Ăn chay và SỨc khỏE


Bài V - DẦU MÈ TRONG ĂN UỐNG VÀ DINH DƯỠNG



tải về 0.51 Mb.
trang17/17
Chuyển đổi dữ liệu14.06.2018
Kích0.51 Mb.
1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17

Bài V - DẦU MÈ TRONG ĂN UỐNG VÀ DINH DƯỠNG


Mè là một loại thực vật thường được trồng rất nhiều tại các nước nhiệt đới và ôn đới thuộc vùng Á Châu. Hạt của nó rất nhỏ nhưng lại chứa rất nhiều dầu. Có hai loại mè: Mè hạt đen thường được gọi là mè đen và mè hạt trắng thì thường được gọi là mè trắng. Tuy nhiên khi đã ép thành dầu rồi thì người ta chỉ gọi một tên duy nhất là Dầu Mè chớ không có phân biệt đen hay trắng. Mè không được thông dụng tại các quốc gia Âu Mỹ cho lắm, mặc dầu một phần lãnh thổ của Âu Châu và Bắc Mỹ đã có trồng mè. Dầu mè chứa rất nhiều khoáng chất và protein có phẩm chất cao, rất thích hợp cho sự ăn uống và dinh dưỡng của con người.

Dầu mè là một loại dầu thực vật chứa rất nhiều chất béo dễ tan nên được hấp thụ trực tiếp vào tế bào và được cơ thể tiêu dùng ngay. Lọai chất béo này cũng cung cấp khí oxy cho cơ thể để đốt các thức ăn thành ra năng lượng góp phần hữu hiệu trong sự thanh lọc để loại trừ các chất cặn bã. Dầu mè cũng còn phòng ngừa và chữa trị được bệnh táo bón, bệnh ung mủ, da chốc lở và một số bướu độc nữa. Nó cũng công hiệu để làm cho an thần, chữa chứng mất ngủ, kích thích sự hoạt động và gia tăng sức mạnh của cơ tim vì nó chứa nhiều thành phần sinh tố E và đặc biệt rất hữu ích cho người phụ nữ trong thời kỳ thai nghén. Hạt mè và dầu mè là một thứ thức ăn rất tốt cho những bệnh nhân đau gan và mật vì nó là một loại dầu rất dễ tiêu hóa.

Mè hữu ích cho sức khỏe của con người trong nhiều phương diện. Nên chúng ta cần khuyến khích trẻ con ăn nhiều thực phẩm bằng mè để thay thế cho bánh kẹo bình thường vì trong lãnh vực dưỡng sinh mè chứa nhiều chất bổ dưỡng thiên nhiên và hoàn hảo nhất cần thiết cho sự tăng trưởng của cơ thể con người.

Trong xã hội văn minh và hoạt động không ngừng nghỉ, con người lúc nào cũng căng thẳng từ thần kinh não bộ cho đến các cơ quan ngũ tạng. Người ta thường hay ăn uống vội vàng và không chú trọng đến phẩm chất của thức ăn. Cho nên ngoài bao tử ra, gan cũng là cơ quan chịu rất nhiều ảnh hưởng. Tuy nhiên muốn cho gan được khoẻ mạnh và luôn hoạt động điều hòa không gì tốt hơn là phải ngó ngàng và chăm sóc nó. Mè và dầu mè là loại thực phẩm không thể thiếu trong mọi gia đình. Hàng ngày chúng ta có thể ăn mè rang rắc vào cơm gạo lứt, ăn bánh mì mè hoặc có thể dùng dầu mè để trộn xà lách rất thơm ngon và rất tốt cho gan và mật. Mè chứa rất nhiều protein gồm 8 loại amino acids căn bản cho nhu cầu dinh dưỡng. Khi gan và mật khỏe mạnh, sức dề kháng của cơ thể chúng ta cũng mạnh theo, nên có khả năng chống lại được các vi khuẩn viêm gan độc hại xâm nhập vào cơ thể. Khi ăn mè chúng ta phải nhai cho thật kỹ để cho hạt mè nát hẳn hoàn toàn rồi mới nuốt vào thì khả năng hấp thụ dưỡng chất của cơ thể mới có công hiệu hơn.

Mè thường được trồng ở vùng ôn đới có nhiều nắng ấm nên tiếp nhận rất nhiều năng lượng từ ánh nắng mặt trời. Bản thân nó đã là một thứ thảo mộc khỏe mạnh rồi. Nguồn năng lượng khỏe mạnh đó sẽ du nhập vào cơ thể chúng ta bằng đường ăn uống.

Mè cũng còn có khả năng làm giảm cơn đau nhức và bắp thịt mệt mỏi. Chúng ta chỉ cần dùng dầu mè để xoa bóp vào những chỗ đau thì chốc lát sau sẽ thấy thoải mái. Nó cũng là một thứ thuốc nhuận trường rất hay và sử dụng lâu dài chỉ tốt chớ không hề gây ra những phản ứng bất lợi. Mè là một loại thực phẩm hoàn hảo. Nhưng tiếc thay không mấy ai trên thế giới này để ý đến nó. Vậy khi chúng ta sử dụng mè và thấy nó thật sự là một thức ăn tốt thì cũng cần nên phổ biến cho bạn bè và đồng hương. Một khi thân thể khỏe mạnh cường tráng thì bệnh tật khó xâm nhập được.

Tại vùng Cận Đông như ở Palestine, mè được dân chúng coi như là một loại thực phẩm dưỡng sinh và thuốc gia truyền đã được sử dụng từ ngàn xưa. Riêng tại Á Đông, dân Nhật là một sắc dân đã biết tận dụng sự ích lợi của mè để điều trị nhiều loại bệnh tật. Phương pháp Oshawa của Nhật Bản ăn bằng gạo lứt muối mè để chữa bệnh nan y cũng được nhiều người biết và áp dụng có hiệu quả.

---o0o---


Bài VI - SỰ ÍCH LỢI CỦA DẦU Ô-LIU TRONG ĂN UỐNG VÀ PHÒNG CHỐNG BỆNH TẬT


Dầu ô-liu là một loại dầu ăn thảo mộc ngày nay được sử dụng một cách phổ biến trên thế giới. So với mỡ động vật và các loại dầu ăn thảo mộc khác thì dầu ô-liu rất tốt và rất bổ ích cho sức khỏe của con người. Chất béo của trái ô-liu có khả năng kích thích sự tiêu hóa và điều hòa hệ thống tiêu hóa. Đặc biệt hơn cả là lá của cây ô-liu cũng có công dụng như một loại dược thảo. Nó có đặc tính như thuốc trụ sinh có khả năng tiêu diệt được vi khuẩn của một số bệnh tật.

Sự khám phá trên đây không phải là mới mẻ. Từ ngàn xưa loài người đã biết dùng lá ô-liu sắc thành nước uống để chữa trị bệnh nóng lạnh và các bệnh cảm cúm thông thường.

Theo nghiên cứu của các khoa học gia gần đây cho biết, lá ô-liu có chứa một loại dược chất là oleuropein vừa có khả năng như thuốc trụ sinh rất mạnh. Ngoài ra nó cũng chứa hợp chất antioxidant có công hiệu đề kháng lại sự suy thoái tế bào (nguyên nhân gây bệnh ung thư) và còn làm hạ giảm được huyết áp... Hơn nữa nó cũng còn có khả năng tăng gia sức mạnh của hệ thống miễn nhiễm của cơ thể, chống đỡ tiến trình lão hóa của con người và tiêu diệt được nhiều loại vi khuẩn khác nhau.

Ngày nay người ta đã áp dụng phương pháp khoa học tối tân để trích tinh chất của lá ô-liu một cách thuần khiết để chữa trị bệnh cảm hàn, diệt trùng và chữa được một số bệnh nấm độc ở ngoài da. Riêng việc người ta sử dụng lá ô-liu để chữa bệnh cao huyết áp đã được ghi chép trong các sách dược thảo học tự ngàn xưa. Nó cũng còn làm cho bắp thịt được thư dãn, điều hòa sự tuần hoàn huyết và chữa trị được một số bệnh tim thông thường. Nó cũng giúp máu huyết lưu thông đến tận các mao huyết quản, ngăn ngừa được sự đông máu nên có khả năng phòng ngừa được chứng tai biến mạch máu não.

Qua sự trình bày trên đây, chúng ta thấy dầu ô-liu là một loại dầu thực vật rất tốt cho sức khỏe của con người. Vì vậy chúng ta nên sử dụng dầu ô-liu để thay thế cho các loại dầu mỡ khác để vừa xào nấu thức ăn một cách ngon miệng mà lại vừa có khả năng phòng ngừa được một số bệnh tật có ảnh hưởng không tốt cho sức khỏe của chúng ta.

---o0o---


Bài VII - NHA ĐAM HAY LÔ HỘI, CÂY KIỂNG VÀ DƯỢC THẢO


Nha đam hay lô hội thường thấy được trồng khá nhiều tại những nhà yêu thích cây kiểng ở Việt Nam. Một số bà con mình ở thôn quê cũng coi cây nha đam như một loại thuốc dân gian cổ truyền bằng cách lấy chất keo của nó đắp lên mắt nhặm để chữa bệnh đau mắt hay đắp lên vết thương nhẹ để cầm máu. Trước đây đồng bào ta chưa có kinh nghiệm nhiều về công dụng của nha đam vì không có phương tiện nghiên cứu kỹ lưỡng. Tuy nhiên trong những năm gần đây, sau khi khoa học đã khám phá ra công hiệu của nha đam trong lãnh vực y dược, các nhà thương mại chụp lấy cơ hội, thần thánh hóa và quảng cáo rầm rộ để đưa lên thị trường như một loại thuốc tiên và đã giúp cho một số nhà đầu tư trên thế giới làm giàu một cách nhanh chóng. Hiện nay một số tư gia trong cộng đồng người Việt tại Úc Châu cũng trồng nha đam, vừa để làm kiểng và vừa để làm thuốc như một phong trào.

Theo sử sách, nha đam đã được loài người biết dùng từ hơn 4 ngàn năm nay như một loại dược thảo. Năm 1862, khoa học gia George Elbers là người Ai Cập đầu tiên đã khám phá ra công dụng của nha đam được biên chép trong sách cổ đã có từ 3500 năm trước Thiên Chúa giáng sinh. Những khám phá khoa học khác cũng xác nhận chính người Trung Hoa và người Ấn Độ cũng biết dùng loại dược thảo này từ ngàn xưa và đã được ghi chép trong một số sách sử. Các y sĩ của Hy lạp và La Mã thời cổ như Dioscorides và Pliny The Elder đã nhận thấy công hiệu rộng lớn của nha đam và theo truyền thuyết thì Aristotle đã thuyết phục Alexander Đại Đế xâm lăng hòn đảo Socotra ở Ấn Độ Dương để chiếm hữu loại thần dược này hầu trị thương cho binh sĩ của họ bị chiến thương ngoài mặt trận. Nữ hoàng Ai Cập Nefertiti và Cleopatra cũng đã xếp hạng nha đam là một loại mỹ phẩm tốt nhất để dưỡng da thời bấy giờ.

Theo thống kê của các nhà thực vật học, hiện có hơn 200 loại nha đam được tìm thấy trên thế giới gồm cả những loại mọc hoang dã hoặc được người ta trồng tỉa và chăm bón. Nhưng tựu trung chỉ có ba hay bốn loại là có đặc tính dược chất cao và phù hợp theo tiêu chuẩn dược thảo.

Người ta đã dùng chất keo của nha đam để uống hầu điều trị một số bệnh tật hoặc phối hợp với vài loại thuốc khác để làm kem dưỡng da và hiện được bày bán hợp pháp ngoài thị trường với nhiều nhãn hiệu thương mại khác nhau.

Nha đam gồm có 75 hợp chất khác nhau đã được các khoa học gia phân tích và tập trung vào các nhóm chính sau đây:

1.-Nhóm Sinh Tố: Nha đam gồm rất nhiều sinh tố đáng kể như sinh tố A, C và E nên là một loại antioxidant quan trọng có khả năng đề kháng lại sự tự phân hủy và suy thoái tế bào nên ngăn ngừa được sự nguy hiểm của một số bịnh ung thư. Đặc biệt nha đam là một loại thực vật có chứa sinh tố B12 nên rất thích hợp để làm thuốc bổ thiên nhiên cho người trường chay.

2.-Nhóm Chất khoáng: Nha đam hàm chứa các loại chất khoáng cần thiết cho cơ thể như magnesium, manganese, kẽm, đồng, chromium, calcium, sodium, potassium và đặc biệt nhất là chất antioxidant selenium.

3.-Nhóm Amino Acids: Có 22 loại Amino acids cần thiết cho cơ thể của con người để tạo thành protein theo nhu cầu nhưng nha đam đã chứa đến 20 loại. Điều quan trọng hơn cả là có 7 loại amino acids mà cơ thể của con người không thể tự biến chế được mà chỉ hấp thụ trực tiếp từ thức ăn bên ngoài thì nha đam đã chứa đến 7 loại trong số 8 loại này.

4.-Nhóm Đường: Nha đam có chứa chất đường quan trọng là Polysaccharides có tác dụng củng cố hệ miễn nhiễm và trung hòa được một số chất độc trong cơ thể.

5.-Nhóm Enzymes: Hai chất enzymes quan trọng trong nha đam là lypases và proteases có khả năng tiêu thực và làm mạnh bộ máy tiêu hóa nên rất hữu ích cho những bệnh nhân bị bệnh bao tử và đường ruột.

6.-Nhóm Lygnin: Đây là một nguyên tố có khả năng thâm nhập sâu vào da để bảo vệ da một cách rất công hiệu.

7.-Nhóm Saponins: là một nguyên tố có hình thức như bọt xà bông, có công hiệu chống lại các loại vi khuẩn, nấm hoặc men độc làm cho da bị chốc lở hoặc mụn nhọt.

8.-Nhóm Anthraquinones: Có khả năng như thuốc chỉ thống, chống lại sự đau nhức, diệt trừ được một số vi khuẩn và đặc biệt là một loại thuốc nhuận trường rất tốt, êm dịu và dùng lâu không bị quen lờn hay phản ứng bất lợi.

Cây nha đam hiệu dụng trong những trường hợp sau đây:

Chữa lành các vết thương, cầm máu, nhuận gan, giúp ích cho sự tiêu hóa, chống lại sự phân hủy tế bào của cơ thể nên phòng ngừa được sự phát sinh của một số bịnh ung thư độc hại. Nó cũng có khả năng làm chậm lại tiến trình lão hóa và đặc biệt chữa được bịnh ngoài da và làm cho da được tươi nhuận hồng hào. Hiện nay, các loại xà bông kể cả thuốc gội đầu và kem dưỡng da có phối hợp thành phần nha đam thiên nhiên được bày bán khắp nơi trên thị trường nước Úc và đã được khá đông khách hàng chiếu cố.

Tóm lại nha đam hay lô hội là một loại được thảo có công hiệu trong nhiều lãnh vực chữa trị một số bịnh tật. Tuy nhiên một số nhà sản xuất đã cố ý thổi phồng hiệu nghiệm của nó một cách quá đáng hầu quảng cáo để thu đạt được lợi nhuận lớn lao trên thị trường thương mại. Dù vậy, nha đam vẫn là một thứ thảo mộc thiên nhiên thật sự hữu ích và dễ trồng nên chúng ta cũng có thể dùng nó để vừa làm cây kiểng trang trí ngoại thất và vừa làm dược thảo để sử dụng mỗi khi cần thiết.

---o0o---

PHẦN BỐN - PHỤ LỤC

GIỚI THIỆU NÔNG TRẠI HỮU CƠ CỦA MỘT ĐỔNG HƯƠNG VIỆT NAM TẠI TÂY ÚC


Anh Lâm ngọc Sương, trước năm 1975 là một giáo chức tại Việt Nam. Anh đã tốt nghiệp Cử nhân Điện tử Ứng dụng tại Đại học Cần Thơ và đang tiếp tục theo đuổi Cao học tại Đại học Khoa Học Sàigòn. Hiền thê của anh là chị Quách Huỳnh Hoa cũng là một giáo chức, tốt nghiệp Cử nhân Vạn Vật Học. Sau biến cố lịch sử 30-4-1975, anh chị Sương đã mang theo hai con vượt biên và được định cư tại Tiểu bang Tây Úc (Western Australia).

Khi mới đặt chân lên quê hương thứ hai vào năm 1980, anh chị vẫn nuôi ý định tiếp tục nghề cũ vì cả hai đều là những giáo chức rất yêu nghề. Tuy nhiên khi sống tại vùng đất mới, cảnh trí thiên nhiên và thơ mộng ở ngoại ô thành phố viễn tây này như quyến rủ và thôi thúc anh chị can đảm bước qua một ngã rẽ mới của cuộc đời với một thái độ hăm hở và thích thú. Anh chị cảm thấy yêu mến thiên nhiên hơn vì nơi chốn này đã làm cho anh chị hồi tưởng lại cảnh trí êm đềm của vùng đồng bằng sông Cửu mà cả hai đã cùng bất hạnh sinh ra và lớn lên trong thời kỳ nhiễu nhương của đất nước. Anh chị bèn nghiên cứu khoa nông học với phương pháp ứng dụng phân hữu cơ để trồng tỉa hoa màu hầu tung ra thị trường một sản phẩm tự nhiên thuần khiết thích hợp với sự dinh dưỡng hữu ích cho cơ thể của con người. Tuy đây không phải là một công việc nhẹ và dễ dàng, nhưng vì lòng cương quyết dốc tâm cống hiến cho xã hội nên dù thành công hay thất bại cả hai vẫn vui lòng chấp nhận. Anh bảo: ỘMặc dầu tôi không biết tôi có kiếm được một cuộc sống khả dĩ tạm đủ cho gia đình tôi ở nơi xứ lạ quê người này không vì đây là một nghề hoàn toàn mới mẻ mà chúng tôi chưa hề từng trải. Nhưng với một niềm tin vững mạnh, bằng những sản phẩm được chăm bón một cách tự nhiên, chúng tôi có thể giúp cho một số bệnh nhân chẳng may mang phải các chứng bịnh nan y hiểm nghèo sẽ được bình phục sau khi đã dùng nông phẩm hữu cơ của chúng tôi để tự chữa bằng phương pháp dưỡng sinh. Nếu càng nhiều bịnh nhân lành bịnh chừng nào thì chúng tôi càng cảm thấy được an ủi lớn lao về phần tâm linh chừng nấyỢ.

Sau bao năm làm việc vất vả, anh Lâm ngọc Sương đã sở hữu được một thửa đất rộng khoảng 40,000m2 (4 mẫu Tây), tọa lạc về phía Nam của thành phố Perth khoảng 20 phút lái xe. Mùa vụ đầu tiên đã làm cho anh chị Sương vô cùng phấn khởi. Anh đã trồng thử 10 ngàn cây dâu Tây bằng phân hữu cơ để cung cấp cho thị trường Tây Úc. Rất may là năm ấy anh đã trúng mùa. Hơn nữa dâu tây của anh lại có mùi vị thơm và ngọt hơn những sản phẩm tương tợ khác trồng bằng phân hóa học. Do đó khách hàng chiếu cố rất đông và thị trường nông phẩm hữu cơ của anh càng ngày càng lớn mạnh. Sau một thời gian, qua sự học hỏi từ tài liệu nông học và kinh nghiệm thực tiễn, anh chị đã dần dần làm quen với những mùa vụ khác nhau và đã giúp cho bản thân có được những kiến thức chuyên môn vững vàng mà trước đây trong hành trang vào đời anh chị đã hoàn toàn không có.

Như chúng ta đã biết, khoa học ngày nay càng ngày càng tân tiến. Các công việc trồng tỉa cũng được sử dụng bằng phương tiện khoa học và cơ giới. Người ta đã dùng phân bón hóa học và xịt kích thích tố tăng trưởng để cho rau quả được mau lớn, tốt tươi. Họ cũng xịt thuốc diệt trừ sâu rầy để hoa màu khỏi bị hư hại. Vì lẽ đó mà rau quả dầu nhiều hay ít cũng đều bị nhiễm các chất độc hại và phản tự nhiên. Cho nên, những nông phẩm bình thường phần nhiều cũng không phải là những thức ăn dinh dưỡng có phẩm chất tốt như những nông phẩm trồng bằng phân hữu cơ. Các chuyên gia dinh dưỡng cũng thường hay khuyên mình nên ăn nhiều loại rau quả khác nhau để phòng ngừa bệnh tật, nhưng cũng bảo nên dùng các sản phẩm của nông trại hữu cơ là tốt nhất.

Kể từ ngày nông trại hữu cơ của anh chị Sương được thành lập đến nay, khách hàng càng lúc càng đông nên được nhiều người biết tiếng. Những người đến mua sản phẩm của anh phần đông là do các chuyên gia dinh dưỡng và một số bác sĩ tin dùng phương pháp dưỡng sinh kết hợp trị liệu giới thiệu tới. Sau khi điều trị bằng cách ăn chay trường với nông phẩm hữu cơ độ chừng 4 tới 6 tháng, phần đông những người bị bịnh nan y mà đa số là bịnh ung thư đều được bình phục. Tuy nhiên những bịnh nhân đã tới thời kỳ kiệt sức hoặc không còn ăn uống được nữa thì điều trị bằng phương pháp dưỡng sinh hoàn toàn vô hiệu quả. Hiện nay có khoảng 10 người đang chữa bịnh ung thư bằng phương pháp ăn chay trường, thường xuyên đến trực tiếp tại nông trại của anh để được tuyển lựa những nông phẩm còn tươi tốt. Theo anh cho biết trong số này gồm có những thành phần trí thức như viên chức chánh quyền, giáo sư địa chất học và giảng sư của trường đại học mà anh không được phép tiết lộ danh tánh.

Hiện nay thị trường tiêu thụ các sản phẩm của anh cũng khá phổ biến. Tại Tây Úc, các siêu thị Coles và Woolworth đều có bán. Ở các tiểu bang xa thì thường được mua theo lối đặt hàng. Có những người không bị bịnh, nhưng cẩn trọng trong việc ăn uống cũng đặt mua các sản phẩm của anh. Ngoài việc phân phối các sản phẩm hữu cơ trong nội địa Úc Châu, anh cũng có khách hàng tại các quốc gia láng giềng như Tân Gia Ba, Mã Lai và Indonesia, và hàng hóa được chuyển vận bằng đường hàng không.

Nhân dịp gặp gỡ anh hồi cuối năm 1999 vừa qua, anh đã tâm tình: "ÄTôi có thiếu gì cách để làm giàu, nhưng không màng. Vì sự giàu có chưa chắc đã làm cho tôi được mãn nguyện và sung sướng bằng mỗi lần nhìn thấy các bịnh nhân nan y nhờ dùng sản phẩm của tôi mà được lành bịnh".

Được biết anh chị Sương đã ăn chay trường từ nhiều năm nay và có một cuộc sống bình dị theo phong cách thuần hậu của một con người Việt Nam.


 
  TÀI LIỆU THAM KHẢO :

  • By all mean be a Vegetarian, băng video giảng pháp của ngài Thanh Hải Vô Thượng Sư

  • The Higher Tastes, sách ấn tống của Giáo Hội Hare Krishna Úc Châu

  • The New English Bible, The Old Testament (Oxford University Press & Cambridge University Press, 1970)

  • Diet For A New America của John Robbins do Stillpoint xuất bản năm 1983.

  • Go Vegetarian (Vegetarian Society, Australia)

  • New Vegetarian and Natural Health Magazines (Natural Health Association and Vegetarian society, Australia)

  • The Nature Doctor của Bác sĩ H.C.A Vogel do Bookmans Press, Victoria, tái bản lần thứ 50 năm 1995.

  • Nhật báo The Sydney Morning Herald

  • 100 Cây Thuốc Vạn Linh Bá Chứng của Linh mục Vũ Đình Trác

  • Kinh Lăng Nghiêm, bản dịch của Giáo sư Tuệ Quang và Thượng Tọa Trí Độ, do Nhóm Phật tử New South Wales ấn tống năm 2535 Phật Lịch.

  • Lời Phật Dạy (Kinh Pháp Cú), bản dịch của Luật sư Đinh Sĩ Trang, ấn tống năm 1998.

  • Kinh Pháp Bảo Đàn, Bản dịch của Luật sư Đinh Sĩ Trang, ấn tống năm 1999.

  • Food For Life của Bác sĩ Neal Barnard, Three Rivers Press/New York xuất bản năm 1993.

---o0o---


Hết


1   ...   9   10   11   12   13   14   15   16   17


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương