đời nhớ ơn các liệt sỹ đã hy sinh anh dũng cống hiến trọn đời mình cho Tổ quốc, cùng với các đồng chí thương binh đã hy sinh một phần xương máu. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nhân dân Tân Hồng đã đóng góp 6.500 tấn lương thực, 520 tấn thịt lợn, hàng vạn ngày công đi dân công hoả tuyến, phục vụ chiến đấu. Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mỹ, lực lượng dân quân tự vệ đã cử một tổ đi phối hợp chiến đấu 12 trận. Xây dựng 4 chốt trực chiến bắn máy bay địch, đào hàng trăm mét giao thông hào, hàng ngàn hố cá nhân, hàng trăm hầm kèo nhà để bảo vệ tính mạng, tài sản nhân dân.

Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng được Quốc hội, Chính phủ tặng thưởng.

- 53 Huân chương kháng chiến Hạnh nhất.

- 70 Huân chương kháng chiến Hạng nhì.

- 106 Huân chương kháng chiến Hạng ba.

- 45 Huy chương Hạng nhất.

- 38 Huy chương Hạng nhì.

- 3 Bằng khen.

Bước sang giai đoạn cách mạng mới, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc. Đảng bộ và nhân dân Tân Hồng sẽ phát huy những thành tích đã đạt được, khắc phục yếu kém để hoàn thành nhiệm vụ do Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng đề ra.

CHƯƠNG NĂM


§¶NG Bé T¢N HåNG L·NH §¹O NH¢N D¢N TRONG X· CïNG C¶ N¦íC X¢Y DùNG CHñ NGHI· X· HéI Vµ B¶O VÖ Tæ QUèC (1975 - 1985)
I. §Èy m¹nh c«ng cuéc phôc håi vµ x©y dùng kinh tÕ v¨n ho¸ sau ngµy ®Êt n­íc thèng nhÊt



1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương