MỤc lục phầN 1: ĐÁnh giá KẾt quả thực hiệN



tải về 2.4 Mb.
trang2/27
Chuyển đổi dữ liệu10.08.2016
Kích2.4 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   27

Lạm phát: Dự báo không quá 6,5% nếu Ngân hàng Nhà nước thực hiện tốt chính sách trung hòa tiền tệ (ngoại tệ vào Việt Nam sẽ tăng, lượng tiền VND để mua ngoại tệ sẽ lớn (gần giống như năm 2007) cần phải có giải pháp rút tiền VND về...).

Nguy cơ và các rủi ro có thể:

- Nợ công tăng, đe doạ khả năng trả nợ và an toàn tài chính. Nếu tăng trưởng thấp và do đó thu ngân sách tăng chậm, nguồn trả nợ sẽ khó khăn. Cần kiểm soát chặt chỉ tiêu này.

- Thiếu quyết tâm chính trị, vướng bận Đại hội Đảng các cấp, làm trì trệ công việc.

3. Các giải pháp thúc đẩy tăng trưởng

3.1. Giải pháp ngắn hạn

- Đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư.

Yêu cầu này đang được Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo quyết liệt. Một công việc không mất nhiều tiền (nói chính xác là không mất tiền nếu không sử dụng công nghệ thông tin để có thể làm tốt hơn, nhưng tiếc là chúng ta thực hiện quá muộn). Trong khi chúng ta đề ra chương trình cải cách thủ tục hành chính hàng chục năm nay và báo cáo vẫn đánh giá đạt được những kết quả tích cực nhưng môi trường kinh doanh vẫn rất kém. Thế mới biết một chương trình không mô tả được thì không đo lường được, mà không đo lường được thì không quản lý được và lần này chúng ta đưa ra được tiêu chí đo lường để quản lý được nó. Cần tiếp tục đà này, tạo nên một nếp sống, một thói quen trong đội ngũ công chức Nhà nước.

- Có giải pháp hữu hiệu để giải quyết nợ xấu của các ngân hàng thương mại, gắn với tái cơ cấu hệ thống ngân hàng. Thực hiện minh bạch tỷ lệ nợ xấu.

Đối với nợ xây dựng cơ bản và nợ của DNNN, trước sau nhà nước cũng phải trả, cần tìm nguồn để trả (bán cổ phần của các DNNN mà nhà nước không cần tham gia sở hữu tại Tổng công ty Đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) để trả, giải phóng bớt gánh nặng cho các tổ chức tín dụng đi đôi với việc xử lý lãnh đạo DNNN đã gây ra nợ xấu và tái cơ cấu DNNN.)

- Có chính sách để các quỹ đầu tư, kể cả các quỹ đầu tư nước ngoài tham gia thi trường mua bán nợ (sửa Luật kinh doanh bất động sản và Luật nhà ở).

- Trong điều kiện tổng cầu yếu, lạm phát thấp và ta đang xuất siêu, xem xét khả năng điều chỉnh hạ giá VND khoảng 3% để khuyến khích xuất khẩu và phát triển công nghiệp hỗ trợ.

3.2. Các biện pháp trung dài hạn

3.2. 1.Đẩy mạnh tái cơ cấu nền kinh tế

- Xây dựng thể chế kinh tế thị trường hiện đại dựa trên ba trụ cột (thị trường, Nhà nước và xã hội), coi đây là tiền đề quyết định để tái cơ cấu nền kinh tế.

- Cải cách DNNN: Tiến hành cổ phần hóa DNNN - bán hết phần vốn trong các DN mà nhà nước không cần nắm giữ cổ phần. Đổi mới quản trị DNNN mà Nhà nước còn nắm giữ cổ phần chi phối, coi đây là nội dung chủ yếu của tái cơ cấu DNNN. Theo đó (i) thực hiện minh bạch hóa hoạt động của DNNN; (ii) áp đặt kỷ luật thị trường trong hoạt động của DNNN; (iii) loại bỏ mọi sự phân biệt đối xử giũa các doanh nghiệp không phân biệt thành phần kinh tế, tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng giữa các DN; (iv) phân định rõ trách nhiệm, quyền hạn của chủ sở hữu Nhà nước và đại diện chủ sở hữu tại DN. Tiến tới chức năng thực hiện chủ sở hữu Nhà nước khỏi cơ quan thực hiện chức năng quản lý Nhà nước.

- Đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp, gắn với xây dựng nông thôn mới. Đây là nội dung đã được Đảng đề ra khá sớm và phong trào xây dựng nông thôn mới đã đạt được một số thành tự. Tuy nhiên, do ý nghĩa quan trọng về chính trị xã hội của nông nghiệp, nông thôn và nông dân, cần đạt tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới thành một nội dung trọng tâm của tái cơ cấu (cùng với ba nội dung trọng tâm mà Nghị quyết của Hội nghị TƯ III đã xác định).

Tái cơ cấu nông nghiệp cần được tiến hành đồng thời trên hai hướng:

+ Khuyến khích tập trung ruộng đất theo các mô hình và phương thức khác nhau, tùy thuộc vào đặc điểm từng địa bàn, nhằm tạo ra vùng sản xuát hàng hóa lớn, chuyên canh. Qua đó đưa công nghiệp và khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, quản lý chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, ổn định nguồn cung, hình thành chuỗi giá trị từ nuôi trồng, chế biến đến lưu thông, bảo đảm phân phối lợi ích hợp lý giữa các khâu trong chuỗi giá trị đó.

+ Ứng dụng khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, kỹ thuật nuôi trồng, chế biến vào nông nghiệp, từng bước hình thành những tổ hợp công - nông nghiệp công nghệ cao.

+ Có cơ chế khuyến khích DN, kể cả DN FDI đầu tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhằm tạo ra nhiều ngành nghề mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động trong nông nghiệp và nông thôn.



3.2.2. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng

- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin (CNTT) trong sản xuất và quản lý, coi CNTT là một nền tảng của phương thức phát triển mới. Nâng mức đóng góp của các nhân tố tổng năng suất: khoa học công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực và kỹ năng quản lý hiện đại (TFP) vào tăng trưởng. Đây chính là giải pháp cơ bản để nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, giảm hệ số ICOR trong đầu tư

- Phát triển công nghiệp hỗ trợ, tạo điều kiện thoát dần sự phụ thuộc về nguyên liệu đầu vào và sản phẩm trung gian vào Trung Quốc.

3.2.3 Chủ động hội nhập quốc tế, xây dựng chương trình hành động nhằm tận dụng các cơ hội, vượt qua những thách thức khi nước ta tham gia các Hiệp định Mậu dịch tự do mới, nhất là TPP và FTA Việt Nam - EU./.



TĂNG TRƯỞNG VÀ LẠM PHÁT VIỆT NAM
8 THÁNG NĂM 2014 VÀ DỰ BÁO


GS.TS Trần Thọ Đạt

PGS.TS Nguyễn Việt Hùng

TS. Hà Quỳnh Hoa

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Tóm tắt

Kinh tế vĩ mô kết thúc tháng 8 tiếp tục được ổn định và thể hiện xu hướng phục hồi của nền kinh tế: chỉ số giá tiêu dùng tăng thấp, cán cân thương mại tiếp tục thặng dư, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng. Tổng mức bán lẻ tăng cao hơn so với tháng 7. Chỉ số niềm tin của người tiêu dùng đạt giá trị 135,5 điểm, cao nhất tính từ tháng 3 năm 2014 đến nay. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 6,7%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước (4,4%) nhưng thấp hơn mức tăng bình quân 7,3% của năm trước. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/8/2014, tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013, cao hơn so với cùng kỳ năm trước (9%) và cao hơn mức trung bình của năm 2013 (12,8%). Như vậy, tín hiệu phục hồi kinh tế từ phía sản xuất là chưa rõ ràng, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng nhưng lại thấp hơn mức tăng bình quân năm 2013, chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng cao hơn mức trung bình của năm trước. Bài viết thực hiện đánh giá tăng trưởng kinh tế và lạm phát của Việt Nam 8 tháng đầu năm 2014 thông qua các biến số phản ánh sự biến động của các thành tố thuộc về tổng cung và tổng cầu của nền kinh tế cũng như việc thực thi hai chính sách cơ bản là chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trong thời gian qua. Qua đó,nhìn nhận tín hiệu, xu thế vận động của nền kinh tế Việt Nam và dự báo tỷ lệ tăng trưởng và lạm phát. Kết quả nghiên cứu cho thấy nền kinh tế có sự phục hồi chưa rõ ràng kể cả từ phía cung lẫn phía cầu. Hai chính sách kinh tế vĩ mô của Chính phủ đã và đang thực hiện nới lỏng nhằm đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, kết quả dự báo dự báo cho thấy tăng trưởng kinh tế năm 2014 của Việt Nam ước đạt khoảng 5,69% và tỷ lệ lạm phát ước đạt 4,5%. Năm 2015, nền kinh tế được dự báo sẽ khả quan hơn với tỷ lệ tăng trưởng cao hơn năm 2014 (khoảng 6,04%) song tỷ lệ lạm phát năm 2015 sẽ cao hơn với tỷ lệ là khoảng 5,6- 6%. Điều này hàm ý lạm phát không phải là vấn đề đáng lo ngại trong ngắn hạn. Để đạt mục tiêu tăng trưởng theo kế hoạch thì hiện rất cần sự nỗ lực và phối hợp hiệu quả giữa Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính trong điều hành chính sách tiền tệ và tài khóa.



Từ khóa: Tăng trưởng, lạm phát, cung tiền, chi tiêu chính phủ

  1. Tăng trưởng 8 tháng đầu năm 2014

Hoạt động kinh tế của Việt Nam sau nhiều nỗ lực của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô đã có tín hiệu tích cực được thể hiện thông qua tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 6 tháng đầu năm 2014 tăng 5,18% so với cùng kỳ năm 2013.Trong đó, GDP quý I tăng 5,09%, quý II tăng 5,25%. Đó là tỷ lệ tăng cao trong 3 năm trở lại đây nhưng thấp hơn so với năm 2010 và 2011. Trong mức tăng 5,18% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,96%, cao hơn mức 2,07% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp 0,55 điểm phần trăm vào mức tăng chung; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 5,33%, cao hơn mức tăng 5,18% của GDP 6 tháng đầu năm 2013, đóng góp 2,06 điểm phần trăm; khu vực dịch vụ tăng 6,01%, cao hơn mức 5,92% của cùng kỳ năm 2013, đóng góp 2,57 điểm phần trăm.

Bảng 1. Tỷ lệ tăng trưởng kinh tế quý 1 và quý 2 và cả năm
(Thời kỳ 2009-2014)

Đơn vị: %






2009

2010

2011

2012

2013

2014

Quý 1

3,14

5,84

5,43

4,75

4,76

5,09

Quý 2

4,5

6,4

5,67

4,66

5,0

5,25

Cả năm

5,4

6,42

6,24

5,25

5,42

5,8*

Ghi chú: (*) Mục tiêu tăng trưởng theo Nghị Quyết của Quốc hội

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Tuy nhiên, theo dự báo của nhiều tổ chức kinh tế trên thế giới và trong nước,mục tiêu tăng trưởng kinh tế 5,8% do Chính phủ đặt ra cho năm 2014 là khó đạt được. Trên giác độ phân tích kinh tế vĩ mô, bài viết sẽ thực hiện phân tích tình hình tăng trưởng và lạm phát của nền kinh tế nhìn từ các chỉ số phản ảnh hai mặt của thị trường hàng hóa:Tổng cầu (AD) và Tổng cung (AS).



    1. Xu hướng biến động của tổng cầu

Tổng cầu (AD) của nền kinh tế bao gồm: chi tiêu của hộ gia đình (C), chi tiêu đầu tư của khu vực tư nhân (I), chi tiêu Chính phủ (G, gồm chi đầu tư phát triển và chi tiêu thường xuyên của Chính phủ) và xuất khẩu ròng (NX). Sự biến động của tổng cầu phụ thuộc vào sự thay đổi của các thành tố trong tổng cầu. Khi C, I, G, NX tăng thì tổng cầu tăng và tăng trưởng cũng như lạm phát trong ngắn hạn cũng tăng. Để thấy được xu hướng biến động của tổng cầu theo tháng, bài viết sử dụng số liệu thu thập từ Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan. Tuy nhiên, trong các thành tố của tổng cầu, số liệu về chi tiêu của hộ gia đình không có theo tháng nên sẽ được phân tích thông qua số liệu về tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Xu hướng biến động của đầu tư của khu vực tư nhân và đầu tư từ ngân sách nhà nước được phân tích thông qua số liệu theo tháng về giá trị tổng đầu tư của toàn xã hội (gồm đầu tư từ ngân sách nhà nước, đầu tư nước ngoài, đầu tư từ ngoài ngân sách). Do chi tiêu Chính phủ G gồm cả chi tiêu đầu tư từ ngân sách nhà nước nên chi ngân sách khi phân tích sẽ được lồng trong cả phần phân tích về đầu tư của toàn xã hội và chi ngân sách.

    1. Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng

Tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8 đạt 242,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,49% so với tháng trước và tăng 11,97% so với cùng kỳ năm trước (Hình 1).Về xu hướng chung của 8 tháng năm 2014 cho thấy có sự tăng nhẹ về tổng mức bán lẻ so với cùng kỳ. Tháng 6, tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt tỷ lệ cao nhất 17,15%. Tuy nhiên, tháng 7 và 8 lại chững lại với tỷ lệ thấp hơn nhưng cao hơn so với tỷ lệ tăng của tháng 2, 3, 4 và 5.

Hình 1. Tỷ lệ tăng tổng mức bán lẻ so với cùng kỳ (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Doanh thu bán lẻ hàng hóa tháng 8 đạt 184,2 nghìn tỷ đồng, tăng 0,9% so với tháng trước và tăng 12,2% so với cùng kỳ năm trước. Xét theo nhóm ngành hàng hóa bán lẻ, hàng vật phẩm, văn hóa, giáo dục ước tính đạt 2,9 nghìn tỷ đồng, tăng 4,5% so với tháng trước và là nhóm hàng có tốc độ tăng cao nhất; hàng may mặc đạt 9,5 nghìn tỷ đồng, tăng 2,1%; sửa chữa xe có động cơ, mô tô, xe máy đạt 3,7 nghìn tỷ đồng, tăng 1,9%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) đạt 4,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,4%; lương thực, thực phẩm đạt 47,2 nghìn tỷ đồng, tăng 1,3%; phương tiện đi lại, phụ tùng (trừ xe ô tô) đạt 13,6 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%; xăng, dầu đạt 24,3 nghìn tỷ đồng, tăng 1,1%.

Doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống tháng 8 giảm 4,2% so với tháng trước và tăng 7% so với cùng kỳ năm 2013; dịch vụ lữ hành tương ứng giảm 7,7% và tăng 8,2%. Hai thành phố lớn là Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh có doanh thu dịch vụ lưu trú ăn uống giảm so với tháng trước và cùng bằng 99,4%. Doanh thu du lịch lữ hành tháng 8 so với tháng trước của Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số tỉnh ven biển như sau: Hà Nội tăng 1,6%; thành phố Hồ Chí Minh giảm 11,3%; Hà Tĩnh tăng 2,8%; Phú Yên tăng 2,3%; Quảng Ninh tăng 1,8%; Đà Nẵng tăng 0,6%; Hải Phòng tăng 0,2%.

Tính chung 8 tháng năm nay, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng đạt 1900,4 nghìn tỷ đồng, tăng 11,4% so với cùng kỳ năm 2013, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,4%, cao hơn mức tăng 5,3% của cùng kỳ năm 2013. Thị trường giá cả ổn định là một trong những nguyên nhân làm cho hàng hóa tiêu dùng tăng khá hơn. Mặt khác, lượng khách quốc tế đến Việt Nam 8 tháng năm nay tăng cao hơn mức tăng của cùng kỳ năm trước cũng góp phần kích thích tăng cầu tiêu dùng.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng của khu vực kinh tế Nhà nước đạt 191,8 nghìn tỷ đồng, chiếm 10,1% tổng số và tăng 8,2%; kinh tế ngoài Nhà nước đạt 1643,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 86,5%, tăng 11,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 64,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 3,4%, tăng 23,7%. Trong tổng mức hàng hoá bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 8 tháng, kinh doanh bán lẻ hàng hóa đạt 1431 nghìn tỷ đồng, chiếm 75,3% tổng số và tăng 10,7%; dịch vụ lưu trú ăn uống đạt 229,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 12,1% và tăng 11,8%; dịch vụ khác đạt 219,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 11,6% và tăng 14,9%; du lịch lữ hành đạt 20 nghìn tỷ đồng, chiếm 1% và tăng 19,9%.

Hiện tại, chỉ số niềm tin người tiêu dùng Vietnam CCI1tháng 82đã tăng trở lại, đạt 135,5 điểm, tăng 1,4 điểm so với tháng trước. Chỉ số hiện tại đã cao hơn chỉ số trung bình 131,6 tính từ đầu năm 2014 đến nay và đạt cao nhất kể từ tháng 3 vừa qua. Kết quả điều tra chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam cho thấy, 51% (tăng 4% so với tháng trước) người tiêu dùng lạc quan về tình hình kinh tế trong vòng 12 tháng tới, 60% người tiêu dùng kỳ vọng tình hình kinh tế nói chung sẽ ở “trạng thái tốt” trong vòng 5 năm tới. Chỉ số Vietnam CCI tháng 8 tiếp tục tăng phù hợp với bối cảnh kinh tế vĩ mô được cải thiện. Theo ông Glenn Maguire, chuyên gia kinh tế trưởng khu vực châu Á - Thái Bình Dương của ngân hàng ANZ,các dữ liệu cơ bản của chỉ số niềm tin người tiêu dùng xác nhận sự chuyển hướng từ mối quan tâm chính trị trung hạn sang các chính sách cải thiện kinh tế vĩ mô ngắn hạn và chỉ số CCI của Việt Nam có nhiều khả năng sẽ dao động xung quanh mức hiện tại này hơn là tiếp tục tăng mạnh.

Như vậy, với sự gia tăng về chỉ số niềm tin người tiêu dùng Việt Nam cũng như tổng mức hàng hóa bán lẻ và doanh thu dịch vụ tiêu dùng có thể thấy tín hiệu tốt từ phía tiêu dùng cuối cùng (C) trong tổng cầu của nền kinh tế.


    1. Đầu tư

Hình 2. Vốn đầu tư toàn xã hội (tỷ VNĐ) và tỷ lệ vốn đầu tư toàn xã hội/GDP (%)



Ghi chú: Tỷ trọng vốn đầu tư toàn XH so với GDP được tính lũy kế từ đầu năm

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Vốn đầu tư toàn xã hội thực hiện quý 1 và 2 năm 2014 theo giá hiện hành ước tính đạt 502,5 nghìn tỷ đồng, tăng 8,2% so với cùng kỳ năm trước và bằng 30,1% GDP (thấp hơn tỷ lệ 30,4 của năm 2013), bao gồm: Vốn khu vực Nhà nước đạt 198,2 nghìn tỷ đồng, chiếm 39,5% tổng vốn và tăng 9,5% so với cùng kỳ năm trước; vốn khu vực ngoài Nhà nước đạt 178 nghìn tỷ đồng, chiếm 35,4% và tăng 7,9%; vốn khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 126,3 nghìn tỷ đồng, chiếm 25,1% và tăng 6,5%.Vốn đầu tư của khu vực Nhà nước vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất và tỷ lệ tăng trưởng cao nhất trong các loại hình đầu tư hiện tại ở Việt Nam. Vốn đầu tư toàn xã hội quý 1 và 2 đều cao hơn so với năm trước, tăng lần lượt là 6% và 21,9% so với cùng kỳ năm 2013.



Hình 3. Cơ cấu đầu tư toàn xã hội Q1/2013- Q1-2014 (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Cơ cấu chi đầu tư từ NSNN so với tổng đầu tư của toàn xã hội (Hình 3) Quí 2 năm 2014 tăng lên 41,1%, cao hơn mức tăng bình quân quí của năm 2013 (39,9%) và cao hơn so với Quí 1 năm nay (36,5%). Như vậy, việc tái cơ cấu theo Đề án tái cơ cấu nền kinh tế trong đó có tái cơ cấu đầu tư công của Chính phủ (tháng 2 năm 2013) vẫn chưa có tác động nhiều đến cơ cấu đầu tư của nền kinh tế.



  • Đầu tư từ ngân sách Nhà nước

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước tháng 8 ước tính đạt 19610 tỷ đồng, bằng 10,6% kế hoạch năm và tăng 3,0% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Vốn trung ương 4314 tỷ đồng, bằng 10,9% và tăng 2,6%; vốn địa phương 15296 tỷ đồng, bằng 10,5% và tăng 3,2%.

Vốn đầu tư thực hiện từ nguồn ngân sách Nhà nước 8 tháng năm nay đạt 129046 tỷ đồng, bằng 69,7% kế hoạch năm và tăng 2,1% so với cùng kỳ năm 2013.



  • Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tính từ đầu năm đếnngày 20/8/2014 thu hút 992 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 7.246,2 triệu USD, tăng 29,0% về số dự án và giảm 2,1% về số vốn so với cùng kỳ năm 2013. Đồng thời có 349 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước được cấp vốn bổ sung với 2.985,9 triệu USD. Như vậy tổng vốn đăng ký của các dự án cấp mới và vốn cấp bổ sung đạt 10.232,1 triệu USD, giảm 19,0% so với cùng kỳ năm 2013 (Hình 4). Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện 8 tháng năm nay ước tính đạt 7,9 tỷ USD, tăng 4,5% so với cùng kỳ năm trước.

Hình 4. FDI cấp phép, FDI đăng ký mới và FDI thực hiện theo tháng



Ghi chú: số liệu lấy vào ngày 20 hàng tháng

Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Trong 8 tháng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo thu hút các nhà đầu tư nước ngoài với số vốn đăng ký đạt 7000,8 triệu USD, chiếm 68,4% tổng vốn đăng ký; ngành kinh doanh bất động sản đạt 1154,3 triệu USD, chiếm 11,3%; ngành xây dựng đạt 552,9 triệu USD, chiếm 5,4%; các ngành còn lại đạt 1524,1 triệu USD, chiếm 14,9%.

Trong số 49 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư cấp mới tại Việt Nam trong 8 tháng, Hàn Quốc vẫn là nhà đầu tư lớn nhất với 2.467,8 triệu USD, chiếm 34,1% tổng vốn đăng ký cấp mới; tiếp đến là Đặc khu hành chính Hồng Kông (Trung Quốc) với 1.047,1 triệu USD, chiếm 14,5%; Nhật Bản 769,9 triệu USD, chiếm 10,6%; Xin-ga-po 594,2 triệu USD, chiếm 8,2%; Đài Loan 410,0 triệu USD, chiếm 5,7%; In-đô-nê-xi-a 353,2 triệu USD, chiếm 4,9%; Quần đảo Virgin thuộc Anh 295,2 triệu USD, chiếm 4,1%...


    1. Xuất nhập khẩu

  • Xuất khẩu

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu thực hiện tháng 7 đạt 12,92 tỷ USD, tăng 516 triệu USD so với số ước tính, trong đó điện thoại các loại và linh kiện tăng 181 triệu USD; dầu thô tăng 152 triệu USD; hàng dệt may tăng 46 triệu USD; giày dép tăng 45 triệu USD; điện tử, máy tính và linh kiện tăng 44 triệu USD; máy móc, thiết bị, phụ tùng tăng 35 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8 ước tính đạt 13 tỷ USD, tăng 0,7% so với tháng trước, trong đó kim ngạch một số mặt hàng tăng ở mức cao: Gạo tăng 10,6%; than đá tăng 58,7%; điện thoại các loại và linh kiện tăng 6,7%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng 8 tăng 10,3%, trong đó khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 12%, một số mặt hàng đạt kim ngạch tăng cao: Giày dép tăng 27,8%; hàng dệt may tăng 20,9%; hóa chất tăng 53,5%.

Tính chung 8 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 97 tỷ USD, tăng 14,1% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 31,8 tỷ USD, tăng 11,1% và chiếm 32,7% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 65,2 tỷ USD, tăng 15,6% và chiếm 67,3%. Trong 8 tháng, kim ngạch xuất khẩu một số mặt hàng chủ lực đạt mức tăng cao: Điện thoại các loại và linh kiện đạt 15,2 tỷ USD, tăng 13,7%; hàng dệt, may đạt 13,6 tỷ USD, tăng 19,7%; giày dép đạt 6,7 tỷ USD, tăng 23,1%; dầu thô 5,6 tỷ USD, tăng 14,3%; thủy sản đạt 5 tỷ USD, tăng 23,6%; máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 4,8 tỷ USD, tăng 23,1%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,9 tỷ USD, tăng 12,8%; cà phê đạt 2,5 tỷ USD, tăng 22,4%; túi xách, vali, mũ, ô dù đạt 1,7 tỷ USD, tăng 36,2%. Kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu giảm so với cùng kỳ năm trước, trong đó một số mặt hàng nông sản, nguyên nhiên vật liệu giảm cả về lượng và giá trị: Điện tử máy tính và linh kiện đạt 6,5 tỷ USD, giảm 4,1%; gạo đạt 4,5 triệu tấn tương đương 2 tỷ USD, giảm 7% về lượng và giảm 3,7% về giá trị; sắn và sản phẩm của sắn đạt 2,3 triệu tấn, tương đương 739 triệu USD, giảm 1,4% và giảm 2,7%; cao su đạt 550 nghìn tấn, tương đương 992 triệu USD, giảm 9,5% và giảm 31,7%; than đá đạt 5,1 triệu tấn, tương đương 377 triệu USD, giảm 37,8% và giảm 36,2%; xăng dầu đạt 727 nghìn tấn, tương đương 692 triệu USD, giảm 17,5% và giảm 15,4%.

Về thị trường hàng hóa xuất khẩu 8 tháng, Hòa Kỳ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với 18,5 tỷ USD, tăng 22,5% so với cùng kỳ năm 2013; tiếp đến là EU với 17,9 tỷ USD, tăng 13,3%; ASEAN đạt 12,4 tỷ USD, tăng 0,5%; Trung Quốc đạt 9,8 tỷ USD, tăng 15,2%, cao hơn nhiều so với mức tăng 1,6% của cùng kỳ năm 2013; Nhật Bản đạt 9,9 tỷ USD, tăng 12,7%; Hàn Quốc đạt 4,3 tỷ USD, tăng 3,1%.



  • Nhập khẩu

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu thực hiện tháng 7 đạt 12,96 tỷ USD, tăng 315 triệu USD so với số ước tính, trong đó xăng dầu tăng 180 triệu USD; sắt, thép tăng 169 triệu USD.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 8 ước tính đạt 12,9 tỷ USD, giảm 0,5% so với tháng trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 7,2 tỷ USD, giảm 0,5%, khu vực kinh tế trong nước đạt 5,7 tỷ USD, giảm 0,5%. Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu tháng 8 tăng 14,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 13,2%, khu vực kinh tế trong nước tăng 15,7%.

Tính chung 8 tháng năm nay, kim ngạch hàng hóa nhập khẩu ước tính đạt 95,3 tỷ USD, tăng 12% so với cùng kỳ năm 2013, bao gồm: Khu vực kinh tế trong nước đạt 41,9 tỷ USD, tăng 13,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 53,4 tỷ USD, tăng 10,9%.

Kim ngạch hàng hóa nhập khẩu 8 tháng năm nay tăng có sự đóng góp của một số mặt hàng máy móc thiết bị và nguyên, phụ liệu phục vụ sản xuất: Máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác đạt 14,6 tỷ USD, tăng 24,5% so với cùng kỳ năm 2013; vải đạt 6,2 tỷ USD, tăng 16,1%; xăng dầu đạt 5,9 tỷ USD, tăng 26,7%; chất dẻo đạt 4,1 tỷ USD, tăng 13%; nguyên phụ liệu dệt, may, giày dép đạt 3,1 tỷ USD, tăng 26,2%; thức ăn gia súc và nguyên phụ liệu đạt 2,2 tỷ USD, tăng 8,5%; kim loại thường khác đạt 2,2 tỷ USD, tăng 18,8%; sản phẩm hóa chất đạt 2,1 tỷ USD, tăng 17,2%; sản phẩm chất dẻo đạt 2 tỷ USD, tăng 23,2%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 1,6 tỷ USD, tăng 70,5%; bông đạt 988 triệu USD, tăng 28,3%.

Một số mặt hàng có kim ngạch nhập khẩu 8 tháng giảm so với cùng kỳ năm trước: Điện tử, máy tính và linh kiện đạt 11,2 tỷ USD, giảm 2,8%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 5,1 tỷ USD, giảm 0,7%; phân bón đạt 792 triệu USD, giảm 29,9%; phương tiện vận tải khác và phụ tùng đạt 500 triệu USD, giảm 54,3%; cao su đạt 417 triệu USD, giảm 7,9%; xe máy và linh kiện, phụ tùng đạt 249 triệu USD, giảm 20,5%.

Về thị trường hàng hóa nhập khẩu 8 tháng năm nay, Trung Quốc tuy vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất vào Việt Nam với kim ngạch đạt 27,6 tỷ USD, tăng 17,3% so với cùng kỳ năm 2013, nhưng thấp hơn mức tăng 27% của cùng kỳ năm trước. Do đó nhập siêu từ Trung Quốc 8 tháng ước tính đạt 17,8 tỷ USD, tăng 18,5% so với cùng kỳ năm 2013 và thấp hơn mức tăng 50% của cùng kỳ năm 2013. Tiếp đến là ASEAN với 15,2 tỷ USD, tăng 8,4%; Hàn Quốc đạt 14 tỷ USD, tăng 5,7%; Nhật Bản đạt 8,1 tỷ USD, tăng 8%; EU đạt 5,8 tỷ USD, giảm 9,1%; Hoa Kỳ 4,2 tỷ USD, tăng 19,9%.



  • Xuất khẩu ròng

Mức nhập siêu tháng 7 là 49 triệu USD, thấp hơn 250 triệu USD so với số ước tính. Tháng 8 xuất siêu ước tính 100 triệu USD. Xuất siêu 8 tháng là 1,7 tỷ USD, bằng 1,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 11,86 tỷ USD; khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 10,16 tỷ USD.

Hình 5. Kim ngạch xuất nhập khẩu và cán cân thương mại
thực hiện theo tháng




Nguồn: Tổng cục Hải Quan
Hình 6. Kim ngạch nhập khẩu lũy kế từ đầu năm 2013 và 2014 (tỷ $)



Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Hình 7. Kim ngạch xuất khẩu lũy kế từ đầu năm2013 và 2014 (Tỷ $)



Nguồn: Tổng cục Hải Quan
Hình 8. Xuất khẩu ròng lũy kế từ đầu năm2013 và 2014 (Tỷ $)



Nguồn: Tổng cục Hải Quan

Hình 6 và 7 cho thấy giá trị kim ngạch nhập khẩu và xuất khẩu lũy kế của 8 tháng năm 2014 đều thấp hơn so với 8 tháng năm 2013. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu ròng lũy kế (Hình 8) lại cho thấy có sự thặng dư liên tục tính từ đầu năm 2014 mặc dù tính riêng tháng 2, 5 và 7/2014 cán cân thương mại là thâm hụt (xem Hình 5).

Tóm lại, việc phân tích xu hướng thay đổi của các thành phần của tổng cầu cho thấy các thành phần của tổng cầu đang có xu hướng tăng trở lại với tín hiệu lạc quan hơn về sự phát triển kinh tế khi chỉ số niềm tin của người tiêu dùng đạt được mức cao nhất kể từ tháng 3. Trong thời gian tới, để có được sự bứt phá về sức cầu của nền kinh tế thì rất cần phải có sự tác động từ phía chính sách kinh tế như chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa của Chính phủ.


    1. Xu hướng biến động của tổng cung

Số liệu từ Tổng cục Thống kê (Hình 9 và 10) cho thấy ngành có đóng góp lớn nhất vào giá trị của GDP là ngành dịch vụ. Đứng thứ hai là công nghiệp và xây dựng. Hai quí đầu năm 2014, ngành dịch vụ đóng góp 43,8% GDP(cao hơn mức bình quân năm 2013 khoảng 2,5 điểm %), ngành công nghiệp và xây dựng đóng góp 38,84% GDP (chỉ cao hơn mức bình quân năm 2013 là 0,5 điểm %).
Hình 9. Giá trị hiện hành của GDP theo cơ cấu ngành (tỷ đồng)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam
Hình 10. Cơ cấu GDP theo ngành (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Như vậy, xu hướng biến động của ngành dịch vụ và công nghiệp và xây dựng sẽ có ảnh hưởng lớn tới sự thay đổi của GDP của Việt Nam. Tuy nhiên, do không có chuỗi số liệu theo tháng về sản lượng của các ngành này nên việc phân tích sự thay đổi theo tháng của tổng cung được thực hiện gián tiếp thông qua chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI-Industrial Production Index) , chỉ số hàng tồng kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (SI- Stock indexes) và chỉ số quản trị mua hàng (PMI-Purchasing Managers Index).



2.1. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IPI)

Theo Tổng cục Thống kê3,chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (Hình 11) đang trong xu hướng tăng trở lại.Tháng 8, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp ước tính tăng 6,7%, cao hơn so với cùng kỳ năm trước (4,4%), trong đó công nghiệp khai khoáng tăng 0,1%; công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 8,4%; sản xuất và phân phối điện tăng 10,0%; cung cấp nước, xử lý rác thải, nước thải tăng 7,4%.

Chỉ số sản xuất công nghiệp trung bình 8 tháng 2014 ước tính tăng bình quân so với cùng kỳ 2013 là 6,88%. Tuy nhiên, so với mức bình quân năm 2013 thì tỷ lệ này lại thấp hơn4.

Hình 11. Chỉ số sản xuất công nghiệp so với cùng kỳ năm trước (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Trong mức tăng chung 8 tháng của toàn ngành công nghiệp, ngành chế biến, chế tạo tăng 8,1%, đóng góp 5,6 điểm phần trăm; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%, đóng góp 0,8 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 6,2%, đóng góp 0,1 điểm phần trăm; riêng ngành khai thác tiếp tục giảm ở mức 0,8%, làm giảm 0,2 điểm phần trăm mức tăng chung.

Trong các ngành sản xuất, một số ngành có chỉ số sản xuất 8 tháng tăng cao so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất sản phẩm điện tử, máy tính và quang học tăng 34,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 20,2%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 20,2%; dệt tăng 17,0%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc thiết bị) tăng 13,8%; sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy tăng 13,1%; sản xuất trang phục tăng 11,6%; sản xuất và phân phối điện tăng 11,2%. Một số ngành có mức tăng khá: Sản xuất kim loại tăng 9,4%; sản xuất đồ uống tăng 8,1%. Một số ngành có mức tăng thấp hoặc giảm: Sản xuất, chế biến thực phẩm tăng 5,0%; sản xuất thiết bị điện tăng 3,9%; sản xuất hóa chất và các sản phẩm hóa chất tăng 3,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 2,9%; khai thác than cứng và than non giảm 0,3%; khai thác dầu thô và khí đốt tự nhiên giảm 1,0%; sản xuất thuốc lá giảm 11,1%...

Trong các sản phẩm sản xuất, một số sản phẩm đạt mức tăng 8 tháng cao so với cùng kỳ năm 2013: Điện thoại di động tăng 40,4%; ô tô tăng 27,9%; thép cán tăng 22,8%; tivi tăng 20,1%; giày dép da tăng 17,6%; sữa tươi tăng 16,9%; vải dệt từ sợi tự nhiên tăng 15,6%. Một số sản phẩm tăng khá: Điện tăng 11,7%; thủy sản chế biến tăng 10,7%; bột giặt và các chế phẩm dùng cho tẩy, rửa tăng 10,4%... Một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ: Xe máy giảm 11,7%; thuốc lá điếu giảm 11,2%; khí hóa lỏng giảm 7,7%; sữa bột giảm 3,8%; than đá giảm 3,0%; bột ngọt giảm 1,5%; dầu thô giảm 0,8% (đạt 10,1 triệu tấn, xấp xỉ 70% kế hoạch năm của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam); phân hỗn hợp (N,P,K) giảm 0,6%; sắt, thép thô giảm 0,1%.



2.2. Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo (SI)

Chỉ số tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tại thời điểm 01/8/2014, tăng 13,4% so với cùng thời điểm năm 2013. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng thấp hơn mức tăng chung hoặc giảm: Sản xuất đồ uống tăng 13,3%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 10,4%; dệt tăng 3,5%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 1,9%; sản xuất thiết bị điện giảm 1,9%; sản xuất sản phẩm thuốc lá giảm 4,7%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác giảm 12,8%. Một số ngành có chỉ số tồn kho tăng cao hơn nhiều so với mức tăng chung: Sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 54,1%; sản xuất trang phục tăng 46,1%; sản xuất phương tiện vận tải khác tăng 42,6%; sản xuất kim loại tăng 36,5%; sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu tăng 33,2%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 30,4%.

Tỷ lệ tồn kho toàn ngành công nghiệp chế biến, chế tạo bình quân 7 tháng là 77,3%, trong đó một số ngành có tỷ lệ tồn kho cao: Sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu 158,9%; sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 125,0%; sản xuất, chế biến thực phẩm 99,1%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn 87,2%; sản xuất kim loại 89,2%.

Hình 12. Tốc độ tăng chỉ số hàng tồn kho của ngành công nghiệp chế biến các tháng so với cùng kỳ năm trước (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Trong khi mức tăng của chỉ số sản xuất công nghiệp tương đối ổn định, Hình 12 cho thấy chỉ số hàng tồn kho đang có xu hướng tăng. Điều này cho thấy khả năng hấp thụ hàng hóa của nền kinh tế vẫn chưa có sự cải thiện sau nhiều nỗ lực của chính phủ trong điều tiết nền kinh tế.



2.3. Chỉ số quản trị mua hàng (PMI)

Chỉ số Nhà Quản trị mua hàng ngành sản xuất tại Việt Nam của HSBC được xây dựng trên dữ liệu thu thập hàng tháng từ 400 nhà quản trị mua hàng ở các doanh nghiệp sản xuất tham gia trả lời các bảng câu hỏi khảo sát. Nhóm khảo sát được phân theo khu vực địa lý và theo Tiêu chuẩn Phân Ngành (SIC) dựa trên sự đóng góp của ngành vào GDP của Việt Nam. Chỉ số trên 50 điểm cho thấy các điều kiện kinh doanh đang được cải thiện so với tháng trước, ngược lại kết quả dưới 50 điểm cho thấy sự giảm sút.

Theo số liệu thu thập được, kể từ tháng 9 năm 2013 đến nay (Hình 13), chỉ số PMI liên tục cao hơn ngưỡng 50 điểm. Điều này cho thấy điều kiện kinh doanh tháng sau có sự cảo thiện so với tháng trước. Tuy nhiên kể từ tháng 5, do ảnh hưởng của sự kiện Biển Đông, chỉ số PMI đã giảm liên tiếp từ mức 52,5 điểm vào tháng 5 đã giảm xuống gần sát ngưỡng 50 điểm vào tháng 8 (50,3 điểm).

Hình 13. Chỉ số quản trị mua hàng PMI



Nguồn: HSBC

Tóm lại, đối với phía cung chỉ số sản xuất công nghiệp tăng nhưng chưa có sự bứt phá rõ ràng. Cùng với xu hướng tăng lên của chỉ số hàng tồn kho và xu hướng giảm của chỉ số PMI cho thấy điều kiện sản xuất và kinh doanh của các doanh nghiệp hiện tại vẫn còn khó khăn. Để thúc đẩy sản xuất, Chính phủ cần đẩy mạnh hơn nữa chính sách hỗ trợ sản xuất cùng với các chính sách thúc đẩy tổng cầu, giải phóng hàng tồn kho cho các doanh nghiệp.



  1. Lạm phát 8 tháng đầu năm 2014

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2014 tăng 0,22% so với tháng trước (Hình 14). Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá tăng so với tháng trước: Nhóm hàng ăn và dịch vụ ăn uống tăng nhiều nhất với 0,45% (Lương thực tăng 0,45%; thực phẩm tăng 0,54%), chủ yếu do hoạt động thu mua gạo thực hiện hợp đồng mới xuất khẩu sang thị trường Phi-li-pin và Ma-lai-xi-a làm giá lương thực tăng và nhu cầu tiêu dùng ngày Rằm tháng Bảy làm giá thực phẩm tăng. Các nhóm hàng hóa và dịch vụ khác có chỉ số giá tăng nhẹ: May mặc, mũ nón, giày dép tăng 0,32%; nhóm giáo dục, nhóm thuốc và dịch vụ y tế cùng tăng 0,22% (Dịch vụ y tế tăng 0,24% do giá dịch vụ y tế tại tỉnh Phú Yên tăng 15,06% theo Nghị quyết số 109/2014/NQ-HĐND); đồ uống và thuốc lá tăng 0,13%; thiết bị và đồ dùng gia đình tăng 0,09%; văn hóa, giải trí và du lịch tăng 0,06%.

Các nhóm hàng hóa và dịch vụ có chỉ số giá giảm so với tháng trước: Nhà ở và vật liệu xây dựng giảm 0,31% (Giá gas giảm 1,41%; giá điện giảm 0,73%); nhóm giao thông giảm 0,06% do giá xăng dầu giảm 0,16% từ ba đợt điều chỉnh giảm giá (28/7, 7/8 và 18/8); nhóm bưu chính viễn thông giảm 0,02%).



Hình 14. CPI các tháng năm 2014 so với tháng 12 và cùng kỳ năm trước (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 8/2014 tăng 1,84% so với tháng 12/2013 (Hình 15) và tăng 4,31% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 8 tháng năm nay tăng 4,73% so với cùng kỳ năm trước, thấp hơn mức tăng 6,9% của cùng kỳ năm 2013, thể hiện sự bình ổn giá cả hàng hóa trên thị trường.

So sánh tỷ lệ tăng CPI tháng 8 năm 2014 so với tháng 12 năm 2013 với tỷ lệ tăng các tháng 8 của các năm trước (Hình 15) cho thấy tỷ lệ tăng 1,84% so với tháng 12/2013 là tỷ lệ thấp nhất kể từ năm 2009.

Hình 15. CPI tháng 8 so với tháng 12 và cùng kỳ năm trước thời kỳ 2009- 2014 (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Như vậy, đến hết tháng 8/2014, CPI tăng 1,84% so với tháng 12/2013. Tỷ lệ tăng này là thấp nhất kể từ năm 2009. Như vậy,CPI của nước ta mới chỉ đạt 26,3% mục tiêu lạm phát của cả năm (7%) do Chính phủ đặt ra. Dư địa cho lạm phát những tháng cuối còn tương đối rộng, tạo điều kiện cho NHNN và Bộ Tài chính thực hiện chính sách mở rộng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.



  1. Chính sách kinh tế vĩ mô

  • Chính sách tiền tệ

Thực hiện Chỉ thị số 01/CT-NHNN (ngày15/1/2014) của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về tổ chức thực hiện CSTT và đảm bảo hoạt động ngân hàng an toàn, hiệu quả năm 2014. Kể từ đầu năm 2014, CSTT được thực hiện theo hướng nới lỏng. Tổng phương tiện thanh toán (Bảng2) tăng dần từ tỷ lệ 0,82% của tháng 1/2014 đã tăng lên 8,66% so với tháng 12 năm trước, thấp hơn 0,44 điểm % so với tháng 8 năm 2013 (ở mức 9,1%).

Tuy nhiên, khi nhìn vào con số về tỷ lệ tăng trưởng tín dụng của các tháng năm 2014 so với cuối năm 2013 và tỷ lệ tương ứng từ tháng 1 đến tháng 8 của năm 2013 thì tỷ lệ của năm 2014 là thấp. Tính đến ngày 21 tháng 8 năm 2014 tín dụng tăng 4,33% trong khi của tháng 8 năm 2013 là 6,44%. Điều này cho thấy mức độ hấp thụ vốn của nền kinh tế là yếu mặc dù NHNN đã đưa ra những điều chỉnh nhằm làm giảm chi phí vay vốn như việc điều chỉnh giảm lãi suất tái cấp vốn, giảm lãi suất tái chiết khấu, hạ lãi suất trần huy động tiền gửi ngắn hạn...



Bảng 2.Một số chỉ tiêu chính sách tiền tệ, 2013 - 2014

Năm

Tháng

Tổng phương tiện thanh toán(a)

Tăng trưởng tín dụng(a)

Lãi suất cơ bản(b)

Lãi suất tái cấp vốn(b)

Lãi suất tái chiết khấu(b)

2013

1

1,17

-0,37

9

9

7

2

2,26

-0,05

9

9

7

3

3,77

1,17

9

8

6

4

4,41

2,22

9

8

6

5

5,3

3,13

9

7

5

6

7,31

4,72

9

7

5

7

7,51

5,36

9

7

5

8

9,1

6,44

9

7

5

9

10,33

6,87

9

7

5

10

11,73

7,27

9

7

5

11

13,7

7,21

9

7

5

12

18,51

12,51

9

7

5

2014

1

0,82

-0,55

9

7

5

2

1,94

-1,16

9

7

5

3

2,96

0,01

9

6,5

4,5

4

4,18

1

9

6,5

4,5

23/5

5,28

1,31

9

6,5

4,5

6

7.29

3.52

9

6,5

4,5

7

7.36

3.68

9

6,5

4,5




21/8

8.66

4.33

9

6,5

4,5

Ghi chú: (a): % tăng so với cuối năm trước; (b): % năm

Nguồn: NHNN

Như vậy, để đạt chỉ tiêu tổng phương tiện thanh toán tăng khoảng 16-18%, tín dụng tăng khoảng 12-14% theo chỉ thị của Thống đốc thì NHNN cần có những giải pháp thúc đẩy nhanh hoạt động tín dụng theo hướng tập trung vào các ngành, lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của Chính phủ (gói 30.000 tỷ đồng tháo gỡ khó khăn cho thị trường bất động sản, gói 16.000 tỷ đồng để hỗ trợ ngư dân đóng tàuđánh bắt xa bờ, đóng tàu trang thiết bị cho lực lượng cảnh sát biển, lực lượng kiểm ngư) hoặc thúc đẩy tín dụng đối với những lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả trong nền kinh tế.



  • Chính sách tài khóa

Tổng thu ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2014 ước tính đạt 538,8 nghìn tỷ đồng, bằng 68,8% dự toán năm, trong đó thu nội địa 366,7 nghìn tỷ đồng, bằng 68%; thu từ dầu thô 64 nghìn tỷ đồng, bằng 75,1%; thu cân đối ngân sách từ hoạt động xuất, nhập khẩu 103,7 nghìn tỷ đồng, bằng 67,3%. Trong thu nội địa, thu từ khu vực doanh nghiệp Nhà nước 124,8 nghìn tỷ đồng, bằng 67,6% dự toán năm; thu từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (không kể dầu thô) 78,6 nghìn tỷ đồng, bằng 70,4%; thu thuế công, thương nghiệp và dịch vụ ngoài Nhà nước 69,5 nghìn tỷ đồng, bằng 64,8%; thuế thu nhập cá nhân 30,6 nghìn tỷ đồng, bằng 64,5%; thuế bảo vệ môi trường 6,9 nghìn tỷ đồng, bằng 54,7%; thu phí, lệ phí 6,3 nghìn tỷ đồng, bằng 61,4%.

Tổng chi ngân sách Nhà nước từ đầu năm đến thời điểm 15/8/2014 ước tính đạt 627,9 nghìn tỷ đồng, bằng 62,4% dự toán năm, trong đó chi đầu tư phát triển 104,9 nghìn tỷ đồng, bằng 64,4% (riêng chi đầu tư xây dựng cơ bản 101,7 nghìn tỷ đồng, bằng 64,3%); chi phát triển sự nghiệp kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, quản lý Nhà nước, Đảng, đoàn thể ước tính đạt 445,4 nghìn tỷ đồng, bằng 63,3%; chi trả nợ và viện trợ 77,6 nghìn tỷ đồng, bằng 64,6%.

Hình 16 cho thấy thu và chi ngân sách nhà nước 8 tháng đầu năm 2014 có xu hướng đều tăng. Tuy nhiên, chi đầu tư phát triển 8 tháng đầu năm 2014 chỉ đạt 104,9 nghìn tỷ VNĐ, giảm 2,29% so với cùng kỳ và 44,5% dự toán năm.

Nếu xét tỷ trọng chi đầu tư phát triển so với chi NSNN theo tháng, Hình 17 cũng cho thấy xu hướng giảm đi. Tỷ lệ chi đầu tư phát triển so với chi NSNN trung bình tháng của năm 2013 là 20,9% thì 8 tháng đầu năm 2014 chỉ đạt mức bình quân là 16,3%.



Hình16. Tổng thu NSNN, tổng chi NSNN và chi đầu tư phát triển theo tháng (nghìn tỷ VND)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

Hình17. Tỷ trọng chi đầu tư phát triển so với tổng chi NSNN theo tháng (%)



Nguồn: Tổng cục Thống kê Việt Nam

NSNN tính đến 15/6/2014 ước bội chi 89,1 nghìn tỷ đồng, bằng 48,9% dự toán năm 2014. Do đó, để đạt được mục tiêu tăng trưởng 5,8%, Chính phủ vẫn còn dung lượng lớn của chính sách tài khóa được sử dụng cho việc điều tiết kinh tế trong các tháng cuối năm 2014.



  1. Dự báo tăng trưởng và lạm phát

Theo đánh giá triển vọng kinh tế thế giới của nhiều tổ chức uy tín trong và ngoài nước, các hoạt động kinh tế ở nhiều nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam trong năm 2014 còn gặp nhiều khó khăn, trở ngại và có những ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phục hồi kinh tế. Bởi vậy, mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2014 là 5,8% cũng là một thách thức đối với các nhà hoạch định chính sách ở Việt Nam. Bảng 4 trình bày kết quả dự báo tăng trưởng và lạm phát của Việt Nam do các tổ chức quốc tế và trong nước thực hiện.

: Uploads -> Articles04
Uploads -> Kính gửi Qu‎ý doanh nghiệp
Uploads -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
Uploads -> Như mọi quốc gia trên thế giới, bhxh việt Nam trong những năm qua được xem là một trong những chính sách rất lớn của Nhà nước, luôn được sự quan tâm và chỉ đạo kịp thời của Đảng và Nhà nước
Uploads -> Tác giả phạm hồng thái bài giảng ngôn ngữ LẬp trình c/C++
Uploads -> BỘ TÀi nguyên và MÔi trưỜng
Uploads -> TRƯỜng đẠi học ngân hàng tp. Hcm markerting cơ BẢn lớP: mk001-1-111-T01
Uploads -> TIÊu chuẩn quốc gia tcvn 8108 : 2009 iso 11285 : 2004
Uploads -> ĐỀ thi học sinh giỏi tỉnh hải dưƠng môn Toán lớp 9 (2003 2004) (Thời gian : 150 phút) Bài 1
Articles04 -> Kinh tế việt nam năM 2014: TỔng quan vĩ MÔ
Articles04 -> BÁo cáo hsbc kết nối giao thưƠng việt nam


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   27


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương