Morris S. Engel Engel, Morris S



tải về 9.25 Mb.
trang5/15
Chuyển đổi dữ liệu13.05.2018
Kích9.25 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15

4. Sự Hu Dụng của Ngôn Ng
Một giá tr cơ bản mà ngôn ngữ có thể đưc sử dụng là cung cấp thông tin về thế giới, thí dụ: "Cái bàn này đưc làm bằng gỗ sồi" hay "Tôi làm mất đồng hồ rồi". Mc đích chủ yếu của ngôn ngữ là truyền tải thông tin đưc miêu tả, không phức tp, không mơ hồ. Nhưng có lẽ chúng ta cũng sử dụng ngôn ngữ để biểu lcảm giác của mình hay để gợi lên cảm giác của ngưi khác. Chúng ta hét lên "Tht là một ngày đẹp tri!", không cho ngưi khác biết về thời tiết nhưng để biểu lộ niềm vui của ta về nó. Hoặc chúng ta có thể nói với chủ nhà : "Dưng như ở đây hơi lạnh", không như một lời nhận xét bình thưng nhưng để thuyết phục họ bật máy điều hòa.
Nói ngắn gọn, ngôn ngữ có thể đưc sử dụng không chỉ cung cấp tin tức mà còn trnh trọng và gây xúc cm, giữa một sự đa dạng của những giá tr sử dụng khác. Mỗi giá

trị sử dụng có phạm vi hợp lý của nó. Những gì có thể đáng chê trách, tuy nhiên, nó li gây nhầm lẫn đi với những ngưi khác. Một vài sự nhầm lẫn về ngôn ngữ và mục đích chỉ

đơn thuần là sự tiêu khin. Lời chào "Bạn khỏe không?" thực sự không phải là một lời yêu cầu thông tin về tình trng sức khỏe của ngưi khác. Câu trả lời thích hợp rất đơn giản "Tôi khỏe, cám ơn bạn".


Quan trọng hơn sự nhầm lẫn này giữa giá tr sử dụng trang trọng của ngôn ngữ với giá tr thông tin là sự nhầm lẫn của biểu lcảm xúc và cung cấp tin tức. Trong những tng hợp như thế, ngôn ngữ có thể đưc sử dụng không thích hợp với mục đích và có thể đưa chúng ta tới mục tiêu một cách vòng vo hay làm lạc hưng chúng ta. Bài diễn văn

"Cây Thập Giá Bằng Vàng" (Cross of Gold) nổi tiếng ca William Jennings Bryan đối lập với bảng vị vàng đưa ra một thí dụ minh họa sâu sắc về ngôn ngữ cảm xúc. Sự mnh mẽ của nó, đưc trình bày trong những từ cuối như sau: "Bạn sẽ không đè nặng lên trán ngưi lao động những bụi gai này. Bạn sẽ không đóng đinh nhân loại lên một cây thập giá bằng vàng!" Yêu cầu khẩn khoản của Bryan lợi dụng những cảm giác sâu kín kết hợp vi chủ nghĩa tưng trưng thuộc về tôn giáo của bức tượng Chúa Giê-xu bị đóng đinh trên thánh giá, cây thập giá và đầu những bụi gai. Bằng sự liên kết những vấn đề của bảng vị vàng với những biểu tưng tôn giáo này, bài diễn văn đã cố gắng chuyn tải đến biu tưng vàng những cảm xúc mạnh mẽ với những biểu tưng tôn giáo này đưc củng cố lâu dài.


Yếu tố chủ chốt để cô lập khi tìm hiểu chắc chắn một giá tr sử dụng ngôn ngữ đưc đưa ra thích hợp hay không là mục đích ca nó. Có phải mục đích chủ yếu của sự truyền đt thông tin là để cho một ngưi nào đó biết? Nó có biểu lộ những cám xúc nào đó? Nó có ý đnh khiến chúng ta làm một điều gì đó hay không? lẽ nó là tất cả cùng

một lúc? Đ thiết lập mục tiêu, cần cân nhắc ngôn ngữ có đưc bảo vệ với mục tiêu đó hay không. Nếu những cơ sở lập luận riêng lẻ đang b đe dọa, mt việc sử dụng quá nhiu ngôn

ngữ đưm màu cm xúc có thể ch một cản trở và đưc đánh giá vi sự ngờ vực. Thậm chí nghệ thuật tu từ sẽ bị lãng đi, nơi mà thông tin là mục đích duy nhất. Với những cơ sở



lập luận được truyền đạt một cách hiu quả nhất khi chúng đưc bắt đầu trong một cách thẳng thắn và khách quan.
Sự thật là ngôn ngữ cảm xúc thưng bị hạn chế hợp lý không có nghĩa trong bất cứ cách nào trong một kiểu mẫu kém hơn của ngôn ngữ. Một nhà nhơ, thuộc lĩnh vực hàng đầu không phải là lý trí, có khả năng đạt đưc mc đích của họ bằng cách lựa chọn t ngữ mà chúng ta có thể đánh giá cao bằng những cảm giác đúng hơn là lý trí của mình. Điều này có lẽ là ý nghĩa li nhận xét của T. S. Eliot rằng thi ca nói chung có thể truyền đạt

đưc ý nghĩa của nó trưc khi ngưi ta có thể hiu. Đó cũng chắc chắn là nguyên nhân của cơ sở lập lun những cố gắng để biến đổi một bài thơ thành những thuật ng hoàn toàn dễ hiểu bởi lý trí của chúng ta có khuynh hưng trit phá nét đặc trưng mà nó có giống như một bài thơ. Ngưi ta nói rằng Alfred Noyes Tennyson đã phn đối câu nói của William, "Và ngồi tn bãi cỏ cùng thưng thức thức uống thơm ngát chiết từ thảo mộc Trung



Quốc" Tennyson nêu lên câu hỏi "Ti sao ông ta không nói: Ngồi trên bãi cỏ uống trà?", tuy nhiên, ly câu của những từ đắc để miêu tả và dẫn chứng những khía cạnh đặc bit nào

đó về kinh nghiệm dùng trà, mặc dù nó chỉ đạo để gilại ni dung về ngữ nghĩa học. Mục đích của các nhà thơ, cũng như của tất cả giá trị sử dụng của ngôn ngữ, là để tận dụng các từ ngữ thích hợp cho nhiệm vụ sắp tới.


Tuy nhiên, giá trị cảm xúc của một bài diễn văn hay tiểu luận không liên quan đến giá tr hợp của nó. Khi chúng ta đọc hay nghe một quan điểm hợp lý, chúng ta chỉ quan tâm đến nội dung thông tin của lời nhận xét và hỗ trợ một số lời phát biểu đến những ngưi khác.
Đúng là như thế, nó là một tín hiệu của sự tinh tế có thể nhận ra những giá tr sử dụng khác nhau của ngôn ngữ và để đánh giá những trưng hợp của mỗi giá tr sử dng bởi tiêu chuẩn thích đáng của chúng. Nhưng, khi chấp nhận rng không có một bài din thuyết hay tiểu luận nào đơn thuần là không có giá tr bởi vì nó gây cảm xúc, chúng ta cần kềm chế trong suy nghĩ và cảm giác rằng mức độ cảm xúc ca một lý luận không có nảy sinh bất cứ điều trên giá tr của nó.

5. Sự Ti Nghĩa và Mơ Hồ
Sự tối nghĩa và mơ hồ thì tương tnhư nhau, chúng đều là đặc tính của ngôn ngữ không chính xác. Tuy nhiên, có một sự phân biệt giữa chúng. Một từ hoặc sự miêu tả đưc gọi là tối nghĩa nếu nó có nhiều hơn một nghĩa. Nó mơ hồ nếu ý nghĩa của nó không rõ ràng. Ngôn ngữ tối nghĩa gây khó khăn cho chúng ta với một số ý nghĩa, mà vấn đề ý nghĩa nào chính xác thì khó mà xác đnh đưc, trong khi mơ hồ chúng ta có nhiêm v phải

tìm ra bất cứ những ý nghĩa nào mà nó có. Nói: "Đó là một quyển sách tồi nhất mà tôi từng

đọc" là một lời nhận xét tối nghĩa. "Ôi, một quyển sách" là câu mơ hồ.
Trong nhiều tng hợp ngữ cảnh (context), ngôn ngữ tối nghĩa nảy sinh sẽ xác đnh ý nghĩa nào đưc ngụ ý. Tầm quan trọng ca ngữ cảnh tất yếu không phải là một khuyết điểm của ngôn ngữ nhưng đúng hơn là một dấu hiệu của sự linh động. Cho đến khi đặt vào một ngữ cảnh cụ thể, một vài từ ngữ hoàn toàn có lợi nhất thiết vn không đưc xác đnh. . Ví dụ, "rầu" cũng có nghĩa là “buồn” cũng có nghĩa là "lo lng”. Tuy thế,

nếu chúng vẫn không xác đnh vị trí trong một ngữ cảnh, những từ ngữ như thế đưc gọi là tối nghĩa.


Trưng hợp mơ hồ thì khác. Một số từ ngữ thưng rất mơ hồ, không kể tới ngữ cảnh, với những ý nghĩa của chúng không đơn thuần và không xác đnh mà còn không rõ ràng. Ví dụ, tgiàu có luôn mơ hồ, vì nó không bao giờ rõ ràng sự giàu sang một con ngưi có đưc là bao nhiêu trưc khi dành để gi họ giàu sang. Không giống như tối nghĩa (sự thật là ngữ cảnh thay đổi nghĩa của từ), mơ hồ có một số nguyên do. Đôi khi mơ hồ chỉ phản ánh sự nhầm lẫn của chúng ta. Ví dụ, ở độ tuổi nào một ngưi đưc gọi là "trung

niên"? một ngưi bị hói như thế nào trưc khi chúng ta gọi một cách chính xác là ngưi

đó "bị hói đầu"?
Tuy thế, ở những thời điểm khác, mơ hồ không liên quan tới sự khiếm khuyết về mức độ rõ ràng nhưng đúng hơn là sự bào mòn tự nhiên của ngôn ngữ. Những từ ngữ nào trở nên cằn cỗi do vic lạm dụng, làm mất đi tính chính xác mà chúng có. Những từ thuộc về phạm trù này bao gồm tt, thú v, tuyệt, tao nhã đưc ưa chuộng. Trong điều kiện một vài từ mơ hồ chứa đựng quá nhiều nghĩa, chúng smất đi tính chính xác. Ví dụ: dân chủ, chủ nghĩa cộng sản, nghệ thuật, sự tiến trin, văn hóa và thậm chí ngay cả tmơ hồ. Trong những trưng hp như thế những thuật ngữ cần đưc đnh nghĩa trưc khi sử dụng. Cuối cùng, ví dụ một từ ngữ vừa tối nghĩa li vừa mơ hồ - đó là từ nghệ sĩ.

Ngôn ngữ có thể đưc sử dụng theo một lối đơn giản để đem lại thông tin, để

biểu lcảm xúc hay gợi lên trong ngưi khác cm xúc, đưa ra những chỉ dẫn

hoặc trình tự (một cách trực tiếp), hay hưng dẫn tiêu chuẩn trao đổi xã hi (trnh trọng).

Khi những giá tr sử dụng này bị xáo trộn, ngôn ngữ đưc chọn có thể không thích hợp với tình huống, và do đó không đạt hiệu quả.

Nếu một tranh luận được bày tỏ nhiều hơn ngôn ngữ cung cấp thông tin, xác đnh những ý nghĩa cơ bản làm cho chúng ta đánh giá nó tốt hơn.

Một từ hoặc một biểu hiện có thể hiu hơn một nghĩa đưc xem tối nghĩa

Một từ hoặc một biểu hiện không đưc rõ ràng gọi là mơ hồ.

Mơ hồ có thể là kết quả từ sự lẫn lộn về ý nghĩa chính xác của một từ; nó cũng có thể phản ánh sư lạm dụng của từ ngữ.

6. Nhng Tranh Lun về TNg
Trong sự khảo sát ca chúng ta về vai trò của ngôn ng trong tranh luận, thật quan trọng để tạo nên một sự phân biệt giữa hai dạng của tranh luận, tranh lun thực tế và tranh luận về từ, trưc khi tiến tới phân tích những tranh luận cụ thể trong Phần II. Một tranh luận đưc cho là thực tế khi một ý kiến cho rằng một nhận xét nào đó thật trong khi một

số ý kiến khác cho là sai. Những tranh luận thực tế nảy sinh khi những quan điểm khác nhau xác thực tồn tại đi với những vấn đề thực tế.


Mặt khác, tranh luận về từ hay ngôn ngữ xuất hin khi một ý kiến tin rằng một

nhận xét nào đó là đúng trong khi mt ý kiến khác cho rằng nhận xét khác là sai. Đúng hơn là một ý kiến khác nhau trên cùng một nhận xét, có một quan điểm khác trên cùng mt vấn đề. Như thế trưng hợp những ý kiến tranh luận bất đồng bởi không ý kiến nào nhận thức

rõ tranh luận bên nhận xét như nhau.
Trong tranh luận về tnhững ý kiến có hoặc không thể đưc tán thành đi với sự kiện trong những trưng hợp, bởi vì cách mà mỗi ngưi hiểu những từ ngữ mấu chốt trong tranh luận, họ không thể nói lên tranh luận của họ thật sự không kể đến họ có đồng ý hay không. Nhng lý luận về "Ồng Trời" xãy ra thưng xuyên trong trạng thái tự nhiên này. Trong những lý luận như thế đó là một sự đánh giá một tranh luận để thấy rằng, tnhững nghĩa mỗi ý kiến về Ông tri đều khác nhau, không tranh luận về tất cả những vật chất giống nhau. Một sinh viên khoa thần học đã thốt lên sau một tranh luận điển hình : "Bây giờ tôi hiểu rồi! Ông Chúa tri của bạn là ma quỷ của chúng tôi, và ma quỷ của chúng tôi

là Ông tri của bạn!"


Thông suốt chương này, chúng ta thấy những từ ngữ không đơn thuần chỉ đáp ứng cho việc truyền đạt thông tin mà còn cả cảm giác, thái độ và quan đim. Từ những t ngữ giống nhau có thể truyn đạt thông tin, thnh thoảng cũng đưc dùng để biểu lcảm xúc và quan đim, chính là nguyên nhân của những sự nhầm lẫn về từ rất tng xuyên. Để có đưc sự nhất trí, những ý kiến tranh luận phải phù hợp không chỉ đối vi những ý nghĩa

mô tả của chúng mà còn cả những ý nghĩa biểu lộ đạt yêu cu.


Một thí dụ thích đáng là từ sự xâm lưc, đặc bit đưc sử dụng trong tranh luận quốc tế. Trong khi ý kiến của hai quốc gia có th thống nhất có nghĩa diễn đạt (expressive) của từ - đó là một từ "xấu"- họ không thống nhất về ý nghĩa mô tả (descriptive) của nó. Vì thế, đối vi một bên, sự xâm lưc dường như không bao gồm sự tuyên truyền; không đưa thiết bị quân sự, không đưa cơ quan tình báo hay tiếng súng vào một quốc gia khác, không thiết lập quân đội nưc ngoài với cơ quan ch thị chính yếu Đối với bên kia, tt cả những cái trên là hành động xậm c. Giờ đây, bên này chê trách bên kia là đạo đức giả khi bên kia từ chối trách nhiệm về việc làm sai trái của "sự xâm c" là không hiểu đưc những vấn đề của ngữ nghĩa học tiềm ẩn sự hiểu lầm này. (TQ hiệu đính, một bên mang quân đội, vv.... vào một nưc khác, họ không coi đó là hành động xâm lưc, mà hành động giải phóng, trong khi bên kia thì coi việc sử dụng quân đội, vv... là hành động xâm lưc. Hai bên đồng ý về ý nghĩa diễn đạt của từ "xâm lưc" là xấu sa, nhưng hai bên không đồng ý

về ý nghĩa diễn đạt của từ "xâm lược": thế nào đưc coi là xâm c).


Một thí dụ khác, hãy tưởng tưng một tranh luận về sự xâm lưc mà một sự tán thành trên ý nghĩa của từ nhưng một bên nhấn mnh rằng nó không chỉ miêu tả tính tư lợi đưc khai sáng, trong khi một ý kiến khác cho rằng nó phải đáng lo ngại. Sau đó, những tranh luận vtừ có thể nảy sinh trong cả hai chiu hưng: (1) mặc dù khi cả hai bên góp phần tham gia vào mức độ gây cảm xúc giống nhau của vấn đề, không giống như sự am hiểu về mức độ miêu tả; (2) hay mặc dù khi cả hai bên đều thống nhất trong những mức độ miêu tả của vấn đề, có những câu trả lời hoàn toàn khác nhau vmức độ gây cảm xúc. Cả

hai dạng tranh luận về từ thưng đưc bổ sung bởi một khả năng phán đoán của vấn đề nan giải. Những ngưi cảm thấy không chắc chắn trong những cuộc tranh lun hay họ nên tiến hành như thế nào. Trong những trưng hợp này, phương thức tốt nht là để xác đnh v trí bằng cách tìm hiểu một ý kiến khác về những gì họ muốn nói bởi những thuật ngữ ca vấn đề .


Một tranh luận có thể bng lời nói cho đến khi có một khả năng phán đoán xa hơn, như trong câu hỏi tng gặp sau đây đối với những sinh viên mới bằt đu của khoa triết học: Một cái cây ngã trong một khu rừng bỏ hoang có gây ra một âm thanh không? Rõ

ràng chỉ có một từ mấu chốt trong câu hỏi này và đó là từ âm thanh. Từ câu trli chúng ta sẽ có khuynh hưng đưa câu hỏi này phụ thuộc vào ý nghĩa mà chúng ta gán cho từ đó,



thật quan trng nếu chúng ta thiết lập sự khởi đầu chỉ với nhng gì nó hàm ý. Đáng tiếc, khi đưc sử dụng trong ngữ cảnh này, nó là ti nghĩa, bởi vì nó có thể vừa là một cm giác có thể nghe thấy (a) hay một chuỗi sóng trong không khí có khả năng gây ra một cm giác có thể nghe thấy (b) khi chúng tác đng vào tai con ngưi. Vì vậy, câu hỏi cây ngã trong một khu rừng bỏ hoang có tạo nên âm thanh hay không có thể trả "có" hoặc "không" - một trong hai câu trả lời đều hợp lý như nhau phụ thuộc vào ý nghĩa mà chúng ta gắn liền cho từ then chốt. Chúng ta có thể trả li "Vâng, nó tạo nên âm thanh, nếu chúng ta muốn nói âm thanh ở đây là 'sự dao động trong không khí'. Những dao động như thế nảy sinh một cách hiển nhiên mọi người ở đó có thể tiếp nhận đưc chúng hay không. Mặt khác, chúng ta cũng thể tr lời: "Không, nó không tạo ra âm thanh, nếu chúng ta muốn nói âm thanh là sự cảm nhận những cảm giác hiện thời. Khi không có ai ở đó để cảm nhận những cảm

giác như thế thì ta nói không có âm thanh nào đưc tạo ra". Tranh luận truyền thống không còn sử dụng đưc nữa để tr lời câu hỏi này theo từng chữ một về bản chất, với cuộc tranh



luận đưa ra sự nhm lẫn ở đó là một sự khác nhau trong một vấn đề riêng lẻ giữa nhng ý kiến khi sự thật chúng tranh luận về hai vấn đề riêng biệt.

7. Định Nghĩa
Bất cứ ai đưa ra một cuộc tranh luận cho sự cân nhắc nghiêm túc là một nhiệm vụ để phát biểu giả thuyết và kết luận ca họ một cách rõ ràng. Một phương pháp tạo nên một cuộc tranh luận rõ ràng là đưa những đnh nghĩa của những thuật ngữ mu chốt. Một đnh nghĩa là một lời nhận xét rằng một từ hay một cm từ có ý nghĩa giống như một từ hoặc cụm từ khác. Nó gm có 3 yếu tố: (1) sự diễn t đưc đnh nghĩa, mà những nhà lo-gic học gọi là một từ hay ngữ đang đưc định nghĩa; (2) sự diễn t hạn chế nội dung của từ hay

ngữ , gọi là xác đnh đặc điểm và (3) một sự khẳng đnh hay sự quy đnh rằng sự diễn t



đưc đnh nghĩa có cùng ý nghĩa như sự diễn thạn chế nội dung của từ hay ngữ. Thí dụ, nếu chúng ta chấp nhận tài liệu gốc của Tân từ điển Webster, từ cơ duỗi có thể đưc trình bày rõ ràng như: Cơ duỗi có nghĩa là "một cơ bắp hỗ trợ cho việc co dui một bộ phận của cơ thể ( như chân, tay)". Sự biểu hiện đưc đnh nghĩa (một từ hay một ngữ đang đưc đnh nghĩa) là từ cơ duỗi, một từ không quen thuộc lắm với hầu hết chúng ta. Sự biểu hiện hạn chế nội dung của từ hay ngữ (đnh nghĩa) là "một cơ bắp hỗ trợ cho việc co duỗi một bộ phận của cơ thể ( như chân, tay)", một mệnh đề mà chứa những từ ngữ rất quen thuộc với chúng ta.

Những nhà lo-gic học tham khảo những đnh nghĩa giống như vậy từ Tân từ điển Webster như những đnh nghĩa tưng thuật (reportive definitions) và đối chiếu chúng với những đnh nghĩa ưc định (stipulative definitions). Một đnh nghĩa tưng thuật như một lời phát biểu rằng một từ ngữ hay cụm từ đưc sử dụng trong một kiểu cách nào bởi một nhóm ngôn ngữ học cụ thể, ví dụ như những phát ngôn viên của Anh Ngữ tiêu chuẩn. Mặt khác, một đnh nghĩa ước đnh là một li phát biu bởi một ngưi nói hay ngưi viết có ý đnh sử dụng một từ trong một đưng lối nào đó. Đnh nghĩa tưng thut có thể được đưc đánh giá là đúng hoặc sai. Những đnh nghĩa ước đnh có thể chỉ đưc đánh giá là hữu ích hay vô ích. Trong nhiều tng hợp dạng hữu ích nhất của đnh nghĩa cho mục đích của tranh luận một sự kết hợp giữa tưng thuật và ưc đnh. Chúng ta hãy gọi nó là đnh nghĩa bình giải (explicative definition).
Một từ ngữ tùy thuộc vào một đnh nghĩa bình giải có một điểm mấu chốt mà mọi ngưi đồng ý, nhưng phần tối nghĩa mơ hồ phải đưc gạn lc trưc khi sử dụng trong tranh luận. Một định nghĩa bình giải chấp nhận cách sử dụng thống nhất của smô tả đưc đnh nghĩa nhưng tiếp tục ưc đnh sự mô tả đó đưc sử dụng như thế nào trong những trưng hợp không đưc làm rõ ràng bởi từ điển tưng thuật của nó thống nhất về cách sử dụng.

Thí dụ, gis một ngưi đang tranh luận rằng những quốc gia trong khi thị trưng chung Châu Âu nên tạo thành một cộng đồng liên bang. Anh ta sẽ phải đnh nghĩa thế nào là cộng đồng liên bang. Đnh nghĩa phải phù hợp với li mô tả đưc sử dụng bởi những ngưi nói. Thí dụ, một ngưi không thể xem nhẹ sự mô tả đnh nghĩa ý kiến của những thực thể chính trị đc lập từ bỏ chủ quyền của họ đến một chính quyền trung ương. Tuy nhiên, một tưng thuật không đáng kể về cách sử dụng chuẩn của cộng đồng liên bang sẽ không đưc rõ

ràng bao nhiêu và hình thức chủ quyền nào một nhóm thực thể chính trị độc lập sẽ phải từ

bỏ một chính quyền trung ương để kể đến như một cộng đồng liên bang. Ở điểm này, anh ta sẽ phi ước đnh từ ngữ đưc sử dụng như thế nào trong lý lẽ riêng bit của anh ta. (TQ hiệu đính, ý chính của đan này là, có những từ khái quát chúng ta cần phi đnh nghĩa tc khi tranh luận; nhng từ đó như "cộng đồng", "liên bang", "đoàn kết", v.v.... Ví dụ, chúng ta hiu thế nào là đoàn kết, nhưng "đoàn kết" bao nhiêu thì mới đưc coi là đoàn kết, và nếu thiếu một chút thì gi là gì?).


Đnh nghĩa của từ điển Webster về cơ duỗi là một ví dụ về những gì các nhà lo-gic học gọi là định nghĩa mi dấu hiệu phân biệt đặc trưng (per genus et differentia). Mt đnh nghĩa về mi dấu hiệu phân biệt đặc trưng là một sự mô tả đnh nghĩa nói đến điều khoảng đối với nhng lớp cùng chủng loại của nó và sau đó phân bit nó từ tt cả những hạng loại khác trong tầng lớp đó. Thí dụ, Webster phân loi một cơ duỗi như một cơ bắp và sau đó tiếp tục chỉ ra loại cơ bắp cụ thể đó. Không phải tất cả các từ ngữ đều có thể đnh nghĩa theo hưng đó, nhưng có nhiều tvẫn có thể, một đnh nghĩa hoàn chỉnh mỗi dấu hiệu phân biệt đặc trưng là một công cụ đặc trưng của tư duy.
Mục tiêu ca một đnh nghĩa hoàn chnh là phi rành mạch. Smô tả hạn chế nội dung của từ hay ngữ phải rõ ràng đi với ngưi nghe hoặc ngưi đọc hơn sự mô tả đnh nghĩa. Nó không sử dụng sự hạn chế nội dung ca từ hay ngữ làm một từ then chốt ca một lý lẽ trong những từ ngữ mà chính chúng là mơ hồ hay không rõ nghĩa, đối với giá tr

của những đnh nghĩa đưc đưa ra đó là sự tương đồng về mặt ngữ pháp với từ hay cm từ đưc đnh nghĩa, về ngữ nghĩa, sự mô tả hạn chế nội dung ca từ của bất cứ đnh nghĩa nào



đưc thay thế trong bt cứ ngữ cảnh thuộc ngôn ngữ học nào đối với sự mô tả đnh nghĩa. Đnh nghĩa trên về cơ duỗi đáp ứng nhu cầu này, từ đó cơ duỗi là một danh từ và " một cơ bắp hỗ trợ cho việc co duỗi…" là một cụm danh từ.
Một đnh nghĩa tưng thuật hoàn chỉnh phải tht chính xác. Một đnh nghĩa là chính xác nếu và chỉ nếu sự mô tả hạn chế nội dung của từ ch áp dụng vào tất cả những mục mà sự mô tả đnh nghĩa của nó đưc ứng dụng. Nếu sự mô tả hạn chế nội dung của từ của một đnh nghĩa chỉ áp dụng vào một vài điu khoảng đưc gọi tên một cách chính xác bởi sự mô tả đnh nghĩa, sau đó chúng ta nói rng đnh nghĩa đnh nghĩa b hạn chế. Gỉa sử, thí dụ một ngưi nào đó đnh nghĩa từ giáo dục là "sự phát triển của khả năng để hiểu một cách rõ ràng". Ngữ đnh nghĩa của nó bao trùm phần mà sự mô tả đnh nghĩa nói đến một cách chính xác. Nhưng bởi vì nó không đưc áp dụng cho những trưng hợp chính xác của giáo dục - ví dụ, sự phát triển của thị hiếu văn chương hay sự am hiểu lịch sử - đnh nghĩa quá hạn chế. Mặt khác, giả sử một ai đó đnh nghĩa giáo dục là "sự điều chỉnh tổng thể của cá nhân đối với môi tng của họ". Đnh nghĩa này là quá khái quát. Sự tả hạn chế nội dung về tcủa nó áp dụng vào những hoạt động và quy trình mà chúng ta không tính toán đưc những điều ám chỉ của giáo dục, thí dụ, sự phản xạ của cái chớp mắt.
Cách để kim tra độ chính xác của đnh nghĩa, rt đơn giản: nó phải đưc đặt vào những thí d. Ngưi ta nên cố gắng suy nghĩ về một điều gì đó mà sự mô tả đnh nghĩa ám chỉ rằng sự tả hạn chế nội dung của từ không bao trùm, hay ngưc lại. Nếu điều đó có thể đưc thc hiện, đnh nghĩa không đưc chính xác và ví thế, đối với mục tiêu của lý luận chính xác trở nên vô ích.
Khi viết một bài tiểu lun có luận chứng, thông thưng chúng ta cần dành ra nhiều hơn một câu để đnh nghĩa mỗi từ then chốt. Nó thưng đòi hỏi một đoạn văn - đôi khi là một phần của bai tiểu luận- để phát triển đnh nghĩa. Ba đoạn văn sau trích từ Phạm vi của tiểu thuyết của Cleanth Brooks và Robert Penn Warren chlà điểm bắt đầu những cố gắng của họ để làm rõ ràng hơn những gì họ muốn nói khi chúng ta cho rằng cốt truyện ca một quyển sách tiểu thuyết:
“Bây giờ chúng ta s c gắng tạo ra một nhận xét h thng v tự nhiên của cốt truyện. lẽ chúng ta bắt đầu với - khái niệm: thể nói cốt truyện nhng gì xãy ra trong một câu chuyện. chuỗi nhng s kiện duy như s khác nhau từ nhng người đã đồn hết tâm trí vào nhng s kiện sự khác nhau từ nhng ý nghĩa của s kiện. Chúng ta tạo nên một s phân biệt như thế thậm chí chúng ta biết thật s chúng ta không thể tách rời một hành động từ một nhân đưa ra nó, hoặc từ ý nghĩa của như một hành động. Nét độc đáo điều chúng ta tạo ra trong đầu mình không sẵn trong tiểu thuyết cấu. Đ hiểu hơn v bản chất tự nhiên của một câu chuyện, chúng ta phân tích tính đồng nhất câu chuyện nhng chúng ta trải qua trên thc tế trước khi quá trình phân tích được bắt đu.”
Cốt truyện là những gì xãy ra trong một câu chuyện - đó là một đại khái hoàn

chnh- and ready cách để đặt vấn đề. Nhưng chúng ta xét tới một bưc xa hơn. Chúng ta có thể nói, ct truyện cấu trúc ca mt hoạt động hiện ti trong một quyển sách tiểu thuyết. Chúng ta sẽ nhận thấy, nó không phải là cấu trúc của một hoạt động mà chúng ta tình cờ

tìm thấy, mà t chúng mang đến cho ta. Chúng ta dựa vào stương phản này giữa một hoạt động "thô"- hoạt đng giống như nó nảy sinh ra trên thế giới - và mt hoạt động trong câu chuyện, đó là những hoạt động đưc thực hin khéo léo bởi ngưi kể chuyện.
Ở đây chúng ta đang sử dụng từ hoạt động theo một lối đặc biệt. Chúng ta không có ý nói một sự kiện riêng lẻ - John đập Jim bằng một hòn đá, Mary đặt quyển sách lên kệ. Chúng ta muốn nói về những chuỗi sự kiện, một sự vận động suốt thi gian, biểu lộ tính đồng nhất và đầy ý nghĩa. Nó là một chuỗi các sự kiện đưc liên kết vận động suốt ba giai đoạn một cách hợp lý - phần mở đầu, phần giữa và phần kết thúc. (Englewood Cliffs, N.J.: Prentice Hall, 1960, trang 51-52)
Dù chúng ta miêu tả được hay không những gì Brooks và Warren đang thc hiện như việc đưa ra một đnh nghĩa về từ cốt truyện văn chương hay gạn lọc khái niệm của có truyện trong tiểu thuyết, sự tranh luận của họ là một thí dụ rõ ràng về những gì ngưi ta tng phải làm để loại trừ từ bài din văn hay tác phẩm, từ suy nghĩ những ttối nghĩa và mơ hồ.
Một tranh luận về từ hay ngôn ngữ học khác với một tranh luận thực tế vmột vần đề đưc đưa ra. Trong tranh luận về từ, một ý kiến tin rằng một nhận xét bào là đúng một ý kiến khác lại cho là sai. Sự bất đống ý kiến dẫn đến vấn đề: lời nhận xét nào sẽ đưc thảo luận?

Những tranh luận về từ duy nhất gây sự chú ý của chúng ta, rt khó để nói tranh luận thực tế là gì, hoc nếu nó cùng tồn tại.

Để hiểu những tranh lun đó và những tranh lun thực tế, những ý kiến phải thống nhất về cả ý nghĩa miêu tả va biểu lộ ca ngôn ngữ và nhận xét đưc sử dụng.
Một bưc quan trọng trong việc xây dựng một lý lẽ rõ ràng là đưa ra những đnh nghĩa của từ hay hình minh họa nổi bật. Nếu một đnh nghĩa rõ ràng có thể hạn chế đưc những tranh luận về từ.

Một đnh nghĩa hoàn chỉnh phải chính xác và d hiểu hơn t ngữ mà định nghĩa. Nó cũng phải đưc tập trung vào: đủ rõ ràng để bao hàm tất cả nhng tng hợp có thể biết và hình dung đưc vật chất đưc miêu tả, và đủ hạn chế để loại trừ bất cứ những gì còn li từ việc phù hp với đnh nghĩa giống nhau.

Một đnh nghĩa tưng thuật sắp đt một từ hay một ngữ đưc sử dụng như thế nào bởi một nhóm ngôn ngữ tổng thể (thí dụ, nhng ngưi nói tiếng Anh chuẩn). Đây là nghĩa thông dụng của từ.

Một đnh nghĩa ưc đnh miêu tmột cách riêng biệt mà một ngưi nói hay ngưi viết có ý đnh sử dụng một từ trong một thời gian ngắn. Do đó, đây có thể là một đnh nghĩa khác với ý nghĩa thông thưng.

Một đnh nghĩa gii thích kết hợp vi những đnh nghĩa tưng thuật và ước đnh là một loại hình sử dụng hiệu quả nht trong lý luận.

8. Ngh Thuật Nói Chuyện Trực Tiếp
Sự rõ ràng trong việc trình bày một lý luận không thể chỉ đưc hoàn tất qua việc sử dụng đnh nghĩa. Nó cũng đòi hỏi phải chú ý đến văn phong. Văn phong hay là một vấn đề của việc nói một cách rõ ràng, đơn giản, thích hợp và súc tích những gì mà chúng ta muốn nói. Nếu mt vật chất có thể đưc nói một cách đơn giản, thì tại sao chúng ta li nói theo cách khác? Thâm chí nếu một vấn đề phức tạp, ít nhất chúng ta nên cố gng diễn t một cách rõ ràng - với độ chính xác mà chúng ta có thể bao quát. Hoàn tất văn phong hay là để rèn luyện sự thận trọng; ta phải hạn chế việc sử dụng nhiều t ngữ, từ phc tạp mà ít t

hơn hay những từ đơn giản hơn có thể thay thế.


Thí dụ, văn xuôi phức tp đã phải sử dụng đến ở thành phố nhỏ Riverhead khi viết thông báo vmột luật mới đưc ban hành:
“Khi rác vùng phụ cận gần nhất ca một nhân nhân đó tài sản khác thuộc quyền s hu trc tiếp tên nhãn hiu giống nhau, nhng người đó coi như đã b rác vùng phụ cận gần nhất đó.”
Có phải đơn giản hơn khi ta nói : "Ni giữ những vật dụng giống như rác trong khu phụ cận có rác sẽ bị coi như đã vứt rác bừa bãi."?
Và cân nhắc kỹ mệnh lệnh khó hiểu i đây đã đưc ban hành bởi Cục quản tr

cộng đồng (Public Administration Bureau) trong suốt Chiến tranh thế giới thứ hai:


“Sự chuẩn b như thế nên được thiết lập s làm mờ đi hoàn toàn tất c nhng cao ốc liên bang không thuộc liên bang bị chiếm giữ bởi Chính quyền liên bang trong suốt một cuộc đột kích không phận trong nhiều quãng thời gian từ tầm nhìn xa hơn bởi do của s khai trí trong ngoài nước.”
Khi viên chức vô dụng này đưa công văn lên tới bàn Tổng Thống, Tổng Thống Franklin D. Roosevelt bảo một cách ngắn gọn: "Nói với họ rằng trong một tòa cao ốc họ phải làm việc, đt mt cái gì đó (như treo c) qua cửa sổ". Ưu điểm chính của bt kỳ ngôn ngữ nào là cho phép ngưi sử dụng nói chính xác ý nghĩa đưc đề cp, không hơn không m. Những gì chúng ta cần phải nhớ là ngắn gọn sẽ hiệu quả hơn.
Một điều trở ngại cho văn phong hay là câu sáo rỗng2. Một ngôn ngữ có khuynh hưng tích luỹ những câu rập khuôn, sáo rỗng này trong lch sử dài, nhưng trong trường hợp này chúng ta chỉ không sử dụng chúng với lời cảnh báo, mà là không sử dụng hoàn toàn. Một câu sáo rỗng là một mô t lặp đi lặp li truyền đt một vài "chân lý" đó là quá lạm dụng như thế nó trở nên gần như vô nghĩa. Nếu chúng ta tranh luận, "Sự vội vàng sinh ra lãng phí, ví thế chúng ta hãy chậm lại trong việc điều chnh sự bất công trong xã hi" ("Haste makes waste, so let us move slowly in righting this social injustice"), cách dùng của chúng ta về một câu sáo rỗng như giả thuyết sẽ làm giảm đi cuộc tranh luận. Bởi

2 cliche

những câu rập khuôn thì ngắn gọn, hay hóm hnh và có vẻ hình thức, chúng luôn đáng lo ngại, để chúng khích lệ sự vô tư lự bởi vic làm mờ đi những điểm chính xác của một vấn đề.


Biện pháp đề phòng suy nghĩ những câu sáo rỗng tốt nht là phải nhớ rằng, với mỗi cách ngôn phổ biến như thế, một cách ngôn khác có thể đưc trích dẫn một cách trực tiếp gây mâu thuẫn với nó.
a. Hai người hợp lại vẫn hơn một người (Two heads are better than one). b. Hai thuyền trưởng làm đắm một con tàu (Two captains sink a ship).

c. Đng thay nga gia dòng. (Don't change horses in midstream). d. Đã đến lúc phải thay đổi. (It's time for a change).



e. An toàn trên hết. (Better to be safe than sorry).
f. Không mạo hiểm, không lợi ích. (Nothing ventured, nothing gained).
Một câu sáo rỗng có thể tìm thấy đưc để chứng minh - hoặc không chứng minh - cho hầu hết điều gì. Cách sử dụng câu sáo rỗng, rập khuôn trong bất cứ tác phẩm tng cho ta thấy rằng tác giđã không suy nghĩ kỹ, rõ ràng, hoàn chnh trong đề tài và cũng không muốn ni đọc như thế.
ơng tự như thế là biệt ngữ (jargon), đưc Giáo sư Donald Hall mô tả chính xác: "những câu sáo rỗng thuộc về một chuyên môn riêng bit". Lấy thí dụ những câu dưi đây t một công bố của Quỹ khoa học quốc gia:
"Quyết định của s tham gia này một bộ phận hoàn chỉnh thiết lập s tán thành bởi Quỹ Khoa Học Quốc Gia (NSF) của s đề xuất xem xét trong thư quyết định và sự thống nhất để hỗ trợ v mặt tài chính cho dự án được mô tả trong kế hoạch đó kết qu của s c gắng đã tuyên bố trong thư quyết định tài trợ ngân sách được đề nghị."
Những gì làm cho câu này khó hiểu không phải là cách dùng từ ngữ chuyên môn không quen thuộc với ngưi thiếu chuyên môn, bơi vì nó không có những từ như thế, và thậm chí nếu có, sự kiện đó không tự nó làm nền tảng cho việc phê bình. Đúng hơn, câu trên làm cho ngưi ta khó chu bởi li miêu tả của nó, vừa tối nghĩa vừa thổi phồng ý nghĩa của một tư duy đơn giản. Lưu ý cách diễn tả khoa trương ("một bộ phận hoàn chnh", "thiết lập", "đề xuất"), việc sử dụng quá nhiều gii từ, và sự hạn chế một mẫu hình trực tiếp của chủ ngữ, động từ và vị ngữ. Những nét đặc trưng văn phong này là những gì đưc gọi là biệt ngữ. Biệt ngữ là mt đặc tính ca tâm lý quan liêu, nhưng nó cũng thâm nhập vào văn phong của các ký giả, hc giả, sinh viên và học sinh. Bất cứ tác giả nào trình bày một lý luận cân nhc nghiêm túc có nghĩa vụ phải hạn chế biệt ngữ.
Lối viết hay - một yếu tố cần thiết trong một lý luận chính xác - là đơn gin, súc tích và sử dụng ngôn ngữ thích hợp.

Những câu rập khuôn, sáo rỗng là những biểu hin đưc sử dụng quá rộng chỉ làm cho chúng trở nên vô nghĩa. Chúng cho pháp chúng ta đơn giản hóa quá mức những điểm cầu k của một vấn đề; một lý luận mang phong cách hay sẽ hạn chế chúng một cách cẩn thận.
Biệt ngữ, những câu sáo rỗng hay mô tả ti nghĩa của một nhóm riêng bit (như

những chuyên môn khác nhau), diễn tả những sự vật, sự việc theo một cách phức tạp

không cần thiết. Nó thưng rất khó nắm bắt và vì thế cũng hiếm khi nằm trong một lý luận văn phong hay.


: files
files -> Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vì thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao
files -> HƯỚng dẫn càI ĐẶt và SỬ DỤng phần mềm tạo bài giảng e-learning
files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
files -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
files -> PHỤ LỤC 2 TỔng hợp danh mục tài liệu tham khảO
files -> BÁo cáo quy hoạch vùng sản xuất vải an toàn tỉnh bắc giang đẾn năM 2020 (Thuộc dự án nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông nghiệp và phát triển chương trình khí sinh học ) Cơ quan chủ trì
files -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
files -> 1. Mục tiêu đào tạo: Mục tiêu chung


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   15


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương