Minh triết việt việt Nhân Nhận được thư chuyển có tựa đề: Mối Quan hệ giữa Minh Triết với Quyền lực và Chính trị


B.- MINH TRIẾT TRONG CẤU TRÚC NGÔN TỪ: NÉT GẤP ĐÔI



tải về 2.69 Mb.
trang3/25
Chuyển đổi dữ liệu07.06.2018
Kích2.69 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   25

B.- MINH TRIẾT TRONG CẤU TRÚC NGÔN TỪ: NÉT GẤP ĐÔI


Người Việt Nam có thói quen Nói theo lối gấp đôi ( twofold ) thành cặp đối cực của Dịch lý. Khi để ý tới Cơ cấu và cách Vận hành của Ngôn từ Việt thì chúng ta nhận ra được cuộc sống nhịp theo Thiên lý Thái cực của Dân tộc Việt.

Chúng ta thường nói: Ăn / Ở, Ăn / Nói , Ân / Uống, Ăn / Làm, Ăn / Ngủ, Làm / Lụng, Đi / Đứng, Học / Hành, Vợ / Chồng, Mẹ / Cha, Tiên / Rồng, Tình / Lý hay Nhân / Nghĩa , Núi / Sông hay Sơn / Hà, Nhà / Nước, Thời gian / Không gian hay Vũ / Trụ . . .
Ăn / Ở

Ăn ( vào ) / ( ra )

Ăn là nhu cầu đầu tiên của con Người để tồn tại và phát triển, đó là Thiên tính, không ai có thể Sống mà không Ăn. Đã sinh ta thì ai cũng biết Ăn, nhưng Ăn cho khỏe Xác thì thức ăn phải gồm đủ hai yếu tố ngược nhau Ngon / Lành.

Thức ăn Ngon phải thoả mạn năm giác quan: Đẹp mắt ( Thi giác ) , Ngon miệng ( Vị giác ), Mùi thơm ( Khứu giác ), Dòn tan khi nhai ( Thính giác ), Dễ chịu khi cầm lấy ( Xúc giác ), có vậy Dịch vị mới tiết ra giúp sự tiêu hóa được tốt.

Thức ăn lành thì dễ tiêu hóa không gây bệnh. Đồ ăn Ngon thì không mấy lành, đồ Ăn Lành thì ít Ngon. Có điều hòa được hai yếu tố Ngon và Lành thì sức khỏe mới luôn ổn định , khi đó thì Cơ thể mới khỏe mạnh, làm giá đỡ cho Tinh thần minh mẫn.( Body and Mind in One ).

Còn cách ăn thì ngồi chỗ chung, ăn chung, không mỗi người một đĩa như Âu Tây. Khi ăn mọi người quây quần xung quanh bàn ăn, các thực phẩm có nhiều món để chung trên mâm, chỗ ngồi cũng như thức ăn cũng được để ý về cách “ Kính già yêu trẻ “. Khi ăn mọi nguời đều “ lưu tâm mà chia sẻ mọi thứ “ như về Lời Ăn tiếng Nói cùng san sẻ thực phẩm cho nhau sao cho thuận Tình hợp Lý mà sống hoà vui với nhau, đó là cách xữ Lễ với nhau, “ Ăn xem Nồi, Ngồi xem Hướng là vậy. Ăn còn là bài học Lưu tâm và Chia sẻ hàng ngày cho tuổi trẻ. Thường sau khi ăn buổi tối là những lúc cả gia đình hàn huyên với nhau về những sinh hoạt ban ngày của mỗi người trong gia đình, đây cũng là thời gian quan trọng làm cho mối dây ràng buộc buộc mọi người trong gia đình với nhau. Do đó mới có câu:Có Thực mới vực được Đạolàm Người .

là cách hành xử với nhau hàng ngày cũng phải có hai chiều Đi / Lại, cho công bằng mà Hoà với nhau. Khi giao tiếp với nhau phải “ cẩn ngôn cẩn hành: cẩn trọng trong Lời Nói, đắn đó trong việc Làm “ vì “ Bệnh tòng khẩu nhập, họa do Ngôn xuất: Bệnh do của “ ăn vào “ không lành hay tham thực, Họa do lời “ Nói ra “ sắc hơn dao gây tổn thương nhau.

Cha ông căn dặn cách sống ở đời: “ Học Ăn, Học Nói, Học Gói, Học Mở “.

Ăn Vào, Nói Ra. Ăn dể cho Khỏe Xác và để “ Vực được Đạo làm Người “. Nói điều Nhân Nghĩa cho vừa Lòng nhau.

Gói Vào cho Kín để khỏi bị rơi ra, Mở ra cho hở rộng để không còn bị che lấp, tức làm việc nào cũng đến nơi đến chốn.

Tất cả đều Học và Hành theo cách sống hợp với Dịch lý.

Có kết hợp được cả hai cách Ăn Ở được hài hoà thì mới “ Thân An Tâm Lạc” tức là “ mạnh Hồn khỏe Xác “ hay “ Một cơ thể tráng kiện trong một Tinh thần minh mẫn “. Ăn Ở là một nghệ thuật sống thường xuyên rất tế vi,có vậy thì cuộc sống mới được an hòa hạnh phúc.

Trong bài Viết:

Khắc kỷ phục Lễ “ đâu đó, T.G. Kim Định có câu nhại Kiều:

Ở / Ăn thì Nết phải hay

Nói điều “ ràng buộc “ thì Tay phải Già “



Ở Ăn phải hay là phải làm sao cho hai chiều Ngược Xuôi được êm thắm. Tay Ràng buộc phải Già là phải có nghệ thuật làm sao kết hợp được nghịch số cho vừa đủ hài hoà, chứ cứ “ già néo thì đứt dây” “.
Ăn / Nói

Ăn / ( vào ) / Nói ( ra )

Ăn vào thì phải có thực phẩm Ngon / Lành. Nói ra điều Nhân / Nghĩa theo cách “ Lời Nói chẳng mất tiền mua, liệu Lời mà Nói cho vừa Lòng nhau

Ăn Nói cũng đều có hai chiều vào ra, cần phải được hài hòa thì mới giúp cho cuộc sống được an vui thoải mái.
Ăn / Uống

Ăn ( chất Đặc ) Uống ( chất lỏng )

Ăn Uống sao cho hai chất Đặc / Lỏng được trỗn lẫn cân bằng cho sự tiêu hóa tốt thì mới có sức Khỏe, “ Sức Khỏe là vàng “, có “ Tiền mua Tiên cũng được” , nhưng nhiều khi có vàng cũng không mua nổi sức khỏe .
Ăn / Làm

Ăn ( Trong ) Làm ( Ngoài )

Ăn để có năng lực mà làm việc, Làm việc thì tiêu hao năng lượng, nhưng có Làm thì mới có Ăn, nên: Tay Làm hàm Nhai, Tay quai miệng trễ.” Ăn Làm phải kết hợp vừa sức thì cuôc sống thoải mái, có Ăn mà không làm thì miệng trễ nghia là không có Ăn hay cướp lấy của người khác mà Ăn, có Làm mà chẳng được Ăn thì sống kiếp Ngựa Trâu. Thái quá cũng như Bất cập cũng đều bị Lạm dụng làm cuộc sống mất quân bình, nên cần phải sống Tiết độ ( No more , no Less ) trong mọi lãnh vực.
Ăn / Ngủ

Ăn ( Động ) / Ngủ ( Tĩnh )

Ăn ( Ban ngày ) để có năng lực mà Làm việc để nuôi sống và phát triển, khi làm Ban Ngày thì tiêu hao năng lực, nên phải Nghỉ ( Ban đêm ) cho cơ thể hết mệt,nhất là giấc Ngũ ngon ( sound sleep ) thí hấp thụ năng lượng ( năng lư

ợng là Chi trong cách tập Tai chi để tăng năng lượng cho sức khỏe ) trong không khí được nhiều hơn thức ăn vào. Qua giấc ngủ ngon lúc sang thức dậy tinh thần con người rất thoải mái.

Ăn được ngủ được là Tiên, mất Ăn mất Ngủ là Tiền mất đi “.


Làm / Lụng

Làm ( Thực tự: Hữu ) / Lụng ( Hư tự : Vô )

Trong Các Lời nói Gấp đôi có nhiều cặp có tiếng đầu có nghĩa thuộc Thực tự ( Hữu ) và tiếng sau là Hư tự ( Vô ) thì vô nghĩa, cặp này cũng diễn tả Dịch lý: “ Thực nhược Hư, Hữu nhược : Có mà như Không, Không mà dường như Có “ . Đây là Lời nói về sự Biến hóa bất biến của Vật chất trong Vũ trụ, có đó rồi không đó, nên trong cuộc sống không thể bám chặt vào những cái Biến đổi từng sát na như của cải Vật chất mà tranh dành sát phạt nhạu làm cho xã hội rối loạn, con Người khổ đau.
Đi / Đứng

Đi ( Động ) Đứng ( Tĩnh )

Chân Này phải Động mới bước tới được, nhưng Chân kia phải Đứng yên, để làm Điểm tựa cho chân Kia Động mà bước tới. Chân Động bước tới được là nhờ Chân Tĩnh, nên “ Hữu sinh ư Vô “:Cái Có từ cái Không mà ra . Cứ chân này Tĩnh giúp cho chân kia Động bước tới, hai chân cứ luân chuyển Tĩnh Động như thế thì bước đều nhịp nhàng mà đi được quảng đường dài. Nếu hai chân đều đứng yên thì không bước tới được, nếu hai chân cùng bước thì chỉ có thể nhảy được một số bước là đã mệt nhoài, một chân làm việc đễ cho chân kia nghĩ thì hai chân mới làm viêc được lâu dài. Đó là sự phân công hợp lý trong mọi trường hợp.
Học / Hành

Học ( vào ) Hành ( Ra )

Học để có kiến thức ( information ) giúp cho phát triển Khả năng ) và có cả kiến thức về sự đào luyện Tư cách ( formation ) ,

Hành là đem hai loại kiến thức trên thể hiện vào cuộc sống hàng ngày để trau dồi Tư cách và Khả năng để nâng cao đời sống Vật chất và Tinh thần.

Học mà không Hành là cái Học vô bổ. Hành mà vô học thì làm càn, vì “ Bất học vô thuật: không học thì không biết cách làm “, thường gây rắc rối trong xã hội, vì không kết hợp được Học và Hành hay “ Tri Hành phải hợp nhất “.

Những nhà cầm quyền mị dân thì chỉ Nói Hay mà Làm không được Tốt vì “ Lực bất tòng Tâm “ hay Tâm nông Trí cạn .
Vợ / Chồng

Vợ ( Gái, Mẹ ) / Chồng ( Trai, Cha )

Gái / Trai là cặp đối cực kết nên Vợ Chồng. Vợ Chồng tìm đến với nhau bằng Tình qua lễ Thành hôn, sau lễ Thành hôn, trước khi vào phòng riêng trao thân gởi phận cho nhau, hai Vợ Chồng cùng uống chung với nhau một ly rượu và hai bên bái nhau gọi là lễ Giao Bái như là lời kết hứa tôn trọng nhau suốt đời cho đến khi “ cốt rủ xương mòn, răng long đầu bạc “ với nhau. Đây là lời giao ước sống Hoà với nhau theo công bằng Do đó mà có câu : Quân tử chi Đạo tạo đoan hồ phu phụ : Vợ Chồng là đầu mối cho người Quân tử.

Nhờ yêu nhau bằng Tình yêu khăng khít,sống Hoà với nhau bằng Lý Công chính, nên “ Thuận Vợ thuận Chồng, biến gia đình thành Tổ ấm, Vợ Chồng cùng nhau xây dựng Gia đình và Xã hội mà vui sống bên nhau cùng sinh Con đẻ Cái, đó là nguồn sinh sinh hoá hóa cao nhất trong Vũ trụ. Sự phân công trong Gia đình thì: Nữ Nội, Nam Ngoại: Người Vợ chủ Tình được phong làm Nội Tướng, quán xuyến mọi việc trong nhà , người Chồng chủ Lý đóng vai Ngoại Vương lo toan xây dựng phần Ngoài thuộc Gia đình và Xã hội.

Ngày nay người ta cho lễ Giao bái là cổ hủ, nên bỏ đi Lẽ sống tôn trọng và công bằng với nhau, nên bỏ luôn cuộc sống Hoà.
Liên hệ với câu chuyện Bà Eva ăn trái Cấm nơi vườn Địa Đàng gây ra Tội Tổ tông cho Nhân loại, chúng ta cũng có cách lý giải theo Dịch lý: Số là Bà Eva là Nữ bỏ Chức Nội tướng chủ Tình, Bà đã bỏ Tình ra Ngoài là lãnh vực của Lý để ăn trái Cấm, lại còn rủ Ông Adam cùng ăn, để hai bên cùng sống theo “ Lý chay “ ở bên Ngoài. Hành động của bà Eva đã làm đảo lộn trật tự “ Tình Trong Lý Ngoài “ hay “Âm Dương Hoà “ của Vũ trụ. Nan đề của Nhân loại ngày này là quên Tình, sống theo “ Duy Lý một chiều “, vì đã đánh mất cái “ Hướng sống Công chính “ từ nguồn Sống Tình thuộc Tâm linh.

Khi mất Tình thì con người trở nên Vô cảm và đánh mất luôn mối Liên đới trách nhiệm.

Gia đình có là Tổ ấm thì mới là Trường học đầu đời ươm Tình đơm Lý cho người con khi lớn lên biến thành Trai hùng Gái đảm. Gia đình Tổ ấm được chọn làm nền tảng cho xã hội yên vui. Văn hóa Việt được đăt trên Nguyên lý Mẹ ( Mẹ Âu Cơ ), trọng Tình hơn Lý, vì người Nữ yếu hơn nên phải “ phù yểu trọng nữ “ giúp cho cuộc sống Nữ Nam được cân bằng, do đó mà đặt Vợ trước Chồng, tục này được gọi là Tả nhậm tức là thói quen quay về phía bên tay Trái hay cái nút áo về phía Tay Trái, bên tay yếu hơn và có quả Tim, tức là trọng Tình, chứ không gọi là Phu phụ hay Chồng / Vợ như Tàu “ Trọng Nam khinh Nữ “, tức là thói quen Hữu nhậm ( Tay phải, tay mạnh hơn ( Trọng Lý hơn ). Tục Hữu nhậm của Tàu thì lại cài nút áo về phía tay Mặt, vì giao lưu Văn hoá qua hàng ngàn năm, dân Việt Nam quên mất Thói quen quan trọng này. .
Nhân ( Tình ) / Nghĩa ( Lý )

Nhân ( Trong: Từng Cá nhân ), Nghĩa ( Ngoài: Những người trong Gia đình và Xã hôi ). Nhân là Lòng Yêu thương do tác động hướng Nội níu kéo mọi Người lại với nhau. Nghĩa là cách hành xử hướng Ngoại giúp mọi người hành xử Công bằng để sống hòa với nhau. Sống trong Nhân Nghĩa thì con Người có Dũng lực tự chế đễ không làm chuyện Bất công mà làm rối loạn Gia đình và Xã hội.

Nhân (Âm ) Nghĩa ( Dương ), Hùng Dũng ( Hòa ) tức là “ Âm Dương hoà “ theo Dịch lý.
Bao ( Bọc ờ Ngoài ) / Dung ( Chứa ở Trong )

Bao là Bọc lại trong bao để che chở, Dung là Chứa, là chấp nhận cùng sống Công bằng trong Bao ( theo Lý ) nhờ được nuôi nấng bằng Tình Bao la của Mẹ.

Muốn sống theo tinh thần Bao dung phải có Dũng lực của Nhân Nghĩa.
Dìu ( Níu, Nâng ) / Dắt ( Kéo, lôi )

Dìu Nhờ Tình yêu mà giúp đỡ ai bước đi hay làm một điều gì, mà ngưới đó không làm nổi, Dắt hướng dẫn đi cho đúng hướng để đạt mục tiêu nhờ lẽ Phải của . Có Dìu mà còn phải Dắt nữa mới đạt mục tiêu.

Dìu Dắt cũng hàm ý Tình Lý tương tham.
Bây Giờ ( Thời gian ) / Nơi Đây ( Không gian ) : Vũ / Trụ

Trong cuộc sống cũng nên nhớ kết hợp hai yếu tố : Nơi đây ( Here : Không gian ) và Bây giờ ( Now : Thời gian ) mà làm Người ( Vi Nhân ) bằng cách bám theo Hiện tại miên trường ( ever present ) mà «  hoàn thiện mọi việc Làm «  ( perfect of things ) từ Nhỏ đến Lớn và «  hoàn thiện mọi mối Liên hệ Hoà với nhau « ( perfect for being ) trong Không gian đang sống, ngay đến cả việc sống Hòa vạn vật và Vũ trụ nữa . Chứ không bám vào Quá khứ mà than khóc hay tự hào suông cũng như hy vọng hảo huyền về Tương lai mà thản nhiên tự lừa dối mình. Có Vi nhân như thế ở đời Này mới mong có sự cứu rỗi đời Sau, chứ không thể ngồi bất động mà cầu xin được.
Những lời Nói nhịp đôi ngược nhau: Núi / Sông, Non / Nước, Nước / Nhà, Tiên / Rồng, Ông Đùng / bà Đà, ông Cồ / bà Cộc. . . .Hồn thiêng Sông / Núi . . . đều là nhắc nhở về sự sống làm sao cho các cặp đối cực đó luôn được hài hòa theo Dịch lý.

Đa / Nhất cũng chỉ là Một, trong cái Vĩ đại có chứa cái Tinh vi mà trong Tinh vi cũng có cái Vĩ đại ( Xem Holograph cũng như “ The wisdom of the cells “, và cấu trúc của Nguyên tử cũng như cấu trúc của Thái Dương hệ ), mọi vật liên h chặt chẽ với nhau, không bị chia cách phân ly, sống trong Vũ trụ mọi sự đều biến hoá không ngừng, nên hàng ngày con người phải nhớ kết hợp được hai yếu tố trái ngược ( Nghịch số chi lý ) đó mới tồn tại và phát triển điều hòa..



Ngày nay đa số chúng ta bị choáng ngập bởi sự hào nhoáng của khoa học, quên đi nguồn u linh man mác của Tâm linh ( Nguồn Tình và Lý công chính ) chỉ miệt mài theo văn minh «  Duy lý cực đoan một chiều «,đánh mất phần Tâm linh - phần quan trọng của Thiên lý - gây ra bất hòa trong nhân quần xã hội. Đó là nan đề của Thời đại.

Ngày nay Khoa học đã khám phá ra không những có năng lượng Sáng mà còn có năng lượng Tối, năng lượng Tối chiếm phần lớn, trong năng lượng Sáng, Khoa học chỉ chiếm tỷ lệ rất nhỏ.
Nói rộng ra, Tĩnh ( Silence and stillness ) là phương thế giúp Quy tư về nguồn Tâm linh để được Mạc khải. «  Tĩnh lặng là sự Mạc Khải lớn lao «  .( Lão Tử )

Động là cách Suy tư ( hướng Ngoại ) về Khoa học. Tĩnh giúp Quy tư ( hướng Nội ) về nguồn Tâm linh. Tâm linh và Khoa học như hai mặt của đồng tiền phải nương tựa vào nhau mới có thể biến hoá trong trạng thái cân bằng. Mê mãi theo ánh sáng Khoa học mà bỏ quên nguồn Tâm linh u linh man mác là mất Gốc, mất Hướng của Lương tâm, nên “ Khoa học không có Lương tâm “ chỉ đem lại sự hủy hoại của Tâm hồn, khiến con người Vô cảm, làm cho Tinh thần Liên đới Trách nhiệm chi cắt đứt.

Đây là nguồn rối loạn của Xã hội.
Xin đừng tưởng VÔ ( Nguồn Tâm linh ) là không có gì, mà VÔ là nguồn cội của mọi Động lực thuộc Hữu, đừng lầm VÔ Tuyệt đối với Vô tương đôi.
VÔ = Thái Cực nhi VÔ CỰC
Chúng tôi thấy mấy câu về “ Sắp Thế ký “ trong bài Vịnh Ông Bàn Cố cũng có phần tương tự như “ Sáng Thế ký “ trong Cưu Ước :
1.- VÔ CỰC: Vô, Hữu vị phân: Tuyệt đối .
a.- Hỗn mang chi sơ , vị phân Thiên / Địa. ( Vịnh Ông Bàn Cổ ) .

  b.- “ Khởi thủy Thiên Chúa đã dựng nên Trời và Đất.  Ðất thời trống không mông quạnh,và tối tăm trên mặt uông mangkhí Thần ( Hỏa: Năng lượng: Nguồn Sáng ) là là trên mặt Nước ( Thủy: vạn vật chi nguyên: Nguồn Sống.”



( Cựu Ước. Sách Khởi nguyên )

Những chữ Xiên do chúng tôi ghi vào.

Hỗn mang chi sơ “ là cái thuở hộn độn ban đầu khi khai Thiên lâp Địa chẳng khác nào “ Thời trống không mông quạnh và tối tăm trên mặt uông mang “.


2.- Thái cực: Vô, Hữu phân cực: Tương đối.
a.- * Thủy phán Âm / Dương . ( Vịnh Ông Bàn Cổ .)
b.- * Và Thiên Chúa đã phán: "Hãy có Ánh sáng!" và Ánh sáng đã có.  Và Thiên Chúa đã thấy rằng Ánh sáng thực tốt lành,và Thiên Chúa đã tách Ánh sáng ( Dương ) với Tối tăm ( Âm ) .  Và Thiên Chúa đã gọi Ánh sáng là Ngày ( Dương ) , và Tối tăm thì Người gọi là Ðêm ( Âm ). Và đã có một buổi Chiều ( Âm ) và đã có một buổi Mai.( Dương ) ( Cựu Ước. Sách Khởi nguyên ).

Thuỷ phán Âm Dương “ là lệnh truyền phân chia ra Âm / Dương chẳng khác nào khi Chúa phán thì có ngay các cặp Đối cực: Khí Thần / Mặt Nước, Ánh sáng / Tối tăm, Ngày / Đêm, Chiều / Mai.


Đó là phương cach diễn tả khác nhau về sự Tạo Thiên lập Địa của Đông Tây, nhưng cùng một ý, những cặp đối cực đó cũng chẳng khác Đạo / Đức, Nhân / Nghĩa « .

Đạo / Đức, Nhân / Nghĩa cũng là Thái cực, luật Trời : nên «  Thuận Thiên giả tồn, nghịch Thiên giả vong : Sống thuận với luật Trời thì tồn tại, ngược lại là tiêu vong « vì đó là «  Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu : Lưới Trời lồng lộng, thưa mà không để cho một thứ nào chui lọt « 
Cách sống tiệm tiến theo Dịch lý như trên của Cha ông là cuộc sống theo Thiên lý Thái cực hay Nhất Nguyên lưỡng Cực, cuộc sống được bắt đầu từ nơi Gần là Tâm mình tới cái Lý nơi Xa, từ cái Nhỏ nhất tới cái To, từ cái Đơn giản tới Phức tạp, từ những cái Tầm thường để hướng tới cái Phi Thường, chứ không « Chưa biết Đi đã lo Chạy «, con người chưa Thân an Tâm lạc, gia đình đang lục đục mà đã đi xây dựng xã hội hoà bình, lòng còn rặc lửa Hận thù mà hăm hđi xây Hòa bình thế gii, có bao giờ Lòng mình còn rực Lửa Hận thù mà hăm hở đi xây dựng được Xã hội Hoà bình, có bao giờ dùng Lửa mà chữa được cháy!

Vì vậy cho nên cái khó của chúng ta là ở ngay cái Lòng của mỗi chúng Ta, đó là cái Lòng «  Ngại Núi ( xa Nhân ) e Sông ( rời Nghiã ), đơn giản chỉ có thế mà xem ra còn khó hơn công trình vá Tri lấp Biển.

. . .

Trong ngôn ngữ Việt Nam, chúng ta thấy không biết có cơ man nào những Danh từ gấp đôi như thế mang Tinh thần Biến hoá muôn màu muôn vẻ theo Dịch lý Việt.


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   25


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương