MỤc lục mục 4 111 quản lý HỆ thống thoát nưỚC 117



tải về 1.7 Mb.
trang7/14
Chuyển đổi dữ liệu17.08.2016
Kích1.7 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14

e) Tầng hầm đảm bảo đủ chỗ để xe theo quy định.

Điều 42. Quy định quản lý công trình tôn giáo

1. Quy định chung.

a) Các công trình tôn giáo là di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xếp hạng: việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới thực hiện theo quy định của Luật Di sản (không thuộc phạm vi điều chỉnh của quy chế này).

b) Công trình không thuộc danh mục bảo tồn.

- Việc cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới công trình tôn giáo cần có văn bản chấp thuận của Ban Tôn giáo- Dân tộc (Sở Nội vụ), trong đó nêu rõ chức năng sử dụng, quy mô phục vụ và các yêu cầu khác có liên quan;

- Cơ quan thẩm quyền về cấp phép xây dựng cần kiểm tra khu đất xây dựng công trình có thuộc phạm vi không gian kiến trúc đô thị đặc trưng đã xác định trong quy hoạch đô thị hoặc thiết kế đô thị; trường hợp nhận diện không gian kiến trúc đô thị đặc trưng nhưng chưa được xác định thì cần đề nghị cơ quan thẩm quyền về quản lý quy hoạch-kiến trúc cấp Tỉnh (Sở Xây dựng) có ý kiến cụ thể;

- Kiến trúc công trình phụ xây dựng chen bên trong khuôn viên công trình tôn giáo hiện hữu cần đảm bảo hài hòa với công trình kiến trúc chính thể hiện ở các yêu cầu sau:

+ Không được nổi bật hơn về mặt tỷ lệ, khối tích và độ cao;

+ Tương thích với công trình chính về thiết kế, màu sắc và vật liệu;

+ Các phần cũ và mới phải kết hợp như một công trình hài hòa nhưng phải đảm bảo sự khác biệt có thể nhận biết.

2. Phân loại công trình.

a) Chùa, niệm phật đường..

b) Nhà thờ, nhà nguyện, thánh đường, thánh thất,...

c) Trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo.

3. Diện tích khuôn viên, hình dạng khu đất xây dựng công trình.

Diện tích khuôn viên tối thiểu:

- Trong khu đô thị hiện hữu: 900m2;

- Trong khu vực đô thị mới: 1.800m2.

Có ít nhất 1 lối tiếp cận đường giao thông chiều rộng ≥ 12m, hoặc có 2 lối tiếp cận đường giao thông chiều rộng ≥ 6m.

4. Quy định về chỉ tiêu xây dựng.

a) Tầng cao, chiều cao: Theo quy hoạch chi tiết, quy hoạch phân khu được duyệt. Chiều cao tối đa không bao gồm các thành phần kiến trúc mang tính biểu trưng (như tháp chuông, thánh giá…). Tuy nhiên, chiều cao các thành phần kiến trúc nêu trên không quá 1/3 chiều cao công trình.

b) Hệ số sử dụng đất.

Tính toán theo tầng cao và mật độ xây dựng công trình

c) Mật độ xây dựng.

Mật độ xây dựng tối đa 40%

d) Khoảng lùi.

- Đối với khu đô thị hiện hữu:

Chiều cao xây dựng công trình (m)

Lộ giới

đường tiếp

giáp với lô đất xây dựng

công trình (m)

16

19

22

25

28

< 19

3

4

6

6

6

19  < 22

3

3

4

6

6

22  < 25

3

3

3

4

6

 25

3

3

3

3

6

Điều 43. Quy định quản lý công trình cửa hàng xăng dầu

1. Mục tiêu.

Nhằm đảm bảo việc lựa chọn vị trí, quy hoạch, xây dựng và quản lý cửa hàng xăng dầu:

a) Không làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông.

b) Đảm bảo các tiêu chí về an toàn về phòng chống cháy, bảo vệ cảnh quan.

c) Đảm bảo các qui định về vệ sinh môi trường.

d) Đảm bảo quy hoạch hệ thống cửa hàng xăng dầu trên địa bàn thành phố.

2. Quy định đối với cửa hàng xăng dầu.

Đảm bảo theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng hiện hành, cụ thể như sau:

a) Không được làm ảnh hưởng đến an toàn giao thông:

- Phải cách lộ giới (chỉ giới đường đỏ) ít nhất 7m (tính từ hình chiếu bằng của công trình trạm xăng);

- Đối với trạm xăng nằm gần các giao lộ (tính đến giao lộ với đường khu vực trở lên), khoảng cách từ lối vào trạm xăng tới chỉ giới đường đỏ gần nhất của tuyến đường giao cắt với tuyến đường đi qua mặt tiền của công trình trạm xăng cần đảm bảo ít nhất là 50m (với lộ giới đường khu vực ≥ 16m);

- Cách ngoài phạm vi bảo vệ dọc cầu và đường dẫn lên cầu tối thiểu 50m;

- Cách điểm có tầm nhìn bị cản trở ít nhất 50m (ví dụ: cách điểm tiếp tuyến của đường cong của đường giao thông có bán kính cong <50m ít nhất 50m dọc theo đường).

b) Bảo vệ an toàn về phòng chống cháy, bảo vệ cảnh quan.

- Khoảng cách an toàn từ tường rào trạm xăng đến chân các công trình công cộng tụ họp đông người (trường học, công trình thể thao, nhà hát, chợ và các công trình công cộng tương tự), di tích lịch sử - văn hóa tối thiểu là 100m, đến chân các công trình công cộng khác tối thiểu là 50m;

- Khoảng cách giữa các trạm xăng liền kề nhau tối thiểu là 300m ;

- Phải cách danh lam thắng cảnh ít nhất 100m;

- Trạm xăng dầu có kèm theo các dịch vụ khác như căn tin, rửa xe, vệ sinh công cộng thì các công trình dịch vụ này phải cách khu vực bể chứa và cột bơm xăng dầu ít nhất là 10m.

c) Diện tích tối thiểu của các cửa hàng xăng dầu:



Cấp của trạm xăng dầu

Tổng dung tích, m3

Diện tích đất, (m2)

1

2

3



> 61 – 150

16 – 61


<16

3.000 (1.000)

2.000 (500)

1.000 (300)

- Chú thích: Trị số trong dấu ngoặc () dùng cho nội đô. Diện tích chiếm đất nêu trong bảng trên không kể đến diện tích đất xây dựng khu sinh hoạt cho công nhân vận hành của trạm và đường cho xe ra vào trạm.

d) Khoảng cách đến đường dây điện.

- Khoảng cách an toàn từ cột bơm và cụm bể tới đường dây điện trên cột, đường dây thông tin quốc gia trên cột phải cách tối thiểu 1,5 lần chiều cao cột điện”.

3. Quy định về chỉ tiêu xây dựng.

a) Mật độ xây dựng tối đa: 40%.

b) Khoảng lùi các phía: phải cách ranh lộ giới ít nhất 7m (tính từ ranh hình chiếu bằng của công trình trạm xăng) và phải cách ranh đất xung quanh đảm bảo theo tiêu chí phòng cháy chữa cháy qui định.

c) Các tiêu chí về kỹ thuật cần tuân thủ theo quy định hiện hành.



Điều 44. Quy định về bảo tồn, cải tạo các công trình kiến trúc có giá trị

1. Phân loại công trình.

a) Công trình kiến trúc đã được xếp hạng hoặc đủ điều kiện xếp hạng di tích theo Luật Di sản Văn hóa, được lập hồ sơ di tích, liệt kê trong danh mục di tích của quốc gia hoặc tỉnh và được bảo vệ theo Luật Di sản Văn hóa.

b) Công trình kiến trúc có những giá trị đặc thù về kiến trúc cần được giữ gìn, bảo tồn nhưng không đủ điều kiện xếp hạng di tích, cần được lập danh mục và quản lý bằng các quy định, quy chế quản lý kiến trúc.

2. Quy định chung.

a) Không tự tiện phá dỡ hoặc cải tạo không đúng cách các công trình kiến trúc có giá trị, nhằm bảo vệ tính xác thực nguyên bản và sự toàn vẹn của chúng.

b) Các quy định về bảo tồn các công trình kiến trúc có giá trị được áp dụng đối với phạm vi khu vực bảo vệ I đối với công trình di tích (nhóm 1), hoặc cho mặt ngoài các công trình không đủ điều kiện xếp hạng di tích (nhóm 2), ngoại trừ các trường hợp đặc biệt. Đối với nhóm 2, nếu không gian hay vật dụng nội thất có giá trị vẫn còn tồn tại, thì chủ sở hữu được khuyến khích cố gắng bảo tồn nội thất nguyên gốc càng nhiều càng tốt.

c) Bất kỳ sự tác động nào đối với các công trình kiến trúc có giá trị đã được liệt kê cũng như việc xây dựng mới trong các khu vực có giá trị lịch sử đều phải được nghiên cứu xem xét kỹ lưỡng và được các cơ quan chức năng chấp thuận theo quy định.

d) Chủ sở hữu của các công trình kiến trúc có giá trị phải thực hiện các công tác duy tu bảo trì cần thiết để tránh làm cho công trình bị hư hại.

e) Đối với nhóm “Các công trình kiến trúc đã được xếp hạng hoặc đủ điều kiện xếp hạng di tích”.

- Bất kỳ hành động can thiệp nào đối với công trình kiến trúc loại này cần tuân thủ nghiêm ngặt Luật Di sản Văn hóa và được xem xét kỹ trên cơ sở Hồ sơ xác lập di tích;

- Tất cả các kế hoạch và bản vẽ thiết kế đối với khu vực bảo vệ I và II của di tích đều phải thông qua Bộ Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (đối với di tích cấp quốc gia ) hay Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch (đối với di tích cấp Tỉnh) và Sở Xây dựng (ý kiến về quy hoạch - kiến trúc), và có thể cần được Ủy ban nhân dân Tỉnh xem xét chấp thuận.

f) Đối với nhóm “Các công trình kiến trúc có những giá trị đặc thù về kiến trúc cần được giữ gìn, bảo tồn nhưng không đủ điều kiện xếp hạng di tích”.

- Các công trình kiến trúc loại này được liệt kê thành danh mục và vị trí, ranh giới, phạm vi bảo vệ từng công trình được xác định trong một bản đồ riêng hoặc trong quy hoạch phân khu và quy hoạch chi tiết;

- Các nội dung, yêu cầu bảo tồn đối với các công trình kiến trúc loại này cần được xác định hoặc bổ sung vào quy hoạch đô thị, thiết kế đô thị hay quy chế quản lý kiến trúc riêng;

- Bất kỳ hành động can thiệp nào đối với công trình kiến trúc loại này cần đảm bảo phù hợp với các nội dung, yêu cầu bảo tồn được xác định ở trên;

- Trường hợp cơ quan quản lý quy hoạch kiến trúc tại địa phương nhận định công trình ngoài danh mục nhưng cần nghiên cứu bảo tồn thì báo cáo lấy ý kiến của Xây dựng, trình Ủy ban nhân dân Tỉnh xem xét quyết định bổ sung vào danh mục;

- Đối với công trình ngoài danh mục nhưng có dấu hiệu cần nghiên cứu bảo tồn, Sở Xây dựng có thể xem xét tạm dừng có thời hạn việc xây dựng (sửa chữa, xây dựng mới) để chờ nghiên cứu cụ thể.



Điều 45. Quy định về xây dựng bổ sung, xây dựng mới trong khuôn viên công trình bảo tồn đã xếp hạng hoặc đủ điều kiện xếp hạng di tích

1. Quy định chung.

a) Bất kỳ hành động can thiệp nào đối với công trình bảo tồn cần tuân thủ Luật Di sản Văn hóa.

b) Việc xây dựng bổ sung, xây dựng mới trong khuôn viên công trình bảo tồn chỉ được xem xét ở phạm vi ngoài khu vực bảo vệ I trong Hồ sơ xếp hạng di tích.

c) Khi thẩm định dự án cải tạo, xây dựng công trình nằm ngoài các khu vực bảo vệ của di tích mà có khả năng ảnh hưởng xấu đến di tích, phải có ý kiến thẩm định bằng văn bản của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di tích cấp Tỉnh, của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đối với di tích quốc gia và di tích quốc gia đặc biệt.

d) Chức năng nguyên thủy hay chức năng mới bổ sung trong khuôn viên công trình bảo tồn cần được xem xét kỹ càng, không gây ảnh hưởng đối với công trình bảo tồn.

e) Đảm bảo không phá hủy đặc tính lịch sử hoặc tính chất của công trình, khuôn viên hoặc môi trường khu vực.

f) Lưu giữ được tính tổng thể về thị giác của thiết kế bên ngoài của công trình; không được tháo dỡ hoặc thay đổi bất kỳ chi tiết kiến trúc đặc trưng nào của công trình trong khu vực bảo vệ I.

2. Quy định về xây dựng mới trong khuôn viên công trình bảo tồn.

a) Việc cho phép xây dựng thêm công trình bên trong khuôn viên công trình bảo tồn cần được xem xét kỹ lưỡng bởi Sở Xây dựng, có ý kiến thẩm định của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đối với di tích cấp Tỉnh) hay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đối với di tích quốc gia), và được Uỷ ban nhân dân Tỉnh chấp thuận.

b) Chỉ giới xây dựng: lưu ý đặc biệt đến khoảng lùi về phía công trình bảo tồn (nếu có); trường hợp xây nối khối công trình mới vào công trình bảo tồn hoặc mở rộng công trình bảo tồn cần được xem xét hết sức kỹ càng.

c) Chiều cao công trình xây dựng bổ sung không cao hơn chiều cao phần khối tích chính của công trình bảo tồn.

d) Chiều cao tối đa của tầng trệt công trình: không cao hơn chiều cao tầng trệt của công trình bảo tồn.

e) Các phần xây thêm trong khuôn viên công trình bảo tồn không được nổi bật hơn về mặt tỷ lệ, khối tích và độ cao, và đồng thời phải tương thích với công trình chính về thiết kế, màu sắc và vật liệu. Các phần cũ và mới phải kết hợp như một công trình hài hòa nhưng phải đảm bảo sự khác biệt có thể phân biệt được. Không sao chép nguyên bản di tích để thiết kế cho phần xây thêm.

3. Quy định về sửa chữa cải tạo công trình bảo tồn.

a) Cần phải duy trì sự toàn vẹn về mặt hình ảnh của các mặt tường ngoài, khuôn mẫu điển hình của các ô cửa sổ và các chi tiết trang trí khác.

- Tháo dỡ các chi tiết trang trí, đắp nổi: cấm tháo dỡ các yếu tố này của tòa nhà;

- Sửa chữa, thay thế cửa sổ: Trong hầu hết các công trình lịch sử, viền cửa sổ, khung cửa và các chi tiết kiến trúc xung quanh cửa sổ được thiết kế cẩn thận như là một phần gắn kết của phong cách, tỷ lệ và đặc điểm của công trình. Vì vậy cần phải giữ lại kết cấu, vật liệu chi tiết và hoàn thiện, cấu tạo vận hành của cửa sổ nguyên gốc cũng như giữ gìn kích thước của ô cửa, bệ cửa, các chỉ trang trí và các viền cửa sổ. Việc sửa chữa, phục hồi được hết sức khuyến khích hơn là thay thế. Trường hợp cửa sổ đã bị hư hại không thể phục hồi thì việc thay mới phải đảm bảo các điều kiện sau:

+ Chỉ thay thế khi có sự chấp thuận của Sở Xây dựng và Sở Văn hoá, Thể Thao và Du lịch (đối với di tích cấp Tỉnh) hay Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (đối với di tích quốc gia. Để có thể tiến hành, chủ sở hữu công trình phải chuẩn bị báo cáo tình trạng hiện hữu để chứng minh khả năng sửa chữa, cải tạo không thể thực hiện được.

+ Cửa sổ mới phải phù hợp với cửa sổ hiện hữu về cấu trúc, hoạt động, các cấu kiện, vật liệu và hoàn thiện.

b) Thiết bị ngoài trời của hệ thống điều hòa không khí.

- Khi lắp đặt các thiết bị ngoài trời của hệ thống điều hòa không khí tại phía ngoài mặt tiền của công trình có giá trị lịch sử và công trình nằm trong khu vực lịch sử đặc biệt, cần tuân theo các nguyên tắc sau:

+ Các thiết bị ngoài trời không gây cản trở về mặt thị giác đến công trình bảo tồn và nét đặc trưng của khu vực lịch sử.

+ Không được phép tháo dỡ các vật liệu nguyên gốc của công trình bảo tồn. Trong trường hợp bất khả kháng, phải đảm bảo phần vật liệu bị tháo bỏ là nhỏ nhất.



CHƯƠNG IV

QUẢN LÝ CÔNG TRÌNH HẠ TẦNG KỸ THUẬT

Mục 1

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 46. Quy định về quản lý đường phố, hè phố

1. Mục đích.

Quy định về quản lý đường phố, hè phố, quảng trường nhằm đảm bảo việc xây dưng và khai thác đường phố, hè phố phù hợp quy hoạch, đảm bảo về kiến trúc, mỹ quan, cảnh quan và môi trường sống của đô thị.

2. Về chiều rộng.

Tuân thủ theo quy định hiện hành.

3. Quy định quản lý.

a) Đối với các tuyến đường trục chính đô thị, đại lộ phải thực hiện thiết kế đô thị dọc tuyến đảm bảo mỹ quan đô thị.

b) Đối với các công trình cầu bắc qua sông từ cấp IV trở lên, cầu vượt qua đường trục chính đô thị hoặc cầu xây dựng tại các vị trí đặc biệt như khu di tích lịch sử, khu bảo tồn di sản văn hóa, kiến trúc, khu trung tâm thương mại cấp thành phố... cần phải tổ chức thi tuyển kiến trúc theo quy định.

c) Đối với vỉa hè, hè phố cần phải đảm bảo không gian cho người đi bộ, đảm bảo lớp bề mặt bằng phẳng, cấu trúc đồng bộ. Việc lắp đặt biển báo, biển quảng cáo, đèn tín hiệu, đèn trang trí phải tuân thủ theo các quy định hiện hành.

d) Không được phép lấn chiếm lòng lề đường, việc sử dụng lòng đường, vỉa hè để đậu xe phải được sự chấp thuận của UBND Tỉnh hoặc cơ quan được UBND Tỉnh ủy quyền quyết định. Nếu sai phạm thì bị xử phạt theo quy định hiện hành.

e) Việc trồng và quản lý cây xanh đường phố cần phải tuân thủ theo quy định hiện hành.

f) Việc thiết kế các công trình kiến trúc trong khu vực quảng trường và tiếp giáp với khu vực quảng trường cần phải xin ý kiến của Sở Xây Dựng hoặc tổ chức thi tuyển kiến trúc sẽ do Sở Xây Dựng xem xét tham mưu báo cáo UBND Tỉnh tùy thuộc vào mức độ quan trọng của công trình.



Điều 47. Quy định về bến bãi đường bộ

Bến - bãi đậu xe được xem là một bộ phận của tổ chức giao thông đô thị hiện đại nhằm đảm bảo cho việc dừng - đậu xe, lưu giữ xe và hàng hóa một cách có tổ chức, an toàn, thuận tiện và vệ sinh, nhờ đó nâng cao được hiệu quả sử dụng phương tiện, công trình, đất trong đô thị và trật tự đô thị.

Các bến, bãi đậu xe cần bảo đảm các nguyên tắc sau:

a) Kết nối đa phương tiện, thuận tiện cho người đi bộ, hành khách cũng như việc tiếp nhận, lưu giữ tạm thời và trung chuyển hàng hoá.

b) Hạn chế ảnh hưởng tiêu cực đến khu dân cư.

c) Không ảnh hưởng đến môi trường.

d) Bảo đảm an toàn giao thông.

e) Tổ chức không gian công cộng thuận tiện, an toàn, vệ sinh và đẹp.

f) Việc triển khai đầu tư xây dựng bến bãi đậu xe phải đảm bảo phù hợp với quy hoạch ngành giao thông và quy hoạch đô thị được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

g) Công trình bến bãi phải đảm bảo đầy đủ các cơ sở hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, kết nối giao thông thuận lợi và không ảnh hưởng đến việc hoạt động bình thường của hệ thống Hạ tầng kỹ thuật khu vực, có xem xét đến tương quan giữa bến bãi với khu vực xung quanh, phù hợp với sự phát triển của thành phố và khu vực hiện nay.

h) Quy mô, hình thức kiến trúc các công trình phụ trợ trong khu vực bến bãi phải đảm bảo hài hòa, phù hợp với không gian kiến trúc cảnh quan khu vực.

i) Cải tạo và bảo vệ triệt để môi trường sinh thái song song với sự phát triển lâu dài cũng như chú trọng cảnh quan khu vực.



Điều 48. Quy định về cảng - bến đường thủy

Cảng - bến đường thủy (bao gồm cảng biển, cảng sông và các bến bãi đường thủy) là khu vực bao gồm vùng đất xây dựng cảng - bến và vùng nước tiếp giáp cảng - bến, được xây dựng kết cấu hạ tầng và lắp đặt trang thiết bị cho tàu thuyền ra, vào hoạt động để bốc dỡ hàng hóa, đón trả khách và thực hiện các dịch vụ khác.

Quản lý và cấp phép xây dựng:

Các khu cảng - bến đường thuỷ phải được cấp phép căn cứ vào quy hoạch và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng liên quan. Hình thức kiến trúc công trình cần hài hòa với cảnh quan xung quanh, khuyến khích tăng cường không gian xanh (mảng cỏ, trồng cây xanh).



Điều 49. Quy định về hệ thống đèn tín hiệu, cột đèn

Quy định quản lý:

Tuân thủ theo quy định hiện hành đồng thời phải đảm bảo các tiêu chí.

a) Đúng tiêu chuẩn.

b) Đồng bộ.

c) Thông minh.

d) Tiết kiệm năng lượng.

e) Hiện đại.



Điều 50. Quy định Quản lý nghĩa trang, nghĩa địa

Tuân thủ theo quy định hiện hành về xây dựng, quản lý và sử dụng nghĩa trang

Người chết phải được chôn cất tại các nghĩa trang đã được Ủy ban nhân Tỉnh quy hoạch, trường hợp đặc biệt ở những nơi theo tập tục riêng hoặc chôn cất trong các khuôn viên nhà thờ, nhà chùa, thánh thất tôn giáo phải được sự chấp thuận của UBND thành phố.

Việc chôn cất phải phù hợp với tín ngưỡng, phong tục tập quán, truyền thống văn hóa và nếp sống văn minh, bảo đảm vệ sinh môi trường.

Gia đình thân nhân hoặc tổ chức phải chấp hành theo sự hướng dẫn của tổ quản trang và nộp lệ phí theo quy định.

Điều 51. Khu đầu mối hạ tầng kỹ thuật

Là khu vực dành để bố trí các công trình đầu mối kỹ thuật như giao thông, xử lý nước thải, cấp nước, cấp năng lượng và chiếu sáng, xử lý chất thải rắn … và được xác định theo quy hoạch chung thành phố, quy hoạch chung phường xã và quy hoạch phân khu.

Quản lý và cấp phép xây dựng:

Các khu đầu mối hạ tầng kỹ thuật phải được cấp phép căn cứ vào quy hoạch và các quy chuẩn, tiêu chuẩn xây dựng liên quan. Hình thức kiến trúc công trình cần hài hòa với cảnh quan xung quanh, khuyến khích tăng cường không gian xanh (mảng cỏ, trồng cây xanh) và mặt nước trong khu vực. Ngoài ra còn phải đảm bảo các tiêu chuẩn quốc gia về môi trường.



Điều 52. Quy định về các công trình đường dây đường ống hạ tầng kỹ thuật

1. Đối với các khu đô thị mới.

Chủ đầu tư các khu đô thị mới, khu nhà ở mới và các tuyến đường phố mới xây dựng hoặc cải tạo, mở rộng có trách nhiệm đầu tư xây dựng các công trình cống, bể kỹ thuật hoặc hào, tuy nen kỹ thuật để bố trí, lắp đặt các đường dây và đường ống kỹ thuật theo quy hoạch được duyệt.

2. Đối với các khu đô thị cũ, đô thị cải tạo.

Khi tiến hành xây dựng mới hoặc cải tạo mở rộng các trục đường cấp đô thị theo quy hoạch (đủ quy mô theo lộ giới quy hoạch) thì chủ đầu tư thực hiện dự án phải có trách nhiệm thực hiện hạ ngầm các đường dây đường ống Hạ tầng kỹ thuật bằng việc xây dựng các công trình cống, bể kỹ thuật hoặc hào, tuy nen kỹ thuật để bố trí, lắp đặt các đường dây và đường ống kỹ thuật.

Các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư xây dựng các công trình cống, bể kỹ thuật hoặc hào, tuy nen kỹ thuật để bố trí, lắp đặt các đường dây và đường ống kỹ thuật được Nhà nước khuyến khích, hỗ trợ và ưu đãi đầu tư theo các quy định của pháp luật hiện hành.



Mục 2

QUẢN LÝ HỆ THỐNG CÔNG VIÊN, CÂY XANH ĐÔ THỊ

Điều 53. Quy định quản lý, trồng chăm sóc và bảo tồn hệ thống công viên, cây xanh đô thị

1. Nguyên tắc quản lý.

a) Tất cả các loại cây xanh đô thị đều được xác định chủ sở hữu, do tổ chức, đơn vị, cá nhân quản lý hoặc được giao quản lý.

b) Việc trồng cây xanh đô thị phải thực hiện theo quy hoạch xây dựng đô thị hoặc quy hoạch chuyên ngành cây xanh được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

c) Việc lựa chọn chủng loại và trồng cây xanh phải mang bản sắc địa phương, phù hợp với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng, đồng thời phải đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về sử dụng, mỹ quan, an toàn giao thông và vệ sinh môi trường; hạn chế làm hư hỏng các công trình, cơ sở hạ tầng trên mặt đất, dưới mặt đất cũng như trên không.

d) Các tổ chức, đơn vị, cá nhân có trách nhiệm quản lý, bảo vệ, chăm sóc cây xanh trong khuôn viên, trước mặt nhà, đồng thời thông báo kịp thời cho các cơ quan chức năng quản lý để giải quyết khi phát hiện cây xanh có dấu hiệu khác thường, nguy cơ gãy đổ, nguy hiểm hay các hành vi gây ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây xanh đô thị.

2. Trách nhiệm Ủy ban nhân dân thành phố.

a) Tổ chức thực hiện quản lý cây xanh đô thị trên địa bàn mình quản lý.

b) Chỉ đạo đơn vị quản lý công viên, cây xanh chăm sóc, bảo quản, kiểm tra định kỳ việc, đốn hạ, di dời cây thuộc danh mục cây cổ thụ, cây cần được bảo tồn.

c) Hướng dẫn hỗ trợ chủng loài, quy cách, kỹ thuật trồng, chăm sóc cây, kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh cho cây xanh và cung cấp, hỗ trợ giống cây trồng cho các cơ quan, tổ chức chính trị - xã hội khi tổ chức các phong trào trồng cây xanh; hướng dẫn hỗ trợ cho các tổ chức, cá nhân trồng cây xanh trên các khu đất trống, trên địa bàn do địa phương quản lý.

d) Chủ trì, phối hợp với Sở Xây dựng và các cơ quan liên quan trong việc lập, thực hiện và quản lý quy hoạch xây dựng công viên, cây xanh đô thị trên địa bàn.

e) Quản lý địa bàn không để tình trạng lấn chiếm, sử dụng trái phép các vị trí được quy hoạch xây dựng công viên, cây xanh.

f) Chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp phường trong công tác bảo vệ hệ thống công viên, cây xanh trên địa bàn quản lý.

g) Thực hiện việc cấp Giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh theo quy định.

3. Trách nhiệm của đơn vị quản lý công viên.

Đơn vị được cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền giao nhiệm vụ quản lý công viên có trách nhiệm:

a) Thực hiện kiểm tra, quản lý công viên cây xanh nhằm tạo cảnh quan, môi trường tốt nhất phục vụ các tầng lớp nhân dân khi đến vui chơi giải trí, luyện tập thể dục thể thao, nghỉ ngơi nhằm giữ gìn, bảo quản cho sự phát triển bền vững lâu dài của công viên.

b) Chăm sóc bảo dưỡng thường xuyên vườn hoa, thảm cỏ, dây leo, cây kiểng, cây xanh trong công viên.

c) Thu dọn rác vận chuyển và xử lý rác đúng nơi quy định, bảo đảm môi trường luôn trong sạch.

d) Phối hợp với chính quyền địa phương tổ chức lực lượng tuần tra, bảo vệ thường xuyên, bảo đảm an ninh trật tự khu vực công viên, tạo điều kiện thông thoáng, thuận lợi cho mục đích công cộng.

e) Việc đốn hạ, di dời cây xanh trong công viên phải được Ủy ban nhân dân thành phố đồng ý chủ trương và thực hiện theo các quy định hiện hành.

4. Tổ chức hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ, văn hoá nghệ thuật trong công viên, Quảng trường.

a) Các hoạt động kinh doanh thương mại, dịch vụ trong công viên để phục vụ khách tham quan phải phù hợp với chức năng của công viên, quy hoạch thiết kế xây dựng công viên và thực hiện đúng các quy định hiện hành của Nhà nước đối với từng loại hình hoạt động.

b)Việc tổ chức phục vụ văn hóa nghệ thuật, hội chợ, triển lãm, lễ hội trong công viên phải được sự chấp thuận của UBND thành phố và thực hiện đúng theo quy định hiện hành.

5. Trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân đối với cây xanh được bảo tồn trong đô thị.

Cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm đối với cây thuộc danh mục cây cổ thụ, cây cần được bảo tồn trong phạm vi công viên, đường phố, khuôn viên do mình quản lý như sau:

a) Bảo quản, chăm sóc cây cổ thụ, cây cần được bảo tồn.

b) Khi phát hiện cây có cành, nhánh nặng tàn, cành khô hoặc bị sâu bệnh có nguy cơ gãy đổ phải kịp thời báo cho đơn vị trực tiếp phụ trách chăm sóc bảo vệ cây xanh để xử lý theo quy định.

c) Khi cần đốn hạ, di dời cây thuộc danh mục cây cổ thụ, cây cần được bảo tồn phải được UBND tỉnh hoặc UBND thành phố đồng ý bằng văn bản theo quy định.

6. Đối với cây xanh được bảo tồn trong đô thị.

Đơn vị quản lý công viên, cây xanh có trách nhiệm:

a) Thực hiện việc thống kê, phân loại, đánh số, treo biển tên (cây cổ thụ, cây cần được bảo tồn) và lập hồ sơ cho từng cây để phục vụ công tác quản lý.

b) Quản lý việc đảm bảo về mỹ thuật, an toàn khi chăm sóc, đốn hạ, di dời cây.

c) Kiểm tra định kỳ cắt mé cành, nhánh nặng tàn, lấy nhánh khô; khống chế chiều cao; chống, sửa cây nghiêng, tạo dáng; bón phân, xử lý sâu bệnh đối với cây.

d) Hướng dẫn cho các tổ chức, đơn vị và cá nhân về kỹ thuật chăm sóc cây.

7. Đối với cây xanh trên đường phố.

Mọi tổ chức cá nhân, hộ gia đình có trách nhiệm chăm sóc, bảo vệ cây xanh đường phố, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm các quy định về bảo vệ cây xanh trong đô thị đồng thời thông báo cho UBND thành phố để có biện pháp xử lý.

7.1 Đơn vị quản lý cây xanh có trách nhiệm thực hiện các công việc sau.

a) Tổ chức trồng mới cây xanh trên đường phố theo quy hoạch được duyệt.

b) Trồng thay thế cây xanh đường phố bị đốn hạ do sâu bệnh không có khả năng phát triển, cây xanh bị chết, cây xanh có nguy cơ ngã đổ.

c) Trồng cây theo quy hoạch, trường hợp chưa có quy hoạch phải đựơc Sở Xây dựng xem xét thỏa thuận phù hợp với quy hoạch chung xây dựng đô thị.

7.2 Bảo quản, chăm sóc cây xanh trên đường phố.

a) Tưới, bón phân, kiểm tra xử lý cây bị sâu bệnh, đảm bảo cây sinh trưởng và phát triển tốt.

b) Cắt mé cành, nhánh nặng tàn, lấy nhánh khô, khống chế chiều cao, chống - sửa cây nghiêng, tạo tán cho cây, bảo đảm mỹ thuật và mỹ quan đô thị.

c) Lập kế hoạch thực hiện việc đốn hạ, thay thế các tuyến cây xanh lâu năm, già cỗi không còn phát huy tác dụng và không bảo đảm an toàn cho sinh hoạt đô thị.

d) Khảo sát, thiết lập chăm sóc đặc biệt đối với cây cần được bảo tồn, cây mang tính đặc trưng của địa phương, của vùng địa lý, cây xanh trên đường phố có chiều cao từ 15m trở lên.

e) Tổ chức lực lượng tuần tra, bảo vệ thường xuyên hệ thống cây xanh đường phố.

7.3 Phát hiện, lập kế hoạch thực hiện việc đốn hạ cây xanh bị sâu bệnh không có khả năng điều trị, bị chết, có nguy cơ đổ ngã và cây xanh thuộc danh mục cây cấm trồng.

8. Bảo quản, chăm sóc cây xanh trong khuôn viên nhà đất của cơ quan, tổ chức và cá nhân tại đô thị.

8.1 Cơ quan, tổ chức và cá nhân có quyền trong việc lựa chọn giống cây trồng, được thụ hưởng toàn bộ từ cây và chịu trách nhiệm trong việc bảo quản, chăm sóc cây xanh, hoa, cỏ, cây kiểng, dây leo trồng trong khuôn viên do mình quản lý.

8.2 Cây trồng trong khuôn viên của cơ quan, tổ chức và cá nhân phải tuân thủ các nguyên tắc sau.

a) Không thuộc danh mục cây cấm trồng; (theo phụ lục 2).

b) Cây trồng lẻ, trồng dặm thì tùy thuộc vào khoảng không gian của khuôn viên mà chọn cây thích hợp nhưng có độ cao khi trưởng thành không quá 15m.

c) Khoảng cách ly an toàn đến các công trình kỹ thuật đô thị phải theo quy định của cơ quan quản lý chuyên ngành; đồng thời, phải bảo đảm cây xanh có tán, thân, rễ không ảnh hưởng đến các công trình lân cận thuộc tổ chức, cá nhân khác quản lý.

8.3 Việc bảo quản, chăm sóc, đốn hạ, di dời cây xanh thuộc danh mục cây cổ thụ, cây cần được bảo tồn và cây có chiều cao từ 15m trở lên được thực hiện theo quy định tại Mục 4 và Mục 5, Chương IX của Quy định này.

Điều 54. Quy định cấp phép đốn hạ, di dời cây xanh

1. Các trường hợp cấp giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh.

1.1 Các cơ quan, tổ chức và cá nhân khi muốn đốn hạ, di dời các loại cây xanh thì phải có Giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh, trừ trường hợp quy định tại Khoản 2 Điều này, cụ thể như sau:

a) Cây xanh được bảo tồn trong đô thị.

b) Cây xanh trồng trong công viên được đầu tư xây dựng hoàn toàn bằng nguồn vốn ngân sách Nhà nước.

c) Cây xanh có chiều cao từ 10m trở lên trong công viên được đầu tư xây dựng một phần bằng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hoặc bằng các nguồn vốn khác.

d) Cây xanh có chiều cao từ 10m trở lên không thuộc danh mục cây cấm trồng trong khuôn viên nhà đất của các cơ quan, tổ chức và cá nhân.

e) Cây xanh trồng trên đường phố.

1.2 Trường hợp được miễn giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh:

a) Cây xanh cần được đốn hạ ngay do tình thế khẩn cấp, thiên tai hoặc cây xanh có nguy cơ ngã đổ gây nguy hiểm, cây đã chết, đã bị đổ gãy.

b) Cây xanh nằm trong khu vực có dự án xây dựng các công trình đã có ý kiến chấp thuận cho phép đốn hạ, di dời cây xanh của cơ quan có thâm quyền quản lý công viên, cây xanh.

1.3 Đơn vị quản lý cây xanh đốn hạ cây xanh trồng trên đường phố phải thực hiện theo đúng quy định.

1.4 Cây trước khi chặt hạ, dịch chuyển phải có biên bản, ảnh chụp hiện trạng và phải báo cáo lại cho UBND thành phố chậm nhất trong vòng 10 ngày kể từ ngày thực hiện xong.

2. Thủ tục cấp giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh.

2.1 UBND cấp thành phố cấp phép đốn hạ, di dời cây xanh là theo đề nghị của Phòng quản lý đô thị.

2.2 Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh, gồm có:

a) Giấy đề nghị được phép đốn hạ, di dời cây xanh.

b) Bản vẽ thiết kế công trình có định vị cây xanh cần đốn hạ, di dời. Trường hợp không có bản vẽ thiết kế thì trong Giấy đề nghị nêu rõ vị trí đốn hạ, di dời, kích thước, loại cây và lý do cần đốn hạ, di dời.

c) Ảnh chụp hiện trạng cây xanh cần đốn hạ, di dời.

2.3 Cơ quan cấp Giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh có trách nhiệm: Tổ chức tiếp nhận hồ sơ, giao giấy biên nhận hồ sơ, hẹn ngày trả Giấy phép. Thời gian cấp Giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh tối đa không quá 07 ngày làm việc kể từ khi cơ quan thụ lý việc cấp Giấy phép nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không giải quyết được phải nêu rõ lý do và trả lời bằng văn bản cho đơn vị xin cấp giấy phép được biết.

2.4 Việc đốn hạ, di dời cây xanh phải thực hiện theo đúng Giấy phép được cấp, đồng thời phải đảm bảo an toàn giao thông, vệ sinh môi trường và các quy định khác có liên quan.

3. Thực hiện việc đốn hạ, di dời cây xanh.

a) Thời gian để thực hiện việc đốn hạ, di dời cây xanh là không quá 30 ngày kể từ ngày được cơ quan có thẩm quyền đồng ý bằng văn bản hoặc cấp Giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh.

b) Quá thời hạn quy định tại điểm a Khoản này mà chưa thực hiện việc đốn hạ, di dời cây xanh thì Giấy phép đốn hạ, di dời cây xanh không còn giá trị.

c) Đối với cây xanh phục vụ các công trình, dự án thì việc đốn hạ, di dời cây xanh được thực hiện theo tiến độ yêu cầu của dự án, chi phí đốn hạ được tính vào dự án.

d) Trước khi triển khai việc đốn hạ, di dời cây xanh, tổ chức hoặc cá nhân thực hiện phải thông báo cho chính quyền địa phương.

e) Việc đốn hạ, di dời cây xanh phải bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe, tài sản của tổ chức, cá nhân.

4. Xử lý một số trường hợp đặc biệt đối với cây xanh cần đốn hạ, di dời ngay, cây xanh đã bị ngã đổ.

4.1 Trường hợp đột xuất cần đốn hạ, di dời ngay do tình thế khẩn cấp, thiên tai hoặc cây có nguy cơ ngã đổ gây nguy hiểm.

Đơn vị trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, bảo quản công viên, cây xanh; chủ đầu tư đối với công viên được xây dựng một phần từ nguồn vốn ngân sách Nhà nước hoặc bằng các nguồn vốn khác phải có trách nhiệm phối hợp với UBND phường, xã lập biên bản hiện trạng, thực hiện ngay việc đốn hạ, di dời cây xanh và lập hồ sơ báo cáo cơ quan được phân cấp quản lý công viên, cây xanh. Hồ sơ gồm có:

a) Ảnh chụp hiện trạng cây xanh trước khi đốn hạ.

b) Biên bản hiện trạng cây xanh trước khi đốn hạ.

4.2 Trường hợp cây xanh bị ngã đổ.

Đơn vị trực tiếp thực hiện việc chăm sóc, bảo quản công viên, cây xanh; chủ đầu tư đối với công viên xây dựng một phần bằng nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hoặc bằng các nguồn vốn khác có trách nhiệm lập biên bản hiện trạng, dọn dẹp, giải tỏa ngay mặt bằng và thông báo UBND cấp phường (xã) và cơ quan được phân cấp quản lý công viên, cây xanh. Hồ sơ gồm có:

a) Văn bản nêu lý do cây xanh bị ngã đổ.

b) Ảnh chụp tình trạng cây xanh bị ngã đổ.

4.3 Khuyến khích các đơn vị quản lý thực hiện các biện pháp khẩn cấp để khắc phục nguy hiểm, bảo vệ an toàn cho cây xanh nhưng phải đảm bảo an toàn tính mạng cho nhân dân.

5. Quy hoạch cây xanh đô thị.

a. Quy hoạch cây xanh đô thị là một nội dung trong Đồ án quy hoạch xây dựng đô thị được thực hiện theo quy định hiện hành.

b. Quy hoạch chi tiết cây xanh, công viên, vườn hoa đô thị thực hiện.



Mục 3

QUẢN LÝ HỆ THỐNG ĐƯỜNG ĐÔ THỊ

Điều 55. Phân loại đường đô thị

1. Đường đô thị là đường bộ nằm trong phạm vi nội thành, nội thị, được giới hạn bởi chỉ giới đường đỏ theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đường đô thị được phân thành ba loại đường, gồm: đường phố, đường hẻm chính và đường hẻm phụ.

a) Đường phố là đường bộ trong đô thị gồm lòng đường và hè phố, có chức năng chính là giao thông liên hệ trong giới hạn của đô thị giữa các ô phố, khu nhà ở, khu dân dụng, khu trung tâm công cộng và các khu chức năng khác trong đô thị.

b) Đường hẻm chính là đường bộ trong đô thị, có chức năng chính là giao thông liên hệ trong giới hạn của ô phố, khu nhà ở và được kết nối giao thông trực tiếp với các đường phố.

c) Đường hẻm phụ là đường bộ trong đô thị, có chức năng chính là giao thông liên hệ trong giới hạn của ô phố, khu nhà ở và được kết nối giao thông với các đường hẻm chính.

2. Đường nằm ngoài phạm vi nội thành, nội thị nhưng nằm trong ranh giới đô thị, khu đô thị mới được thống nhất quản lý như đường đô thị.

3. Ngoài ra, để phục vụ cho công tác lập quy hoạch xây dựng đô thị, hệ thống đường đô thị được phân thành ba loại, gồm: đường cấp đô thị, đường cấp khu vực và đường cấp nội bộ.

Điều 56. Thẩm quyền quản lý đường và gắn biển tên đường đô thị

1. Thẩm quyền quản lý đường.

a) UBND thành phố là cơ quan trực tiếp quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống đường đô thị trên địa bàn quản lý.

b) UBND cấp phường, xã trực tiếp quản lý, bảo trì và khai thác hệ thống đường hẻm chính, đường hẻm phụ theo phân cấp của UBND thành phố và hướng dẫn chuyên môn nghiệp vụ của Phòng quản lý đô thị.

2. Gắn biển tên đường đô thị.

UBND thành phố có trách nhiệm tổ chức việc gắn biển tên đường phố trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Nghị quyết về việc đặt tên, đổi tên đường phố của HĐND Tỉnh có hiệu lực. Biển tên đường phố được quy định như sau:

a) Kích thước: Hình chữ nhật 75cm×40cm; Đối với đô thị loại nhỏ, kích thước biển có thể nhỏ hơn, nhưng đảm bảo thống nhất biển trong cùng một đô thị.

b) Màu sắc: Nền biển xanh lam sậm; đường viền trắng rộng 0,5cm cách mép ngoài của biển từ 3cm đến 3,5cm, bốn góc đường viền uốn cong đều vào bên trong.

c) Chất liệu: Sắt tráng men hoặc nhôm lá dập, sơn chất liệu phản quang.

d) Kiểu chữ viết trên biển: Chữ in hoa không có chân, màu trắng.

e) Nội dung viết trên biển, gồm: Tên đường và lộ giới đường.

f) Biển tên đường được trình bày cả hai mặt bên trong và bên ngoài.

g) Vị trí gắn biển: Biển được gắn ở đầu, ở cuối đường phố và ở điểm giao nhau với các đường phố khác. Hai biển tên đường phố giao nhau được gắn vuông góc và so le với nhau trên đầu cột sắt hoặc trụ bêtông, đường kính tối thiểu 10cm, được chôn vững chắc, khoảng cách từ mặt đất đến đầu cột cao khoảng 250cm, vị trí cột ở gần mép góc vỉa hè của hai đường phố giao nhau.

Điều 57. Yêu cầu đầu tư và phạm vi bảo vệ đường đô thị

1. Đường đô thị xây dựng mới bắt buộc phải thi công xây dựng cùng lúc với các hệ thống cây xanh, điện chiếu sáng, cấp – thoát nước và hệ thống tuynen, hào kỹ thuật (đã được xác định trong quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt).

2. Phạm vi đất dành cho đường đô thị gồm đất của đường bộ và đất hành lang an toàn đường bộ, bề rộng hành lang an toàn được tính từ mép đường đến chỉ giới xây dựng của đường theo quy hoạch được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Đất của đường bộ bao gồm phần đất trên đó công trình đường bộ được xây dựng và phần đất dọc hai bên đường bộ, kể cả phần trên không, phần dưới mặt đất và phần dưới mặt nước có liên quan đến an toàn công trình và an toàn giao thông đô thị.

3. Giới hạn khoảng cách an toàn các công trình đến công trình đường đô thị đối với công trình xây dựng, lắp đặt nổi được quy định theo quy định hiện hành

Hạn chế bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật dọc tuyến vào phần lòng đường.

a) Tùy tình hình thực tế khi xây dựng phần công trình ngầm dưới mặt đất, dưới mặt nước trong phạm vi đất dành cho đường đô thị do UBND thành phố quyết định đối với từng công trình cụ thể, phù hợp với yêu cầu kỹ thuật, bảo đảm an toàn giao thông, an toàn công trình, cho công trình liền kề và không ảnh hưởng đến việc quản lý, bảo trì đường đô thị, bảo đảm đảm vệ sinh, môi trường đô thị.

b) Đối với các đường phố mới và các đường phố trong khu đô thị mới thì phải bố trí phân giai đoạn hạ ngầm đường dây, đường ống. Hệ thống tuynen, hào kỹ thuật phải được sử dụng tối đa cho công tác hạ ngầm này.

4. Khi xác lập quy hoạch xây dựng các khu đô thị mới, cơ quan lập quy hoạch phải tuân thủ giới hạn hành lang an toàn đường đô thị được quy định tại Nghị định 11/2010/NĐ-CP. Riêng đối với các khu đô thị cũ, hành lang an toàn đường đô thị được phép giảm 50% so với quy định.



Điều 58. Xử lý chuyển tiếp các công trình vi phạm hành lang an toàn đường đô thị trước ngày quy định này có hiệu lực

1. Các công trình, nhà ở đang vi phạm chỉ giới hành lang an toàn đường đô thị nhưng chưa ảnh hưởng đến an toàn giao thông, an toàn công trình đường đô thị thì được tạm thời tồn tại và phải giữ nguyên hiện trạng không được cơi nới, mở rộng, đến khi Nhà nước triển khai thực hiện quy hoạch hoặc chủ công trình, nhà ở có nhu cầu sửa chữa cải tạo thì phải tháo dỡ, xây dựng lại phù hợp với chỉ giới hành lang an toàn đường đô thị.

2. Trường hợp chủ sử dụng đất trong hành lang an toàn đường đô thị có ảnh hưởng đến an toàn giao thông, an toàn công trình đường đô thị thì đơn vị giải phóng mặt bằng thực hiện, trong đó Phòng quản lý đô thị là thành viên, tiến hành xác định mức độ ảnh hưởng, đề nghị UBND thành phố (đối với chủ sử dụng là cá nhân) hoặc UBND Tỉnh (đối với chủ sử dụng là tổ chức) thu hồi đất và giải quyết bồi thường, hỗ trợ đối với đất và tài sản gắn liền trên đất đã có trước khi hành lang an toàn đường đô thị được công bố theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. UBND thành phố căn cứ vào đồ án quy hoạch xây dựng được duyệt có trách nhiệm công bố công khai chỉ giới hành lang an toàn của từng tuyến đường đô thị trên địa bàn.



Điều 59. Các hành vi bị cấm đối với hoạt động xây dựng, quản lý, khai thác sử dụng đường đô thị

1. Thiết kế, xây dựng đường đô thị không tuân thủ quy hoạch đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

2. Tự ý xây dựng, đào bới đường đô thị.

3. Tự ý mở đường nhánh hoặc đấu nối trái phép vào đường chính.

4. Sử dụng đường đô thị để họp chợ, kinh doanh dịch vụ ăn uống, bày hàng hoá, vật liệu.

5. Đổ rác, phế thải và các hành vi gây mất vệ sinh môi trường đường đô thị.

6. Lắp đặt, xây dựng bục, bệ dắt xe, bậc tam cấp vào nhà và công trình bên trên đường gây ảnh hưởng đến hoạt động của phương tiện giao thông và người đi bộ; gây mất mỹ quan đô thị.

7. Lắp đặt, xây dựng các công trình, biển quảng cáo, trang trí, đường dây trái phép, ảnh hưởng đến kết cấu đường đô thị, ảnh hưởng đến an toàn giao thông đô thị và gây mất mỹ quan đô thị.

8. Xây dựng các công trình trái phép, vi phạm chỉ giới đường đỏ, hành lang an toàn của đường đô thị.

9. Trông, giữ xe đạp, xe máy, xe ô tô và các phương tiện cơ giới khác trên hè phố, lòng đường không có giấy phép; để xe đạp, xe máy, đỗ ô tô không đúng nơi quy định.



Điều 60. Mục đích sử dụng và khai thác vỉa hè

1. Mục đích sử dụng chính của vỉa hè là dành cho người đi bộ. Ngoài ra, còn được sử dụng để trồng cây xanh và bố trí các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị nhằm đảm bảo tính đồng bộ, các công trình phục vụ yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng và các thiết bị an toàn giao thông, hệ thống báo hiệu đường bộ, biển chỉ dẫn tên đường.

2. Được phép khai thác và sử dụng tạm thời một phần hành lang an toàn đường đô thị cho các mục đích khác ngoài mục đích sử dụng nêu tại khoản 1 điều này, gồm:

a) Tập kết tạm thời, trung chuyển vật liệu xây dựng.

b) Các dịch vụ công cộng, quảng cáo, buồng điện thoại.

c) Các dịch vụ buôn bán nhỏ

d) Trông giữ xe đạp, xe máy.

e) Điểm đỗ xe taxi, xe ôtô du lịch, trạm chờ xe buýt.

f) Sử dụng tạm thời vỉa hè cho việc cưới, việc tang.

g) Tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, tuyên truyền.

3. Kích thước, khoảng cách, diện tích và thời gian được sử dụng tạm thời vỉa hè do UBND thành phố quyết định theo đề nghị của Phòng quản lý đô thị nhưng phải đảm bảo những yêu cầu quy định như sau:

a) Không thuộc tuyến quốc lộ đi qua.

b) Phải phù hợp với đồ án quy hoạch xây dựng được duyệt.

c) Đảm bảo bề rộng tối thiểu sử dụng 1,5m dành cho người đi bộ.

d) Nghiêm cấm mọi trường hợp lấn chiếm sử dụng phần dành cho người đi bộ, trường hợp cần thiết phải có ý kiến chấp thuận của UBND thành phố.

e) Phạm vi, ranh giới sử dụng để bố trí để xe môtô, xe máy, xe đạp và các xe tương tự phải được kẻ vạch sơn trắng liền nét để tổ chức thực hiện và quản lý.

f) Người tàn tật sử dụng xe lăn không có động cơ được đi trên hè phố và nơi có vạch kẻ dành cho người đi bộ. Trường hợp đường hiện trạng chưa có hè phố, lề đường thì người đi bộ phải đi sát mép đường bên tay phải.

Điều 61. Mục đích sử dụng và khai thác lòng đường

1. Mục đích chính lòng đường để các phương tiện lưu thông, kẻ vạch sơn báo hiệu đường bộ, có thể bố trí hệ thống hạ tầng kỹ thuật dọc tuyến vào phần lòng đường khi cần thiết.

2. Được phép khai thác, sử dụng lòng đường với các mục đích ngoài mục đích nêu tại Khoản 1 Điều này, gồm:

2.1. Sử dụng lòng đường đô thị làm nơi để xe phải bảo đảm các yêu cầu sau theo quy định hiện hành.

a) Không thuộc tuyến quốc lộ đi qua.

b) Yêu cầu về chiều rộng lòng đường.

- Phần lòng đường còn lại dành cho các loại phương tiện có bề rộng tối thiểu bố trí đủ 02 làn xe cơ giới và 01 làn xe thô sơ cho một chiều đi.

c) Không gây cản trở cho các phương tiện giao thông; không gây ảnh hưởng đến sinh hoạt và các hoạt động bình thường của tổ chức, hộ gia đình hai bên đường phố.

d) Lòng đường có kết cấu chịu lực phù hợp với trường hợp được phép sử dụng tạm thời.

e) Phù hợp với quy hoạch bến, bãi đỗ xe được phê duyệt; trong trường hợp chưa có quy hoạch hoặc quy hoạch không đủ thì UBND thành phố có trách nhiệm lập, thẩm định và phê duyệt quy hoạch bến, bãi đỗ xe, tuyến đường đô thị được phép để xe dọc tuyến; quá trình thẩm định phải lấy ý kiến của Sở Xây dựng và Sở Giao thông Vận tải.

f) Khi sử dụng lòng đường đô thị làm nơi để xe công cộng có thu phí thì ưu tiên đối với tổ chức, hộ gia đình và cá nhân có quyền sử dụng hợp pháp nhà, công trình xây dựng dọc tuyến đường đó trong việc thuê chỗ để xe ở vị trí liền kề với nhà, công trình.

2.2. Sử dụng đường đô thị vào các hoạt động văn hóa được thực hiện theo quy định hiện hành.



Điều 62. Thủ tục cấp Giấy phép xây dựng đường, Giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè, lòng đường đô thị

1. Trước khi thi công xây dựng đường đô thị (bao gồm cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới) chủ đầu tư phải xin phép xây dựng của cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền. Hồ sơ xin cấp Giấy phép xây dựng thực hiện theo quy định về quản lý đầu tư xây dựng công trình. Riêng đối với đường quốc lộ đi qua nội thành, nội thị thì thủ tục cấp Giấy phép xây dựng đường được thực hiện theo quy định hiện hành.

2. Ngoài mục đích giao thông, vỉa hè và lòng đường được phép sử dụng tạm thời khi có giấy phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, gồm:

a) Tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng.

b) Các dịch vụ công cộng: buồng điện thoại, kiốt rút tiền.

c) Các dịch vụ buôn bán nhỏ cố định.

d) Các cửa hàng, kiốt phục vụ các dịp lễ hội.

e) Trông giữ xe đạp, xe máy.

f) Điểm đỗ xe taxi, xe ôtô du lịch, trạm chờ xe buýt.

g) Tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, tuyên truyền.

h) Tổ chức việc cưới hỏi, việc tang lễ.

3. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tạm thời vỉa hè phải xin phép cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền và thực hiện nghiêm chỉnh các quy định trong giấy phép.

4. Hồ sơ xin cấp giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè.

b) Sơ đồ vị trí thể hiện kích thước, hiện trạng của vỉa hè đề nghị cấp Giấy phép sử dụng tạm. Trường hợp cần gia cố vỉa hè phải có giải pháp gia cố vỉa hè.

c) Bản vẽ thiết kế kiểu dáng, kích thước công trình lắp đặt trên hè đường (nếu có). Trường hợp lắp đặt các loại hình quảng cáo phải có Giấy phép của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch.

d) Hợp đồng dịch vụ thu dọn vệ sinh hoặc bản cam kết thu dọn vệ sinh và giữ vệ sinh môi trường.

e) Các văn bản khác có liên quan.

f) Bản cam kết tự di chuyển, di dời hoặc cải tạo công trình và không đòi bồi thường khi có yêu cầu của cơ quan quản lý đường đô thị.

5. Thời hạn sử dụng tạm vỉa hè.

- Đối với: Tập kết, trung chuyển vật liệu xây dựng: Tối đa 2 tháng và được phép gia hạn 1 lần;

- Đối với các dịch vụ công cộng: buồng điện thoại, kiốt rút tiền; Các dịch vụ buôn bán nhỏ cố định; Trông giữ xe đạp, xe máy; Điểm đỗ xe taxi, xe ôtô du lịch, trạm chờ xe buýt: 12 tháng;

- Đối với: Các cửa hàng, kiốt phục vụ các dịp lễ hội: theo thời gian tổ chức lễ hội: theo thời gian tổ chức lễ hội;

- Đối với: Tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, tuyên truyền: theo thời gian diễn ra hoạt động đã được cơ quan có thẩm quyền cho phép;

- Đối với: Tổ chức việc cưới hỏi, việc tang lễ không quá 48 giờ, trường hợp đặc biệt không quá 72 giờ.

Điều 63. Phí sử dụng vỉa hè

Tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng tạm thời vỉa hè đô thị bắt buộc phải có thủ tục đề nghị cấp Giấy phép tạm tại UBND thành phố và phải có nghĩa vụ đóng một khoản phí sử dụng vỉa hè theo quy định hiện hành.

Thẩm quyền quyết định phê duyệt phí sử dụng vỉa hè là Hội đồng nhân dân Tỉnh.

Sở Tài chính có trách nhiệm hướng dẫn UBND thành phố lập và trình phương án thu phí sử dụng vỉa hè.


Điều 64. Thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan cấp Giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè (lòng đường)

1. UBND thành phố cấp giấy phép sử dụng tạm thời đường đô thị ngoài mục đích giao thông (trừ việc cưới hỏi, việc tang lễ) trên địa bàn quản lý theo đề nghị của phòng Quản lý đô thị. Trường hợp đường đô thị sử dụng chung với đường tỉnh lộ và đường quốc lộ thì Giấy phép được gửi cho Sở Giao thông vận tải.

Căn cứ vào tình hình thực tiễn quản lý đô thị ở địa phương, UBND thành phố có thể ủy quyền cho Phòng quản lý đô thị thành phố thụ lý hồ sơ và cấp Giấy phép tạm thời đường đô thị ngoài mục đích giao thông.

2. UBND phường (xã) cấp giấy phép sử dụng tạm thời đường đô thị cho việc cưới hỏi, tang lễ.

3. Cơ quan cấp Giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè (lòng đường) có trách nhiệm: Tổ chức tiếp nhận hồ sơ, giao giấy biên nhận hồ sơ, hẹn ngày trả Giấy phép. Thời gian xem xét cấp giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè (lòng đường) không quá 05 ngày làm việc kể từ khi cơ quan thụ lý việc cấp Giấy phép nhận đủ hồ sơ hợp lệ; riêng sử dụng tạm vỉa hè (lòng đường) cho việc cưới hỏi, việc tang lễ thời gian giải quyết trong 01 ngày sau khi có đơn đề nghị. Trường hợp không giải quyết được phải nêu rõ lý do và trả lời bằng văn bản cho người có nhu cầu cấp Giấy phép sử dụng tạm thời vỉa hè được biết.



Điều 65. Công tác bảo trì, duy tu, bảo dưỡng

1. Đường đô thị sau khi được nghiệm thu đưa vào sử dụng phải được bảo trì để khai thác lâu dài. Thời hạn bảo trì được tính từ ngày nghiệm thu công trình đường đưa vào sử dụng đến khi hết thời hạn sử dụng.

2. Nội dung bảo trì đường đô thị được thực hiện theo quy định hiện hành.

3. Đối với đường đô thị đang khai thác, sử dụng, tùy theo quy mô, đặc điểm, cơ quan quản lý tự tiến hành hoặc thuê tổ chức tư vấn có đủ điều kiện năng lực lập quy trình bảo trì. Đối với công trình đường đô thị thiết kế mới, nhà thầu thiết kế tiến hành lập quy trình bảo trì trên cơ sở các tiêu chuẩn kỹ thuật hiện hành có liên quan.

4. Công tác bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông đô thị phải bảo đảm cao độ theo quy hoạch, cao độ hiện trạng tránh làm ảnh hưởng đến hoạt động của hệ thống thoát nước, của khu dân cư và các công trình xây dựng hai bên tuyến đường.

5. Chủ sở hữu hoặc cơ quan, đơn vị được giao quản lý đường đô thị có trách nhiệm đối với công tác bảo trì như sau:

a) Tổ chức thực hiện bảo trì công trình giao thông đô thị theo quy trình bảo trì.

b) Chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chất lượng công trình đường đô thị bị xuống cấp do không thực hiện quy trình bảo trì theo quy định.

6. Chủ đầu tư, đơn vị quản lý sử dụng có trách nhiệm thực hiện công tác bảo trì đường đô thị theo yêu cầu về an toàn, vệ sinh và môi trường được quy định theo quy định hiện hành.

Điều 66. Những trường hợp được đào đường

1. Đào đường để lắp đặt các công trình ngầm.

2. Đào đường để lắp đặt các công trình trên mặt đường, kể cả các việc trồng cây xanh, dựng biển báo và các công việc tạm thời như thăm dò, khảo sát địa chất.

3. Đào đường để xử lý sự cố đột xuất về kỹ thuật của các công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị.

4. Đào đường để thi công duy tu bảo dưỡng, sửa chữa đường của đơn vị quản lý đường đô thị.

5. Đào đường để thi công sửa chữa, cải tạo, nâng cấp đường theo các dự án đầu tư đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật hiện hành.

6. Đào đường để lắp đặt đồng hồ đo điện, nước cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu và thực hiện theo hợp đồng cung cấp dịch vụ.

Điều 67. Thẩm quyền và thủ tục cấp Giấy phép đào đường đô thị.

1. Tổ chức, cá nhân có nhu cầu đào đường đô thị để xây dựng, lắp đặt các công trình ngầm đô thị, công trình trên vỉa hè đường đô thị phải xin phép cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền.

2. Thẩm quyền cấp Giấy phép đào đường là UBND thành phố; Phòng quản lý đô thị tiếp nhận và thẩm định hồ sơ cấp Giấy phép đào đường. Trường hợp đường đô thị sử dụng chung với đường tỉnh lộ và đường quốc lộ thì có ý kiến thống nhất bằng văn bản của Sở Giao thông Vận tải.

3. Hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép đào đường đô thị bao gồm:

a) Đơn đề nghị cấp Giấy phép đào đường đô thị.

b) Các bản vẽ thiết kế thể hiện mặt bằng, vị trí đào, kích thước và phạm vi đào, kết cấu tái lập; phương án đảm bảo an toàn giao thông trong khi thi công; thời gian thi công.

c) Hồ sơ thiết kế bản vẽ thi công, biện pháp tổ chức thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

d) Bản cam kết tự di chuyển, di dời hoặc cải tạo công trình và không đòi bồi thường khi có yêu cầu của cơ quan quản lý đường đô thị.

4. Cơ quan cấp Giấy phép đào đường đô thị có trách nhiệm: Tổ chức tiếp nhận hồ sơ, giao giấy biên nhận hồ sơ, hẹn ngày trả Giấy phép. Thời gian cấp Giấy phép đào đường đô thị tối đa không quá 07 ngày làm việc kể từ khi cơ quan thụ lý việc cấp Giấy phép nhận đủ hồ sơ hợp lệ. Trường hợp không giải quyết được phải nêu rõ lý do và trả lời bằng văn bản cho tổ chức, cá nhân xin cấp giấy phép đào đường đô thị được biết.

5. Thời hạn giấy phép đào đường là 12 tháng. Việc đào đường phải thực hiện theo đúng Giấy phép đào đường, Bản vẽ thi công và biện pháp tổ chức thi công đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt.

6. Chủ đầu tư và đơn vị thi công phải tiến hành tái lập lại mặt đường, vỉa hè ngay sau khi lắp đặt xong các hạng mục công trình cần lắp đặt. Kết cấu tái lập tương đương với kết cấu mặt đường, vỉa hè hiện có.

7. Trường hợp miễn cấp phép đào, lấp đường đô thị: Đơn vị quản lý các tuyến cấp nước sinh hoạt và đơn vị quản lý các tuyến thoát nước thải được miễn làm thủ tục xin cấp giấy phép đào, lấp đường đô thị trong trường hợp thực hiện công tác dò tìm và sửa chữa tức thời những sự cố bể, gãy đường ống do mình quản lý trong quá trình hoạt động, nhưng phải có trách nhiệm thông báo trực tiếp cho cơ quan quản lý xây dựng UBND thành phố để giám sát, kiểm tra và phải tiến hành tái lập lại mặt đường, vỉa hè ngay sau khi hoàn thành.



Điều 68. Quy định về việc cấm và hạn chế việc đào lòng đường

1. Cấm đào lòng đường vào thời gian từ 5 giờ sáng đến 22 giờ đêm trên các tuyến đường chính, tập trung đông người, trừ trường hợp đặc biệt nhằm khắc phục sự cố hư hỏng công trình hạ tầng kỹ thuật đô thị. Đối với các dự án có yêu cầu tiến độ cấp bách thì được phép thi công trong thời gian trên nhưng phải được UBND thành phố chấp thuận bằng văn bản và phải bảo đảm về an toàn giao thông, môi trường và mỹ quan đô thị. Riêng trường hợp đào đường để đấu nối ống nhánh và đồng hồ nước cho khách hàng vào ống nước đang khai thác nằm dưới lòng đường cách bó vỉa hè ≤ 0,5m thì được phép đào đường vào ban ngày.

2. Hạn chế đào đường trên những tuyến đường đã thi công hoàn chỉnh, các tuyến đường đã được nghiệm thu bàn giao đưa vào sử dụng, đang còn trong thời hạn bảo hành công trình.

3. Đối với trường hợp thi công đào đường bằng máy khoan ngang (robot) sẽ được xem xét cụ thể từng trường hợp để cho phép thi công vào ban ngày (nhằm tránh tiếng ồn vào ban đêm) và đào đường trên các tuyến đường đã thi công xong phần mặt đường.



Điều 69. Đảm bảo tiến độ khi thi công đào và tái lập mặt đường

1. Các tổ chức, cá nhân được cấp Giấy phép đào đường phải thi công đúng thời gian được cấp Giấy phép. Chỉ được xin điều chỉnh Giấy phép đào đường (gia hạn, bổ sung khối lượng) trong trường hợp do các nguyên nhân sau: Thiên tai, bão lụt, do vướng mặt bằng chưa giải tỏa xong, các sự cố cần xử lý kỹ thuật (khi đào đường vướng phải công trình ngầm khác) và phải lập lại tiến độ các công việc còn lại để xin điều chỉnh Giấy phép đào đường. Trong khi chờ xin điều chỉnh Giấy phép đào đường, đơn vị thi công phải tái lập tạm để đảm bảo an toàn giao thông, đảm bảo an toàn cho công trình đang thi công dở dang và các công trình lân cận. Trường hợp không có lý do chính đáng thì không được điều chỉnh Giấy phép đào đường để không làm ảnh hưởng đến kế hoạch chung của các ngành, các đơn vị khác.

2. Khi đào đường, các đơn vị thi công phải thực hiện đúng kích thước rãnh đào và tái lập mặt đường phải đúng kết cấu, thẩm mỹ được ghi trong Giấy phép, đồng thời chịu trách nhiệm chất lượng phần tái lập mặt đường trong thời hạn 01 năm kể từ ngày nghiệm thu hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Nếu có sự thay đổi mở rộng rãnh đào hơn 1/2 bề rộng qua mỗi bên hoặc vượt quá 30% diện tích đào so với thiết kế thì phải làm thủ tục điều chỉnh lại Giấy phép. Đối với các thay đổi nhỏ hơn, cho phép đơn vị đào đường được tự giải quyết trong quá trình thi công nhưng phải báo cáo bằng văn bản đến Phòng quản lý đô thị thành phố trong vòng 03 ngày sau khi thực hiện.

Điều 70. Cơ chế phối hợp trong việc cấp Giấy phép đào đường

Phòng quản lý đô thị thành phố là cơ quan đầu mối tiếp nhận các kế hoạch và nhu cầu đào đường của các cá nhân, tổ chức thuộc địa bàn quản lý.



Điều 71. Các yêu cầu khi thực hiện công tác đào đường

1. Trong suốt quá trình thi công công trình, chủ đầu tư và đơn vị thi công chịu hoàn toàn trách nhiệm về quản lý, xử lý sự cố trên đường trong phạm vi công trình.

2. Đối với đường có kết cấu mặt đường là thâm nhập nhựa, bê tông nhựa, bê tông xi măng, đơn vị thi công phải sử dụng thiết bị cắt mặt đường để thực hiện công tác cắt mép lằn phui và trong quá trình thi công tuyệt đối tránh gây sụp lở chung quanh vách lằn phui. Trong quá trình thi công nếu phát hiện có hiện tượng rạn nứt vách đào, phải ngừng thi công ngay và tìm biện pháp xử lý thích hợp, bảo đảm chống sạt lở rãnh đào.

3. Phải đào đường bằng thủ công các trường hợp sau:

- Lằn phui đào nằm trong hành lang bảo vệ các công trình ngầm khác;

- Lòng đường rộng dưới 6m;

- Lòng đường rộng trên 6m nhưng thuộc tuyến đường thường tập trung đông người vào những giờ cao điểm;

- Lằn phui đào có chiều rộng < 40cm.

4. Trong quá trình đào và tái lập mặt đường, do ảnh hưởng của việc thi công làm cho mặt đường kế cận rãnh đào bị rạn nứt, biến dạng thì chủ đầu tư và đơn vị thi công phải sửa chữa lại toàn bộ phần đường bị biến dạng này ngay sau khi phát hiện hư hỏng để trả lại hiện trạng như mặt đường cũ khi chưa đào.

Điều 72. Biện pháp đảm bảo an toàn giao thông và vệ sinh môi trường

1. Dọc theo tuyến công trường đang thi công phải lắp dựng rào chắn để cách ly giữa phần đường xe chạy và phạm vi công trường. Tại những công trình thi công dở dang, để chướng ngại vật trên đường phải được rào chắn cẩn thận và lắp dựng biển báo, đèn báo hiệu (vào ban đêm) hoặc cờ báo hiệu (vào ban ngày). Phải bố trí người thường xuyên hướng dẫn giao thông. Tuyệt đối không được để xảy ra tai nạn và ùn tắc giao thông trong phạm vi công trường. Tại hai đầu đường dẫn vào công trường, phải lắp dựng biển ghi tên đơn vị thi công trên rào chắn. Biển tên có kích thước là 50cmx25cm và phải được đặt ở vị trí theo hướng dễ nhìn thấy.

2. Tại những đường hẹp phải vừa làm, vừa cho người và phương tiện tham gia giao thông phải bố trí người hướng dẫn, điều khiển giao thông để đảm bảo giao thông an toàn và thông suốt. Trường hợp không thể vừa thi công, vừa đảm bảo giao thông thì nhất thiết phải xây dựng tuyến tránh để đảm bảo giao thông và an toàn cho thi công.

3. Trong thời gian thi công hoặc ngừng thi công, không được tập kết vật tư, thiết bị, máy móc, xe máy chuyên dùng tại công trường (nếu chưa cần thiết) để đảm bảo thông thoáng đường phố và mỹ quan đô thị. Nghiêm cấm việc tập kết vật tư, thiết bị, vật liệu xây dựng tại những đoạn chưa thi công và không để vật liệu rời như cát, đá, xi măng, gạch,... rơi vãi trên mặt đường gây nguy hiểm hoặc cản trở giao thông. Phải dự trù vật liệu đủ sử dụng theo tiến độ thi công, thi công đến đâu thì tập kết vật tư đến đó; Trường hợp vật liệu không dùng hết thì phải vận chuyển đi nơi khác để trả lại sự thông thoáng cho đường.

4. Những công nhân tham gia thi công trên đường, bắt buộc phải mặc quần áo bảo hộ lao động. Ban đêm áo bảo hộ lao động phải có phản quang.

5. Khi đào rãnh băng ngang đường, do đường hẹp hoặc ở giao lộ bắt buộc phải thực hiện vào ban đêm. Trường hợp trong đêm rãnh đào chưa lắp đặt phần kỹ thuật chuyên ngành xong thì rãnh đào phải được tái lập tạm mặt đường, bằng cách lấp đầy cát để bù cao độ và 20cm đá (2x4) phía trên cùng của rãnh đào sao cho bằng cao độ mặt đường hiện hữu để các phương tiện giao thông lưu thông an toàn. Khi rãnh đào đã tái lập xong phần đá (2x4) trong đêm (kể cả việc tái lập tạm nêu trên), kể từ 5 giờ sáng hôm sau đơn vị thi công phải cử người có mặt tại rãnh đào để giải quyết sự cố: lún sụp, bong bật (nếu có), quét dọn đá văng ra khỏi rãnh đào khi các phương tiện lưu thông qua rãnh đào, thường xuyên tưới nước rãnh đào để giảm bớt bụi, cho đến khi hoàn tất phần tái lập nhựa (hoặc cấp phối) mặt rãnh đào. Đối với trường hợp cấp bách phải đào đường để sửa chữa sự cố kỹ thuật về điện, nước, điện thoại, cống thoát nước,... thì cho phép thực hiện ngay trên tất cả các tuyến đường (kể cả các đường cấm thi công đào đường ban ngày) nhưng phải tổ chức việc phân luồng và bố trí người hướng dẫn giao thông. Riêng đối với các công trình đặt đường ống cấp nước, thoát nước, cáp điện hạ thế ngầm cho các hộ dân, việc đào đuờng để đặt ống nhánh vào nhà dân, thông ống cấp nước và các công trình lắp đặt cống thoát nước sinh hoạt, cáp điện hạ thế ngầm cho các hộ dân có đào trên vỉa hè thì được phép thi công vào ban ngày nhưng phải thi công gọn gàng. Đất đá đào lên phải thu dọn ngay không được để lại trên công trường và phải tái lập hoàn chỉnh rãnh đào ngay trong ngày.

6. Tất cả khối lượng đất đào lên phải được chuyển ngay lên phương tiện vận tải để vận chuyển ra khỏi công trường, không để đất đào dọc theo rãnh đào, đồng thời thu dọn sạch sẽ lòng lề đường trong phạm vi công trường để đảm bảo an toàn giao thông và vệ sinh môi trường. Các phương tiện vận tải phải được rửa sạch các bánh xe và phương tiện trước khi ra khỏi công trường. Trường hợp để vật tư trôi làm tắc nghẽn hệ thống thoát nước, đơn vị đào đường phải tổ chức nạo vét trả lại nguyên trạng ban đầu và thông báo trước cho đơn vị quản lý hệ thống thoát nước biết để kiểm tra, theo dõi; Nếu không tự thực hiện được thì phải thuê đơn vị quản lý hệ thống thoát nước nạo vét.

7. Các đơn vị thi công công trình ngầm không được trộn vữa (hồ) và bê tông xi măng trong phạm vi mặt đường. Chỉ được thực hiện trên vỉa hè, lề đường nhưng phải có tấm lót hoặc thùng trộn, tuyệt đối không được trộn trực tiếp trên mặt vỉa hè, lề đường. Sau khi hoàn tất công trường trong vòng 02 ngày phải tiến hành vệ sinh, tẩy rửa mặt đường, lề đường và vỉa hè. Nghiêm cấm để các loại vật liệu lỏng như nhựa đường, bê tông,... chảy hoặc văng ra mặt đường gây mất an toàn giao thông và ô nhiễm môi trường. Cấm đốt, nấu nhựa trực tiếp trên mặt đường, lề đường và vỉa hè trong đô thị.



: chinhquyen
chinhquyen -> PHỤ LỤc các chức danh ở xã, phường, thị trấn được áp dụng giải quyết chế độ, chính sách theo Quyết định số 250/QĐ ttg ngày 29/01/2013
chinhquyen -> Ủy ban nhân dân tỉnh ninh thuậN
chinhquyen -> CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam sở CÔng thưƠNG
chinhquyen -> THÔng báO Đình chỉ lưu hành thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng
chinhquyen -> Ủy ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
chinhquyen -> UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠng số: 141 /bc-ubnd
chinhquyen -> UỶ ban nhân dân tỉnh hải dưƠNG
chinhquyen -> UỶ ban nhân dân cộng hoà XÃ HỘi chủ nghĩa việt nam tỉnh hải dưƠng độc lập Tự do Hạnh phúc
chinhquyen -> Ủy ban nhân dân tỉnh ninh thuận cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
chinhquyen -> ĐẠO ĐỨc hành nghề DƯỢC


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   ...   14


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương