MỤc lục phầN 1: ĐÁnh giá KẾt quả thực hiệN


Hình 3. Tác động của việc tham gia vào TPP đối với doanh nghiệp



tải về 2.4 Mb.
trang5/27
Chuyển đổi dữ liệu10.08.2016
Kích2.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   27

Hình 3. Tác động của việc tham gia vào TPP đối với doanh nghiệp



2.4. Về những hạn chế do hệ thống thchế (các khuôn khổ pháp lý, hệ thông các chính sách hỗ trợ…)

Đảm bảo môi trường kinh doanh bình đẳng. Quyền tự do kinh doanh của doanh nhân, doanh nghiệp và cá nhân cũng như sự bình đẳng giữa doanh nghiệp nhà nước (DNNN), doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp ngoài nhà nước đã được quy định trong Hiến pháp. Tuy nhiên, trên thực tế, sự phân biệt lại thể hiện khá rõ. Một bộ phận lớn các doanh nghiệp ngoài nhà nước là các doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) chưa thực sự được đối xử bình đẳng với khối DNNN, doanh nghiệp FDI. Mặc dù có số lượng áp đảo tại Việt Nam, nhưng các doanh nghiệp dân doanh đang cảm nhận sự lấn át từ phía các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, DNNN và doanh nghiệp lớn có mối quan hệ thân quen. Một số chính quyền đang tập trung mọi nỗ lực vào thu hút đầu tư nước ngoài, trong khi đó mọi những quy định về thủ tục hành chính được áp dụng một cách nặng nề như nhau cho tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô lớn nhỏ. Mặc dù có Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ DNNVV nhưng các chính sách này tản mạn, chưa giảm thiểu được những thủ tục này (nhất là thủ tục thuế).

Tác động của quá trình tái cấu trúc DNNN tới phá triển khu vực tư nhân. Nhà nước hiện đang thực hiện một cách quyết liệt việc tái cấu trúc DNNN, hoàn thành kế hoạch trong năm 2015. Sự thành công của việc tái cấu trúc DNNN, đặc biệt là tiến trình cổ phần hóa sẽ tác động trực tiếp tới sự phát triển của khu vực tư nhân, tạo thêm nguồn lực cho sự phát triển của khu vực này. Thực tế cho thấy vẫn tồn tại sự “lấn sân” của các DNNN đối với khu vực tư nhân, trong khi DNNN chỉ nên có mặt ở những lĩnh vực quan trọng có vai trò quyết định và làm cơ sở cho sự phát triển các ngành kinh tế khác. Đó là những ngành kinh tế đòi hỏi một khoản đầu tư lớn và lâu dài, cần có “lực kéo” của nhà nước thông qua các tổng công ty, tập đoàn kinh tế NN. Ngược lại, ở các ngành kinh tế, nơi mà các doanh nghiệp tư nhân đã đủ lớn mạnh để có thể đảm đương được trách nhiệm phát triển ngành, thì vai trò của các DNNN, nhất là của các tập đoàn kinh tế nhà nước là không cần thiết.

Chính sách hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp thuộc khu vực tư nhân chủ yếu các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thậm chí siêu nhỏ, thời gian thành lập và hoạt động chưa lâu, nhìn chung đều có đặc điểm chung là chất lượng nguồn nhân lực thấp, chất lượng quản trị điều hành doanh nghiệp vẫn còn yếu kém, không có chiến lược, định hướng kinh doanh lâu dài…Mặc dù Nhà nước đã có nhiều chính sách để hỗ trợ các DNNVV, tuy nhiên, dường như một số mục tiêu chính sách chưa đạt yêu cầu. Không những các DN có quy mô cực nhỏ, nhỏ, vừa không phát triển tương ứng thành các DN có quy mô nhỏ, vừa, lớn mà có dấu hiệu cho thấy xu thế ngược lại đang diễn ra (CIEM, 2012). Vì vậy, để thúc đẩy phát triển khu vực doanh nghiệp dân doanh cần phải có những giải pháp mang tính đột phát, có trọng tâm để tạo thêm nhiều DN có quy mô vừa và lớn, đủ hiệu quả và năng lực cạnh tranh để tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu.

III. MỘT SỐ KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI KẾ HOẠCH PHÁT TRIỂN KT-XH 2015

Theo kết quả khảo sát Động thái doanh nghiệp Việt Nam (VBiS) do VCCI thực hiện trong tháng 5/2014, tổng thể tình hình sản xuất kinh doanh đã được cải thiện so với năm 2013. Đáng lưu ý là doanh số bán hàng có sự cải thiện mạnh, cùng với đó là sự cải thiện về năng suất lao động. Số lượng đơn đặt hàng cũng có sự tiến bộ, trùng khớp với những chuyển biến tốt dần lên của chỉ số mua sắm PMI do HSBC công bố. Đây thực sự là thành quả nỗ lực của các doanh nghiệp, và kết quả của những chính sách kinh tế vĩ mô và các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ và đã có nhiều dấu hiệu cho thấy tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đã ra khỏi vùng đáy và bắt đầu phục hồi. Theo khảo sát VBiS, hiện tại có vẫn ba yếu tố tác động tiêu cực nhất đến tình hình sản xuất kinh doanh năm 2014 là nhu cầu thị trường trong nước giảm, giá thành sản xuất tăng và khó tiếp cận vốn vay. Tuy nhiên yếu tố “khó tiếp cận vốn vay” đã trở nên không cấp thiết như trước đây.

Chỉ thị 11/CT-TTg của Thủ tướng Cính phủ ngày 21/5/2014 về những giải quyết khó khăn, kiến nghị thúc đẩy sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 2015 đã xác định rõ nhiệm vụ của các Bộ/Ban ngành và VCCI. Để đảm bảo cho sự thành công và giải quyết được những vấn đề lớn của khu vực tư nhân, cần xem xét tập trung vào một số giải pháp sau:

3.1. Kiên trì ổn định kinh tế vĩ mô, tạo lập môi trường kinh doanh tự do, bình đẳng

Nền kinh tế nước ta 8 tháng đầu năm 2014 có một số cải thiện nhưng vẫn ẩn chứa nhiều rủi ro. Lạm phát tuy bước đầu đã được kiềm chế nhưng luôn tiềm ẩn những yếu tố dẫn đến bùng phát trở lại. Vì vậy, Nhà nước phải kiên trì ổn định kinh tế vĩ mô, cụ thể:

+ Kiên định đối với các mục tiêu ổn định vĩ mô, kiểm soát lạm phát và tăng trưởng ở mức hợp lý, tỉnh táo trước những sức ép về tăng trưởng nhanh trước mắt song không bền vững. Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành, tồn tại và phát triển của doanh nghiệp về mặt dài hạn.

+ Ngân hàng nhà nước tăng cường công tác truyền thông về thực hiện chính sách tiền tệ, ngoại hối... để tăng lòng tin của thị trường và nhà đầu tư về chủ trương nhất quán của Đảng/Nhà nước, tăng cường sự ổn định của hệ thống tài chính. Việc xử lý nợ đọng cần phải được thực hiện triệt để, có lộ trình và thông tin rõ ràng nhất quán để tạo niềm tin kinh doanh, nhất là đối với khu vực tư nhân trong bối cảnh Nhà nước đang thực hiện quyết liệt chương trình cổ phần hóa DNNN.

+ Thực hiện tốt việc quản lý giá xăng dầu theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước và theo xu hướng giá thế giới. Công khai, minh bạch về việc xây dựng giá điện theo giá thị trường và cơ chế điều chỉnh mức giá bán lẻ điện bình quân, tạo điều kiện để các DN tiên liệu được xu thế giá cả nguyên vật liệu đầu vào, chủ động điều chỉnh sản xuất, đảm bảo đưa ra sản phẩm với giá cả cạnh tranh.

+ Phải chuyển mạnh “Nhà nước điều hành kinh tế” sang “Nhà nước kiến tạo phát triển”, “đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước, đặt doanh nghiệp nhà nước vào môi trường cạnh tranh bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, loại bỏ các hình thức ưu đãi bao cấp còn tồn tại trên thực tế; minh bạch hoạt động các doanh nghiệp nhà nước...”). Nghị quyết 19/NQ-CP ngày 18/3/2014 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia đã đặt “trọng tâm là xây dựng, sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, các cơ chế chính sách tạo môi trường kinh doanh thuận lợi và bình đẳng cho mọi tổ chức, doanh nghiệp, người dân phát triển sản xuất kinh doanh…”, “Trong giai đoạn 2015 và các năm tiếp theo cần tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, rút ngắn quy trình xử lý, giảm thời gian thực hiện thủ tục hành chính, giảm chi phí hành chính, bảo đảm công khai, minh bạch và nâng cao trách nhiệm của các cơ quan hành chính nhà nước”…).



2.2 Thực hiện tái cấu trúc nền kinh tế một cách mạnh mẽ trên cơ sở tái cấu trúc DNNN và thúc đẩy khu vực tư nhân phát triển theo định hướng của Nhà nước

+ Sứ mệnh mới của các DNNN “là thực hiện nhiệm vụ dẫn dắt chủ đạo trong việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Thực hiện vai trò dẫn dắt của DNNN thông qua tái cấu trúc doanh nghiệp có nghĩa là DNNN phải có chiến lược kinh doanh rõ ràng, nhất là khi doanh nghiệp áp dụng chiến lược dựa vào nguồn lực. Như vậy mối quan hệ giữa DNNN và đối tác từ khu vực tư nhân là mối quan hệ cùng có lợi và dựa trên giá trị được xác định bởi thị trường. Phương án tái cấu trúc của DN nói chung và của DNNN nói riêng phải tính đến chiến lược phát triển ngành và sự liên kết kinh doanh giữa các DNNN và các DN thuộc khu vực tư nhân. Cần coi các doanh nghiệp là tác nhân quan trọng của tiến trình tái cấu trúc kinh tế.



+ Cần áp dụng triệt để các nguyên tắc, kỷ luật thị trường trong hoạt động của DNNN, như hạch toán đầy đủ các chi phí vốn, buộc doanh nghiệp và người quản lý doanh nghiệp phải chịu đầy đủ trách nhiệm trong hoạt động của mình, tách bạch các hoạt động kinh doanh và hoạt động chính trị - xã hội. Để có thể thực hiện được nguyên tắc này và đảm bảo vai trò dẫn dắt, Nhà nước có thể cổ phần hoá dần dần từng bước (bán từng phần nhỏ). Cùng với các cổ đông mới, DN xác định chiến lược kinh doanh nhưng sự can thiệp của cơ quan chủ quản trong quá trình này được hạn chế ở mức độ nhất định. Trên cơ sở chiến lược kinh doanh mới DNNN thực hiện “sứ mệnh mới” Nhà nước sẽ bán dần phần vốn còn lại với giá thích hợp – theo giá trị do thị trường quyết định.

+ Đề nghị Quốc hội Ban hành Luật doanh nghiệp nhỏ và vừa. Luật sẽ phải đảm bảo cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, nhưng có những thiết chế riêng biệt để “vực dậy” nhóm doanh nghiệp có quy mô nhỏ này. Nói các khác, cần xem xét lại hệ thống chính sách hỗ trợ DNNVV, tích hợp thành Luật DNNVV. Đây chính là cơ sở để Việt Nam có chiến lược trợ giúp DNNVV, thúc đẩy phát triển khu vực tư nhân một cách cân đối, tăng tỷ lệ DN có quy mô vừa lớn tạo nên sự đột phát về chất lượng doanh nghiệp, hiệu quả kinh doanh. Chiến lược trợ giúp DNNVV hướng tới:

  • Xây dựng môi trường kinh tế vĩ mô lành mạnh: kích thích cầu đối với các sản phẩm của các DNNVV.

  • Có chính sách rõ ràng nhằm giảm thiểu chi phí gia nhập thị trường và kích cầu, điều này hàm nghĩa (a) tăng cường đào tạo nhằm cải thiện các kỹ năng quản lý và (b) một thái độ tích cực của các cơ quan nhà nước đối với các hoạt động của khu vực DNNNV.

  • Giảm tính phi chính thức của khu vực hộ kinh doanh cá thể.

  • Triển khai các công cụ tài chính: các sản phẩm phù hợp của các tổ chức tín dụng/ngân hàng, các quỹ đầu tư tư nhân.

  • Dịch vụ phát triển kinh doanh luôn sẵn có với chi phí hợp lý.

  • Tăng cường kế nối theo chiểu dọc/chiều ngang: hiệp hội DN, chuỗi cung ứng. Tiết kiệm các nguồn lực thông qua triển khai chung chuyên môn kỹ thuật và chia sẻ chi phí.

  • Mở rộng khả năng đáp ứng của Chính phủ trong huy động các nguồn lực công và tư.

+ Trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2015, Nhà nước phải quan tâm đến hoàn thành Kế hoạch trợ giúp DNNVV 2011-2015 đồng thời triển khai tích cực Chỉ thị 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 21/5/2014 về giải quyết khó khăn, kiến nghị thúc đẩy sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp, góp phần thực hiện thắng lợi Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2015.

+ Cần đẩy mạnh các giải pháp đã được nêu trong Nghị quyết 09/NQ-W của Bộ Chính trị về “Xây dựng và Phát huy vai trò doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Mỗi đơn vị phải có chương trình hành động để thực hiện Nghị quyết.

3.3. Đẩy nhanh tiến trình ký kết TPP và thúc đẩy đổi mới công nghệ và kiên kết kinh doanh theo các cụm công nghiệp hoặc theo chuỗi

Việc Việt Nam tham gia Hiệp định TPP là một trong những giải pháp giúp các DN khu vực tư nhân giảm sự phụ thuộc vào Trung Quốc.

Bên cạnh sự đa dạng hóa các nguồn cung, kinh nghiệm Trung Quốc cho thấy việc tổ chức sản xuất theo cụm, ở đó các DN trong một chuỗi ngành hàng liên kết với nhau ở hầu hết các công đoạn có thể đưa ra một sản phẩm mới nhanh nhất và giá cả cạnh tranh nhất (Hình.T.Dinh, 2013). Sự hỗ trợ của Nhà nước đối với đổi mới công nghệ tại các cụm, vườn ươm này là vô cùng quan trọng.

Với tiềm năng phát triển một số ngành như nông nghiệp, công nghiệp nhẹ ở Việt Nam, sự hình thành các Tổng công ty tư nhân xuyên suốt toàn bộ chuỗi có thể giúp cho Việt Nam có một nền nông nghiệp cạnh tranh, thiết lập được quan hệ đối tác trên cơ sở thị trường giữa “Bốn nhà”, đảm bảo sự thông suốt trong toàn bộ chuỗi giá trị (Hinh.T.Dinh , 2014).



3.4. Tăng cường sự tham gia của doanh nghiệp, hiệp hội doanh nghiệp trong quá trình tham vấn và xây dựng chính sách và thực hiện các dịch vụ công

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 – 2015 đã chỉ rõ: “nâng cao năng lực và tạo cơ hội cho mọi người đều có thể phát huy hết tài năng, tham gia vào quá trình phát triển.” Trong quá trình này, vai trò của các tổ chức xã hội và nhất là các hiệp hội doanh nghiệp rất quan trọng, bởi vì nó là cái cầu nối tất cả các quyết định, chính sách của Ðảng, Nhà nước, giới chuyên môn, Viện nghiên cứu đến nhà sản xuất.

Khảo sát PCI 2013 của VCCI lần đầu tiên sử dụng số liệu khảo sát đối với doanh nghiệp dân doanh tại Việt Nam để kiểm nghiệm mối quan hệ giữa việc tham gia đóng góp ý kiến xây dựng pháp luật với việc tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp. Kết quả khảo sát cho thấy hiện có tới 82% doanh nghiệp trong nước chưa tham gia góp ý các dự thảo quy định, chính sách. Nguyên nhân chủ yếu dẫn tới hiện trạng này là việc tiếp cận các dự thảo văn bản còn nhiều hạn chế... Nếu cơ quan soạn thảo cầu thị hơn, có phản hồi đối với những ý kiến đóng góp của doanh nghiệp, thì việc chấp hành chính sách và pháp luật của họ sẽ nghiêm túc hơn. Hơn thế nữa quá trình tham vấn chính sách sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu và nắm rõ hơn chiến lược phát triển của đất nước/vùng/tỉnh, để từ đó phát hiện ra các cơ hội kinh doanh, xây dựng được chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp mình một cách phù hợp với định hướng chung. Các giải pháp cụ thể để tăng cường mối quan hệ này là:

+ Tăng cường sự tham gia của công chúng, doanh nghiệp vào quá trình hoạch định chính sách, xây dựng pháp luật, đàm phán các cam kết quốc tế (biến các chức năng này của Nhà nước thành công việc chung của cả Nhà nước – nhân dân).

+ Trong lấy ý kiến người dân và doanh nghiệp, cơ quan soạn thảo cần:

- > Công khai kịp thời các dự thảo quy định, chính sách có liên quan tới doanh nghiệp, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp/tổ chức đại diện cho doanh nghiệp có đủ thông tin,cơ hội và sự thuận lợi khi tham gia ý kiến. Khi lấy ý kiến ngoài dự thảo cần kèm theo các giải thích/thuyết minh, những vấn đề hoặc thay đổi căn bản của dự thảo, đánh giá tác động (trong trường hợp pháp luật quy định cần có báo cáo này), tài liệu tham khảo…;

- > Tham vấn doanh nghiệp khi xây dựng báo cáo đánh giá tác động đối với các dự án luật và dự thảo nghị định liên quan đến doanh nghiệp.

- Có phản hồi rõ ràng về việc tiếp thu hay không, kèm theo giải trình đối với các ý kiến đóng góp của doanh nghiệp và hiệp hội doanh nghiệp...

+ Các tổ chức xã hội, hiệp hội doanh hiệp hoàn toàn có thể làm tốt những chức năng vốn được xem là của Nhà nước, vừa giảm gánh nặng, vừa hạn chế được phiền hà từ bộ máy hành chính và tăng cường chất lượng dịch vụ dưới sức ép của yêu cầu minh bạch, cạnh tranh. Phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp là giải pháp để tăng mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Nhà nước cần tạo điều kiện nhiều hơn để các hiệp hội ngành hàng có thể tham gia vào các chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, xây dựng cơ sở pháp lý cho các hiệp hội, ngành hàng hoạt động; thúc đẩy các hình thức liên kết doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập, phát triển thị trường. Chỉ thị 11/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ đã giao nhiệm vụ cho các Bộ/ngành: “nghiên cứu chuyển giao một số dịch vụ có đủ điều kiện cho VCCI thực hiện phù hợp với quy định của pháp luật và thông lệ quốc tế”. Đây là nhiệm vụ phải sớm được triển khai trong Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 2015.

Một trong các cam kết quan trọng khi Việt Nam gia nhập WTO là Nhà nước sẽ không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì vậy, vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp càng được nâng cao. Ðiều này đã được thể hiện qua việc số đông các trường hợp tranh chấp, dàn xếp trong thương mại quốc tế là do các hiệp hội đứng ra thực hiện, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ. Do đó, để cạnh tranh, tồn tại và phát triển được, doanh nghiệp phải tham gia hoạt động của hiệp hội viên, cùng tham mưu cho Chính phủ, ngành, đồng thời phải nâng cao vai trò của hiệp hội trong việc giám sát để các hội viên thực hiện nghiêm túc các cam kết, đảm bảo sự liên kết giữa các doanh nghiệp được bền chặt và có hiệu quả.



------

Tài liệu tham khảo:

CIEM, 2012. Đặc điểm môi trường kinh doanh ở Việt Nam. Kết quả điều tra DNNVV 2011.

GSO, 2013. Tổng điều tra cơ sở hành chính sự nghiệp 2012. Nhà Xuất bản thống kê. 2013.

Đinh Tường Hinh. Phát triển công nghiệp nhẹ ở Việt Nam. Ngân hàng Thế giới. 2014.

Đinh Tường Hinh. Các câu chuyện từ mặt trận phát triển kinh tế. Ngân hàng Thế giới. 2014.

VCCI-GEM, 2014. Khảo sát kinh doanh toàn cầu 2013. Báo cáo Việt Nam. www.vbis.vn

VCCI, 2014. Báo cáo Thường niên doanh nghiệp Việt Nam 2013. Nhà xuất thông tin truyền thông. 2014

VCCI-VBIS. Khảo sát động thái doanh nghiệp Việt Nam 6 tháng đầu năm 2014. www.vbis.vn



Phụ lục 1: Các nước tham gia GEM 2013 phân theo khu vực và trình độ phát triển

Vùng

Các nước phát triển dựa trên yếu tố đầu vào
(Giai đoạn I)


Các nước phát triển dựa trên hiệu quả (Giai đoạn II)

Các nước phát triển dựa trên đổi mới
(Giai đoạn III)


Châu Mỹ Latin và Caribbean




Argentina, Brazil, Barbados, Chile, Colombia, Ecuador, Guatemala, Jamaica, Mexico, Panama, Peru, Suriname, Uruguay

Trinidad and Tobago

Trung Đông và Bắc Phi

Algeria, Iran, Libya




Israel

Châu Phi vùng Cận Saharan

Angola, Botswana, Ghana, Malawi, Nigeria, Uganda, Zambia

Namibia, Nam Phi




Châu Á Thái Bình Dương và Nam Á

Ấn Độ, Philippines, Việt Nam

Trung Quốc, Indonesia, Malaysia, Thái Lan

Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan

Châu Âu – Thuộc Liên minh Châu Âu




Croatia, Estonia, Hungary, Latvia, Lithuania, Ba Lan, Romania, Slovak Republic

Bỉ, CH Séc, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Luxembourg, Hà Lan, Bồ Đào Nha, Slovenia, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Vương quốc Anh

Châu Âu – Ngoài Liên minh Châu Âu




Bosnia and Herzegovina, Macedonia, Liên bang Nga, Thổ Nhĩ Kỳ

Na Uy, Thụy Sỹ

Bắc Mỹ







Canada, Puerto Rico, Hoa Kỳ

Nguồn : Amoros và Bosma (2014) - GEM 2013

QUAN HỆ KINH TẾ VIỆT NAM - TRUNG QUỐC

TRONG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM

(Đánh giá nhân tố Trung Quốc với nền kinh tế Việt Nam

và những khuyến nghị chính sách)

PGS.TS Bùi Tất Thắng

Viện Chiến lược phát triển
Nghiên cứu về tác động ảnh hưởng của Trung Quốc đối với phát triển kinh tế Việt Nam là một chủ đề hết sức rộng lớn và phức tạp. Trong phạm vi một bài tham luận nhỏ tham gia Diễn đàn Kinh tế mùa Thu 2014 với chủ đề chung “Tái cơ cấu nền kinh tế: Kỳ vọng chuyển biến mạnh mẽ và cơ bản”, chúng tôi xin trình bày một số ý kiến về nhân tố Trung Quốc với nền kinh tế Việt Nam kể từ khi hai nước bình thường hoá quan hệ (đầu những năm 1990) đến nay.

1. Cải cách mở cửa ở Trung Quốc và đổi mới kinh tế ở Việt Nam.

Từ đầu thập kỷ 1990, khi quan hệ giữa hai nước Việt - Trung được bình thường hoá thì cũng là lúc quá trình đổi mới và cải cách mở cửa đã đi qua giai đoạn khởi động ban đầu. Tuy thời điểm xuất phát của cải cách mở cửa ở Trung Quốc và đổi mới ở Việt Nam không trùng nhau, nhưng công cuộc cải cách mở cửa và đổi mới đều được thúc đẩy bởi nhu cầu bức bách từ thực tiễn bên trong mỗi nước. Đó chính là quá trình tìm kiếm con đường hay mô hình phát triển phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh của đất nước khi mà mô hình kế hoạch hoá tập trung đã trở thành nhân tố căn bản cản trở quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Khác hẳn với những lần sửa đổi, cải tiến hay hoàn thiện công tác quản lý trước đây nhằm sửa chữa những khiếm khuyết của cơ chế kế hoạch hoá tập trung dựa trên chính ngay những nguyên lý cơ sở của cơ chế này, công cuộc cải cách mở cửa và đổi mới là sự thay đổi cách tiếp cận tìm kiếm mô hình phát triển, là “giải phóng tư tưởng” ở Trung Quốc và “đổi mới tư duy” ở Việt Nam, hay như cách nói của Đặng Tiểu Bình là “cuộc cách mạng lần thứ hai”. Tính chất cách mạng của cuộc cải cách mở cửa và đổi mới là: từ bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung để chuyển sang nền kinh tế thị trường. Sự chuyển đổi này có thể được xem như sự tái hiện tư tưởng về chính sách kinh tế mới (NEP) của V.I. Lênin hồi đầu thập kỷ 1920 với tuyên bố rằng, “toàn bộ quan điểm của chúng ta về CNXH đã thay đổi về căn bản” (V.I. Lê nin: Toàn tp, Tp 45; tr. 428).

Giai đoạn khởi đầu quá trình cải cách mở cửa và đổi mới, hai nước Trung Quốc và Việt Nam trước khi quan hệ giữa hai nước được bình thường hoá, tuy không có điều kiện để trao đổi kinh nghiệm, học tập lẫn nhau cũng như hợp tác cùng nhau nghiên cứu, nhưng có lẽ do những vấn đề phải giải quyết có nhiều điểm tương đồng, lại thêm điều kiện để giải quyết vấn đề như nhiều khía cạnh kinh tế, xã hội, lịch sử, văn hoá v.v... tương đối giống nhau, nên logic nội tại của quá trình cải cách mở cửa và đổi mới của hai nước đã có nhiều điểm giống nhau đến mức đáng ngạc nhiên. Chẳng hạn, sự kiện khoán sản phẩm trong nông nghiệp ở huyện Phong Dương (tỉnh An Huy, Trung Quốc) và huyện Đồ Sơn (thành phố Hải Phòng, Việt Nam) đã khởi đầu quá trình cải cách và đổi mới theo kiểu “phá rào” từ dưới lên, tiếp cận công cuộc cải cách mở cửa và đổi mới trước hết từ kinh tế v.v... Về cơ bản, người ta thấy rằng, cách thức và mục tiêu tiến hành đổi mới và cải cách đã khiến cho hai nước Việt Nam và Trung Quốc tách ra thành một nhóm khác biệt hẳn với các nền kinh tế chuyển đổi ở Đông Âu và Liên Xô. Trong khi các nước Đông Âu và Liên Xô tiến hành cải cách một cách đồng loạt và nhanh chóng, bắt đầu từ cải cách chính trị và đồng thời với nó là cải cách mạnh mẽ thể chế kinh tế, thì Trung Quốc và Việt Nam đã tiến hành cải cách một cách từ từ, tiệm tiến, mang tính thực nghiệm và xuất phát từ lĩnh vực kinh tế, đồng thời cố gắng duy trì sự ổn định về chính trị - xã hội, xem đó như một điều kiện tiền đề không thể thiếu của công cuộc cải cách. Sự giống nhau này khiến cho khi quá trình bình thường hoá quan hệ giữa hai nước được nối lại, nhu cầu tìm hiểu học tập kinh nghiệm của nhau và hợp tác nghiên cứu tìm ra các con đường đi thích hợp cả ở cấp vĩ mô lẫn vi mô trở thành cấp thiết một cách rất tự nhiên.

Ở khía cạnh thể chế kinh tế (và chính trị), lãnh đạo cấp cao của hai nước đã khẳng định phương châm 16 chữ "Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai" và tinh thần 4 tốt "Láng giềng tốt, Bạn bè tốt, Đồng chí tốt, Đối tác tốt" và là quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện. Với khung khổ chung này, Trung Quốc và Việt Nam đã nhiều lần cùng chia sẻ kinh nghiệm lý thuyết và thực tiễn về xã hội chủ nghĩa, đã từng tổ chức nhiều hội thảo chung về nghiên cứu thể chế, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

Như vậy, có thể nói một cách khái quát, tác động ảnh hưởng lẫn nhau về quan điểm, cách tiếp cận, thể chế, chính sách… của cải cách mở cửa với đổi mới kinh tế là không nhỏ.



: Uploads -> Articles04
Uploads -> Kính gửi Qu‎ý doanh nghiệp
Uploads -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Uploads -> Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước
Uploads -> Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++
Uploads -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Uploads -> TRƯỜng đẠi học ngân hàng tp. Hcm markerting cơ BẢn lớP: mk001-1-111-T01
Uploads -> TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8108 : 2009 iso 11285 : 2004
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Articles04 -> Kinh tế việt nam năM 2014: TỔng quan vĩ MÔ
Articles04 -> BÁo cáo hsbc kết nối giao thưƠng việt nam


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   27


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương