MỤc lục kết quả nghiên cứU 22



tải về 3.01 Mb.
trang1/19
Chuyển đổi dữ liệu26.03.2018
Kích3.01 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19

Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên Bản tin Y Dược miền núi số 4 năm 2015


MỤC LỤC

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 22

Bảng 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu 22

Chỉ tiêu 22

n 22

% 22

Giới tính 22

227 22

68,4 22

128 22

31,6 22

Nhóm tuổi 22

47 22

11,6 22

208 22

51,4 22

116 22

28,6 22

34 22

8,4 22

Dân tộc 22

Kinh 22

147 22

36,3 22

Mường 22

251 22

62,0 22

Dân tộc khác 22

7 22

1,7 22

Trình độ học vấn 22

43 22

10,6 22

68 22

16,8 22

240 22

59,3 22

54 22

13,3 22

405 22

100,0 22

Nhận xét: Bảng trên cho thấy phần lớn TNTT gặp ở nam giới chiếm 68,4%. Hơn một nửa đối tượng nghiên cứu (51,4%) thuộc nhóm tuổi từ 15 – 39; tiếp theo là nhóm tuổi từ 40 – 59 chiếm 28,6% và nhóm tuổi < 15 chiếm 11,6%. Phần lớn người bị TNTT là người dân tộc Mường (62,0%); tiếp theo là người Kinh (36,3%). Phần lớn đối tượng nghiên cứu có trình độ trung học phổ thông (59,3%); tỉ lệ có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên chiếm 13,3%. 22

Bảng 2. Địa điểm xảy ra chấn thương của bệnh nhân 22

Tổng 23

405 23

100,0 23

Nhận xét: Phần lớn TNTT xảy ra trên đường đi (39,5%); tiếp theo là tại gia đình (28,4%) và tại nơi làm việc (12,1%). Địa điểm xảy ra TNTT chiếm thấp nhất là tại trường học (3,2%). 23

Bảng 3. Thời gian bị chấn thương của bệnh nhân 23

Tổng 23

405 23

100,0 23

Nhận xét: Tỉ lệ TNTT chiếm cao nhất ở giờ hành chính (giờ làm việc) với 25,5% từ 7 - < 11 giờ và 24,7% ở quãng thời gian từ 13 - < 17 giờ. Tỉ lệ TNTT ở quãng thời gian từ 17 - < 21 giờ chiếm 23,7%. Có 03 trường hợp bệnh nhân (0,7%) không nhớ được thời gian bị TNTT. 23

Bảng 4. Nguyên nhân chấn thương của bệnh nhân 23

Tổng 23

405 23

100,0 23

Nhận xét: TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất (36,3%); tiếp theo là ngã (15,3%) và do bạo lực, xung đột chiếm 11,9%. Tỉ lệ tai nạn lao động chiếm 10,9% và tỉ lệ tự tử chiếm 3,2%. 23

Bảng 5. Đặc điểm tai nạn giao thông 23

Tổng 24

405 24

100,0 24

Nhận xét: Phương tiện sử dụng là xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất (86,4%). Trong tổng số TNGT liên quan đến phương tiện là xe máy và xe đạp điện thì tỉ lệ đội mũ bảo hiểm chiếm 33,1% và số bị vỡ mũ bảo hiểm chiếm 37,2%. Chỉ hơn một nửa (55,9%) người đi xe máy có giấy phép lái xe. Tỉ lệ người bị TNGT có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là 51,7% và số đi nhanh vượt ẩu là 90,0%. 24

Tổng 24

405 24

100,0 24

Phương tiện vận chuyển cấp cứu 24

6 24

1,5 24

6 24

1,5 24

328 24

81,0 24

65 24

16,0 24

Thời gian đến bệnh viện sau TNTT 24

69 24

17,0 24

241 24

59,5 24

66 24

16,3 24

11 24

2,7 24

18 24

4,4 24

Tổng 24

405 24

100,0 24

405 25

100,0 25

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn TNTT gặp ở nam giới chiếm 68,4%. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận định của WHO cho rằng tỉ lệ tử vong do chấn thương ở nam cao hơn 2 lần so với nữ [6]. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Khải (2007) cũng cho thấy tỉ lệ bệnh nhân nam nhập viện do TNTT (64,6%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ (35,4%) [1]. Lý giải điều này theo chúng tôi là do nam giới thường là người điều khiển phương tiện giao thông, hay vận động hơn và sử dụng rượu bia nhiều hơn. Một điều đáng quan tâm trong nghiên cứu của chúng tôi là tỉ lệ bị TNTT nhóm tuổi từ 15 – 39 chiếm cao nhất (51,4%); tiếp theo là nhóm tuổi từ 40 – 59 chiếm 28,6%. Đây là nhóm tuổi lao động chính trong mỗi gia đình. Bên cạnh đó thì người mắc TNTT chủ yếu là người dân tộc Mường chiếm cao (62,0%). Đây chính là thách thức trong công tác truyền thông phòng chống TNTT nói chung và TNGT nói riêng. 25

TNTT xảy ra trên đường đi là chủ yếu (39,5%); tiếp theo là xảy ra tại gia đình (28,4%) và tại nơi làm việc (12,1%). Kết quả này chứng tỏ TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất, điều này tương đồng với các nghiên cứu trước khi nhận định rằng trong các nguyên nhân TNTT, tai nạn giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt trong nhóm từ 19 tuổi trở lên [6]. Kết quả nghiên cứu ở bảng 4 cho thấy TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất (36,3%); tiếp theo là ngã (15,3%) và nguyên nhân do bạo lực, xung đột chiếm 11,9%. Tỉ lệ tai nạn lao động chiếm 10,9% và tỉ lệ tự tử chiếm 3,2%. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh và Lã Ngọc Quang cũng tương đối phù hợp với nghiên cứu này khi công bố tỉ lệ TNGT chiếm cao nhất với 48,1% và tiếp theo là ngã 32,9% [1]. 25

Tỉ lệ TNTT chiếm cao nhất ở giờ hành chính (giờ làm việc) với 25,5% từ 7 - < 11 giờ và 24,7% ở quãng thời gian từ 13 - < 17 giờ. Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi lẽ phần lớn người bị TNTT là ở độ tuổi lao động (Bảng 1), và tỉ lệ bệnh nhân bị tai nạn lao động chiếm tương đối cao (Bảng 4). Trong thời gian làm việc cũng là thời gian các phương tiện giao thông lưu thông nhiều, với đặc điểm đối tượng nghiên cứu có nhiều người làm nghề tự do, do đó cũng gây nên tình trạng tăng tỉ lệ TNTT trong giờ làm việc. Bên cạnh đó thì tỉ lệ TNTT ở quãng thời gian từ 17 - < 21 giờ chiếm 23,7%. Đây được xác định là quãng thời gian mà sau khi đi làm về, thường các lao động chính trong gia đình (chủ yếu là nam giới) sẽ đi uống rượu, và trở về nhà và tỉ lệ người bị TNGT có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là 51,7%. Kết quả này của chúng tôi cao hơn của Nguyễn Thị Chinh và Lã Ngọc Quang với tỉ lệ sử dụng rượu khi điều khiển xe là 42,3%. Lý giải điều này là do đặc điểm mẫu của chúng tôi chủ yếu là người dân tộc thiểu số [1]. Phương tiện sử dụng là xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất (86,4%). Trong tổng số TNGT liên quan đến phương tiện là xe máy và xe đạp điện thì tỉ lệ đội mũ bảo hiểm chiếm 33,1% và chỉ có 55,9% người đi xe máy có giấy phép lái xe. Tỉ lệ người đi nhanh vượt ẩu là 90,0%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm dân cư vùng Lương Sơn, Hòa Bình. Với điều kiện kinh tế chưa cao, phương tiện giao thông sử dụng chủ yếu vẫn là xe máy. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Rumpa Rani - Ấn Độ cho thấy TNGT liên quan chủ yếu đến xe máy, đặc biệt lứa tuổi 26-30 chiếm 33%, 67% các trường hợp tử vong cho thấy 67% số ca liên quan không đội mũ bảo hiểm [5]. 25

ĐẶC ĐIỂM TĂNG GLUCOSE MÁU PHẢN ỨNG Ở BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH NÃO CẤP CÓ TĂNG HUYẾT ÁP TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH 29

Nguyễn Thanh Phương 1,Trịnh Xuân Tráng2 29

KẾT QUẢ ĐIỂU TRỊ TĂNG SINH LÀNH TÍNH TUYẾN TIỀN LIỆT BẰNG PHƯƠNG PHÁP CẮT ĐỐT NỘI SOI TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH 35

Nguyễn Thanh Tùng*, Trần Đức Quý** 35



ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ PHẪU THUẬT THOÁT VỊ BẸN NGƯỜI LỚN THEO PHƯƠNG PHÁP LICHTENSTEIN TẠI BẮC NINH 66

Nguyễn Thanh Tùng*, Vũ Thị Hồng Anh**, Nguyễn Văn Sửu** 66

ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG CẬN LÂM SÀNG CỦA BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ THÀNH PHỐ BẮC NINH 73

Nguyễn Thế Bắc*, Dương Hồng Thái ** 73

NỒNG ĐỘ hs-CRP, FIBRINOGEN HUYẾT TƯƠNG Ở BỆNH NHÂN 80

NHỒI MÁU NÃO GIAI ĐOẠN CẤP TẠI BỆNH VIỆN QUÂN Y 110 80

Nguyễn Thị Tựa*, Nguyễn Trọng Hiếu** 80

MỘT SỐ YẾU TỐ NGUY CƠ, TỔN THƯƠNG CƠ QUAN ĐÍCH 86

VÀ ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHÂN TĂNG HUYẾT ÁP KHÁNG TRỊ 86

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH 86

Nguyễn Tiến Dũng*, Nguyễn Tiến Dũng** 86

Nguyễn Văn Đạt*, Lô Quang Nhật** 94

BSCKI. Nguyễn Văn Hưởng*, PGS.TS. Nguyễn Tiến Dũng* 100

Trần Văn Thuyết*, Nguyễn Trọng Hiếu­­­­­** 105

Ninh Sỹ Quỳnh, Nguyễn Thành Trung 113

2.4.2. Phương pháp chọn mẫu 114

Phạm Minh Đức*, Nguyễn Đắc Trung** 120

Trước 5 ngày 121

5 - 7 ngày 121

8- 10 ngày 121

> 10 ngày 121

Trung bình 121

Tổng 121

* Thời gian xuất hiện VPBV 125

* Yếu tố nguy cơ 125

* Hình thức hô hấp hỗ trợ 126

* Triệu chứng cơ năng và toàn thân 126

* Số chủng vi khuẩn phân lập được 126

* Tình trạng kháng thuốc nói chung của các vi khuẩn gây VPBV 127

Phạm Thành Lâm*, Trần Đức Quý** 129

2.4. Các chỉ số nghiên cứu 129

2.5. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu 130

Hồi cứu các số liệu thứ cấp về TNGT tại Bộ Giao thông vận tải từ năm 2010 đến năm 2014, kết hợp khảo sát trên toàn tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương năm 2014. Xử lý số liệu trên phần mềm Epi-info 6.04 và SPSS 16.0 130

3. Kết quả nghiên cứu 130

4. Bàn luận 132

5. Kết luận 134

Trong 5 năm có 403 vụ TNGT, phần lớn là nam giới (81,9%); và ở lứa tuổi lao động (18-60 tuổi) chiếm tỷ lệ 83,87%. Tỉ lệ đa chấn thương 12,15%, chấn thương sọ não 12,41%, gãy xương 10,42%, chấn thương khác 65,02%, TNGT có sử dụng rượu bia 26,55%. Tỉ lệ được sơ cấp cứu tại chỗ 14,14%, tỉ lệ được sơ cấp cứu ban đầu 70,72% và tỉ lệ tử vong là 9,18%. 134

6. Khuyến nghị 134

Cần tăng cường giáo dục an toàn giao thông, kết hợp với tổ chức các hoạt động cấp cứu trên đường cao tốc để giảm thiểu tử vong, tàn tật và các ảnh hưởng kinh tế xã hội khác. 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 134

THỰC TRẠNG NHIỄM GIUN ĐƯỜNG RUỘT Ở HỌC TIỂU HỌC, HUYỆN KIM BÔI, TỈNH HOÀ BÌNH NĂM 2015 136

Trần Thị Ái Hương*, Hạc Văn Vinh** 136

TÓM TẮT 136

1. Đặt vấn đề 136

2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu 137

3. Kết quả và bàn luận 138

4. Kết luận và kiến nghị 142

Từ kết quả nghiên cứu cho thấy chính quyền và y tế địa phương, trường tiểu học cần triển khai đồng bộ các giải pháp can thiệp bao gồm hoạt động tẩy giun, cải thiện vệ sinh môi trường và giáo dục vệ sinh, bao gồm (1) Duy trì hoạt động tẩy giun hàng loạt cho nhóm học sinh tại các trường tiểu học như hiện nay; (2) Truyền thông, tư vấn cho người dân trong cộng đồng cũng như nhóm học sinh tiểu học về sử dụng nguồn nước và nhà tiêu hợp vệ sinh; thực hiện hành vi vệ sinh cá nhân như rửa tay bằng xà phòng, không để móng tay bẩn, đi chân đất, ăn rau sống, uống nước lã. 143

GIÁ TRỊ CHẨN ĐOÁN NGUYÊN NHÂN TRÀN DỊCH MÀNG PHỎI DỊCH TIẾT QUA SINH THIẾT MÀNG PHỔI KÍN BẰNG KIM COPE 145

TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC NINH 145

Vũ Quang Vĩnh*, Phạm Kim Liên ** 145



BS. Ngọc Thanh Dũng*, PGS.TS. Đàm Khải Hoàn**, PGS.TS. Nguyễn Tuấn Hưng*** 152

Bảng 1: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi 162

Nhóm 162



Nhóm tuổi 162

Nhóm nc 162

n 162

% 162

< 20 162

2 162

3,8 162

20 - 24 162

12 162

23,1 162

25 - 29 162

14 162

26,9 162

30 - 34 162

14 162

26,9 162

35 162



10 162

19,2 162

Tổng 162

52 162

100,0 162

Bảng 2: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo nghề nghiệp 162

Nhóm 162



Nghề nghiệp 162

Nhóm can thiệp 162

n 162

% 162

Học sinh 162

1 162

1,9 162

Sinh viên 162

3 162

5,8 162

Cán bộ 162

12 162

23,1 162

Làm ruộng 162

25 162

48,1 162

Nghề tự do 162

11 162

21,2 162

Tổng 162

52 162

100,0 162

Nhận xét: Phần lớn đối tượng nghiên cứu có nghề nghiệp làm ruộng (48,1% ). Tỉ lệ đối tượng có nghề tự do là 21,2%. Tỉ lệ đối tượng nghiên cứu là học sinh, sinh viên chiếm thấp. 162

Bảng 3: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số con sống 162

Nhóm can thiệp 162

n 162

% 162

Chưa có con 162

11 162

21,2 162

1 con 162

8 162

15,4 162

2 con 162

28 162

53,8 162

3 con 162



5 162

9,6 162

Tổng 163

52 163

100,0 163

Nhận xét: Hơn một nửa đối tượng nghiên cứu đã có 2 con (53,8%). Tỉ lệ đối tượng chưa có con là 21,2% ; tỷ lệ có từ 3 con trở lên là 9,6%. 163

Bảng 4: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo số lần có thai 163

Nhóm can thiệp 163

n 163

% 163

1 lần 163

14 163

26,9 163

2 lần 163

18 163

34,6 163

3 lần 163



20 163

38,5 163

Tổng 163

52 163

100,0 163

Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã có thai ≥ 3 lần chiếm cao nhất (38,5%). Tỉ lệ đối tượng đã có 1 lần mang thai là 26,9%. 163

Bảng 5: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo lý do phá thai 163

Nhóm can thiệp 163

n 163

% 163

Chưa chồng 163

10 163

19,2 163

Đủ 2 con 163

24 163

46,2 163

Thai bất thường 163

4 163

7,7 163

Khác 163

14 163

26,9 163

Tổng 163

52 163

100,0 163

Nhận xét: Tỷ lệ lý do phá thai chủ yếu do đã đủ 2 con chiếm 46,2%. Lý do thai bất thường ít nhất 7,7%. 163

Bảng 6: Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tiền sử phá thai 163

Nhóm can thiệp 163

n 163

% 163

Không phá thai 163

38 163

73,0 163

Một lần 163

12 163

23,0 163

2 lần 163



2 163

4,0 163



Tổng 163

52 163

100,0 163

Nhận xét: Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có tiền sử chưa phá thai lần nào chiếm cao nhất 73% và phá thai trên 2 lần ít nhất 4%. 163

Bảng 3.7. Phân bố đối tượng nghiên cứu theo tuổi thai 163

Nhóm 163



Tuổi thai(tuần) 163

Nhóm can thiệp 163

n 163

% 163

13 163

18 163

34,6 163

14 163

12 163

23,1 163

15 163

3 163

5,8 163

16 163

3 163

5,8 163

17 163

5 163

9,6 163

18 163

3 163

5,8 163

19 163

0 163

0 163

20 163

2 163

3,8 163

21 163

2 163

3,8 163

22 164

4 164

7,7 164

Tổng 164

52 164

100,0 164

Nhận xét: Tỷ lệ tuổi thai phá nhiều nhất là 13 tuần có 18 trường hợp chiếm 34,6% và tuổi thai 21 và 22 tuần gặp ít nhất 3,8%. 164

Bảng 8: Kết quả ra thai của misoprostol ngậm bên má 164

­­­­Phương thức ra thai 164

n 164

% 164

Sẩy cả bọc 164

47 164

90,4 164

Sẩy thai không hoàn toàn 164

5 164

9,6 164

Phải gắp thai 164

0 164

0 164

Không sảy thai 164

0 164

0 164

Tổng 164

52 164

100,0 164

Nhận xét:Sau khi sử dụng misoprostol ngậm bên má thì hầu hết (90,4%) bệnh nhân sảy thai cả bọc, tỉ lệ sẩy thai không hoàn toàn chiếm 9,6%. Không có trường hợp nào phải gắp thai hoặc không sẩy thai. 164

Bảng 9: Hiệu quả đáp ứng của thuốc misoprostol ngậm bên má 164

Chỉ số 164

n 164

% 164

Thời gian xuất hiện cơn co sau khi đặt thuốc 164

< 2 giờ 164

1 164

1,9 164

2 – < 4 giờ 164

16 164

30,8 164

4 – < 6 giờ 164

24 164

46,2 164

6 - < 8 giờ 164

4 164

7,7 164

8 giờ 164



7 164

13,5 164

Trung bình ± độ lệch chuẩn 164

4,7 ± 2,0 164

Đau bụng do cơn co tử cung 164

Không 164

1 164

1,9 164

Có 164

51 164

98,1 164

Mức độ đau bụng (n = 51) 164

VAS 0 164

1 164

2,0 164

VAS 1 – 3 164

49 164

96,1 164

VAS 4 - 6 164

1 164

2,0 164

Thời gian ra thai sau đặt thuốc 164

<12 giờ 164

20 164

38,5 164

12 – <24 giờ 164

30 164

57,7 164

24 giờ 164



2 164

3,8 164

Trung bình ± độ lệch chuẩn 164

13,0 ± 4,3 164

Nhận xét: Thời gian xuất hiện cơn co tử cung sau khi dùng liều thuốc đầu tiên từ 6 đến 8 giờ là nhiều nhất chiếm 46,2%. Dưới 2 giờ ít gặp chiếm 1,9%. Đa số các trường hợp có đau bụng, không gây khó chịu chiếm 96,1%. Khoảng thời gian ra thai sau ngậm thuốc đầu tiên là 12 đến 24 giờ chiếm 57,7%, trên 24 giờ có 2 trường hợp chiếm 3,8%. 164

Bảng 10: Sử dụng thuốc phối hợp và tình trạng cổ tử cung khi sẩy thai sau dùng misoprostol ngậm bên má 165

Chỉ số 165

n 165

% 165

Thuốc sử dụng phối hợp tăng CCTC 165

Có 165

4 165

7,7 165

Không 165

48 165

92,3 165

Thuốc sử dụng phối hợp giảm CCTC 165

Có 165

0 165

0 165

Không 165

52 165

100,0 165

Tình trạng CTC khi sảy thai 165

Mềm, thuận lợi 165

49 165

94,2 165

Không mềm, phải nong CTC 165

3 165

5,8 165

Nhận xét: Tỷ lê không sử dụng thuốc phối hợp tăng CCTC cao chiếm 92,3% và không có trường hợp nào sử dụng phối hợp giảm CCTC. Tình trạng CTC khi sảy thai là mềm và thuận lợi chiếm 94,2%. 165

Bảng 3.11. Tác dụng không mong muốn khi dùng thuốc misoprostol ngậm bên má 165

Chỉ số 165

n 165

% 165

Buồn nôn 165

24 165

46,2 165

Mạch nhanh > 90 nhịp/phút 165

2 165

3,8 165

Sốt > 37,5oC 165

1 165

1,9 165

Rét run 165

0 165

0 165

Nôn 165

5 165

9,6 165

Hoa mắt – chóng mặt 165

7 165

13,5 165

Tiêu chảy 165

0 165

0 165

Huyết áp ≥ 140/90 165

1 165

1,9 165

Tổng 165

52 165

100,0 165

Nhận xét: Tỷ lệ trường hợp buồn nôn sau khi dùng thuốc mức độ nhẹ không phải can thiệp gì chiếm 46,2%, hoa mắt chóng mặt nhe chiếm 13,5% và không gặp trường hợp nào rét run và tiêu chảy. 165

Bảng 3.12. Tai biến khi dùng misoprostol ngậm bên má 165

Chỉ số 165

n 165

% 165

Chảy máu 165

Không 165

44 165

84,6 165

Có chảy máu 165

8 165

15,4 165

Nặng (n = 8) 165

0 165

0 165

Trung bình 165

1 165

12,5 165

Nhẹ 165

7 165

87,5 165

Phải can thiệp 165

0 165

0 165

Vỡ tử cung 165

0 165

0 165

Rách CTC, âm đạo, tầng sinh môn 165

0 165

0 165

Tổng 165

52 165

100,0 165

Nhận xét: Tỷ lệ tai biến hay gặp chảy máu chiếm 15,4% trong đó gặp chảy máu mức độ nhẹ. Không có trường hợp nào vỡ tử cung, rách CTC, âm đạo, tầng sinh môn. 165

Bảng 3.13. Đánh giá kết quả điều trị bằng misoprostol ngậm bên má 166

Chỉ số 166

n 166

% 166

Mức độ hài lòng về điều trị 166

Rất hài lòng 166

41 166

78,8 166

Hài lòng 166

11 166

21,2 166

Trung bình 166

0 166

0 166

Không hài lòng 166

0 166

0 166

Thời gian nằm điều trị sau sảy thai 166

Dễ chấp nhận 166

44 166

84,6 166

Chấp nhận được 166

8 166

15,4 166

Không chấp nhận được 166

0 166

0 166

Tổng 166

52 166

100,0 166

Nhận xét: Sau sẩy thai, phần lớn 78,8% bệnh nhân rất hài lòng về thuốc, tỉ lệ hài lòng là 21,2% và không có bệnh nhân không hài lòng về phương pháp này. Tỉ lệ bệnh nhân cho rằng thời gian nằm điều trị là dễ chấp nhận chiếm 84,6%, chấp nhận được chiếm 15,4% và không có bệnh nhân nào cho rằng thời gian nằm viện của phương pháp này không chấp nhận được. 166

Tỷ lệ phụ nữ từ 25 đến 34 tuổi đi phá thai trong nhóm nghiên cứu khá cao 53,8%, nghề nghiệp chủ yếu là làm ruộng 48,1% .điều này cho thấy dân cư sống ở địa bàn sông công chủ yếu làm nghề nông, kiến thức cũng như ý thức trong việc kế hoạch hóa gia đình còn hạn chế nhiều và một phần do tập tục gia đình phải có con trai nên phần nào lam gia tăng tỷ lệ phá thai to≤ 166

Tỷ lệ sảy thai hoàn toàn trong 48 giờ là 90,4% trong đó sảy thai hoàn toàn trong 24 giờ đầu là 96,2% và sau 24 -48 giờ 3,8%. 166

Nghiên cứu của Nguyễn Huy Bạo (2009) [1] trong 100 trường hợp có tuổi thai 13 đến 22 tuần sử dụng phác đồ như nghiên cứu có tỷ lệ sảy thai hoàn toàn trong 48 giờ 89% cũng tương đường với kết quả của chúng tôi. 166

Nghên cứu của Nguyễn Thị Như Ngọc (2012) [2] trong 76 ca có tuổi thai như nghiên cứu kết quả sảy thai hoàn toàn sau 48 giờ 86,8% và cũng tuong đương kết quả nghiên cứu của chúng tôi. 166

Nghiên cứu của Bunxu Inthapatha (2007) [4] 284 trường hợp tuổi thai 17 đến 22 tuần tỷ lệ thành công sau 24 giờ 38,6% so với chúng tôi không có ý nghĩa vì tuổi thai nghiến cứu cao hơn chúng tôi. Sau 48 giờ 84,2% tỷ lệ thấp hơn so với chúng tôi. 166

Sử dụng Misoprostol các đường khác nhau có thẻ tạo ra các hiệu quả khác nhau . Diskinson [3] và Janet [5] tìm thấy rằng việc sử dụng MSP đường uống cũng như đường ngậm bên má có khởi đầu nhanh, hấp thu tốt và có điểm tập chung huyết thanh sớm và cáo hơn đường âm đạo. Trong nghiên cứu chung tôi thấy thời gian ngậm thuốc đến khi xuất hiện cơn co bệnh nhân cảm giác đau bụng từ 4 ≤ 6 giờ 46,2%. 166

Tác dụng phụ của MSP gặp như nôn, buồn nôn, ỉa chảy đau bụng, sôt, rét run, mạch nhanh, HA tăng. Thì trong nghiên cứu chúng tôi gặp nôn 24 trương hợp 46,2% sau đó là hoa mắt 7 trường hợp chiếm 13,5% không gặp ca nào rét run và tiêu chảy. Và các triệu chứng xuất hiện đều là nhẹ không phải xử trí gì. 166

Về sự hài lòng của đối tượng nghiên cứu thì với đường ngậm bên má so vói các đương dùng khác thì trở nên thông dụng hơn thuận tiện nhất là so với đường âm đạo kết quả 41 ca chiếm 78,8% rất hài lòng, hài lòng 21,2%. 167

Thòi gian nắm viện thì đây là mọt trong những tiêu trí để đánh giá hiệu quả cũng như ưu nhược điểm của phương pháp. Trong nghiên cứu 44ca dễ chấp nhận 84,6%, chấp nhân được 8 chiếm 15,4%. 167

THỰC TRẠNG TAI NẠN THƯƠNG TÍCH Ở BỆNH NHÂN ĐẾN KHÁM ĐIỀU TRỊ TẠI BỆNH VIỆN HUYỆN LƯƠNG SƠN TỈNH HÒA BÌNH NĂM 2014 – 2015

Nguyễn Đức Đồng*, Trịnh Xuân Đàn**

*Bệnh viện Đa khoa huyện Lương Sơn, **Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên
TÓM TẮT

Mục tiêu: Mô tả thực trạng tai nạn thương tích (TNTT) ở bệnh nhân đến khám điều trị tại bệnh viện huyện Lương Sơn giai đoạn 2014-2015. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ bệnh nhân bị TNTT trong thời gian nghiên cứu. Kết quả: Trong tổng số 405 trường hợp TNTT, nam chiếm tỷ lệ 68,4%, nhóm tuổi bị TNTT nhiều nhất là 15 – 39 tuổi (51,4%) và chủ yếu là người Mường (62,0%). Địa điểm chủ yếu xảy ra TNTT là trên đường đi (39,5%). Tai nạn giao thông (TNGT) chiếm tỉ lệ cao nhất (36,3%), tiếp đến là do ngã (15,6%). Phương tiện gây TNGT chủ yếu là xe máy (86,4%). Phần lớn chấn thương gây vết thương hở,vết thương rách, trầy (59,8%). Số ngày điều trị trung bình do TNTT là 5,89 ± 3,43 ngày. Kết luận: Phần lớn TNTT nhập viện khám và điều trị tại bệnh viện Lương Sơn là TNGT mức độ nhẹ với số ngày điều trị trung bình là 5,89 ± 3,43 ngày.

Từ khóa: Tai nạn thương tích, bệnh viện, bệnh nhân tại bệnh viện, thời gian nằm viện
ĐẶT VẤN ĐỀ

Tai nạn thương tích (TNTT) đã và đang là một trong những thách thức lớn của y tế trên toàn thế giới và là một trong những nguyên nhân gây thương tật, tử vong hàng đầu. Theo tổ chức y tế thế giới (WHO), hàng năm có khoảng 5 triệu người tử vong do TNTT, chiếm 9% của tổng số tử vong và 12% của gánh nặng bệnh tật toàn cầu [7]. Trong số các trường hợp TNTT, 90% tử vong do TNTT xảy ra ở các nước thu nhập thấp và trung bình, tập trung chủ yếu ở khu vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương [1], [6]. Tại Việt Nam, mỗi năm có khoảng 12,8% (tương ứng với hơn 35.000 trường hợp tử vong/năm) trong tổng số ca tử vong do TNTT gây ra, cao gấp đôi số ca tử vong do bệnh truyền nhiễm (5.6%) [1]. Do đó, việc ngăn ngừa và nâng cao chất lượng khám điều trị TNTT đang là một vấn đề cấp bách trên toàn thế giới và Việt Nam.

Huyện Lương Sơn là một huyện của tỉnh miền núi Hòa Bình, với địa hình là núi thấp và đồng bằng, điều kiện cơ sở hạ tầng chưa thật sự phát triển, có nhiều dân tộc thiểu số cùng chung sống (chủ yếu là người Mường). Đời sống kinh tế, trình độ học vấn của người dân ở mức chưa cao; bên cạnh đó là công tác phòng chống, điều trị TNTT còn gặp một số khó khăn. TNTT đã và đang trở thành một vấn đề báo động tại địa phương. Câu hỏi đặt ra là thực trạng TNTT ở bệnh nhân đến khám điều trị tại bệnh viện đa khoa Lương Sơn hiện nay ra sao? Đó là lý do chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài nhằm mục tiêu: “Mô tả thực trạng TNTT ở bệnh nhân đến khám điều trị tại bệnh viện huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình giai đoạn 2014-2015”.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Bệnh nhân bị TNTT được đưa đến khám và điều trị tại bệnh viện đa khoa huyện Lương Sơn – Tỉnh Hòa Bình từ tháng 09 năm 2014 đến tháng 08 năm 2015.

Bằng phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang trên toàn bộ bệnh nhân bị TNTT vào viện khám điều trị trong thời gian nghiên cứu theo các chỉ số nghiên cứu bao gồm: Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu; địa điểm, thời gian, nguyên nhân TNTT; đặc điểm tai nạn giao thông; loại thương tích trên cơ thể; đặc điểm sơ cấp cứu và đặc điểm điều trị TNTT.

Thu thập, xử lý và phân tích số liệu: Thu thập số liệu thứ cấp theo hồ sơ bệnh án; nhập liệu bằng phần mềm Epidata 3.1; xử lý theo các thuật toán thống kê y học bằng phần mềm SPSS 16.0.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU



Bảng 1. Thông tin chung của đối tượng nghiên cứu

Chỉ tiêu

n

%

Giới tính

Nam

227

68,4

Nữ

128

31,6

Nhóm tuổi

< 15

47

11,6

15 - 39

208

51,4

40 - 59

116

28,6

≥ 60

34

8,4

Dân tộc

Kinh

147

36,3

Mường

251

62,0

Dân tộc khác

7

1,7

Trình độ học vấn

Từ tiểu học trở xuống

43

10,6

Trung học cơ sở

68

16,8

Trung học phổ thông

240

59,3

Trung cấp, cao đẳng trở lên

54

13,3

Tổng số

405

100,0

Nhận xét: Bảng trên cho thấy phần lớn TNTT gặp ở nam giới chiếm 68,4%. Hơn một nửa đối tượng nghiên cứu (51,4%) thuộc nhóm tuổi từ 15 – 39; tiếp theo là nhóm tuổi từ 40 – 59 chiếm 28,6% và nhóm tuổi < 15 chiếm 11,6%. Phần lớn người bị TNTT là người dân tộc Mường (62,0%); tiếp theo là người Kinh (36,3%). Phần lớn đối tượng nghiên cứu có trình độ trung học phổ thông (59,3%); tỉ lệ có trình độ học vấn từ trung cấp trở lên chiếm 13,3%.

Bảng 2. Địa điểm xảy ra chấn thương của bệnh nhân



Địa điểm

n

%

Tại gia đình

115

28,4

Trên đường đi

160

39,5

Tại trường học/ Nơi làm việc

13/49

3,2/12,1

Nơi công cộng

46

11,4

Vườn/ruộng đồng

22

5,4

Tổng

405

100,0

Nhận xét: Phần lớn TNTT xảy ra trên đường đi (39,5%); tiếp theo là tại gia đình (28,4%) và tại nơi làm việc (12,1%). Địa điểm xảy ra TNTT chiếm thấp nhất là tại trường học (3,2%).

Bảng 3. Thời gian bị chấn thương của bệnh nhân



Thời gian

SL

%

Từ 5 - < 7giờ

20

4,9

Từ 7 - < 11 giờ

103

25,4

Từ 11 - < 13 giờ

17

4,2

Từ 13 - < 17 giờ

100

24,7

Từ 17 - < 21 giờ

98

23,7

Từ 21 - < 23 giờ

41

10,1

Từ 23 - < 5 giờ

25

6,2

Không nhớ

3

0,7

Tổng

405

100,0

Nhận xét: Tỉ lệ TNTT chiếm cao nhất ở giờ hành chính (giờ làm việc) với 25,5% từ 7 - < 11 giờ và 24,7% ở quãng thời gian từ 13 - < 17 giờ. Tỉ lệ TNTT ở quãng thời gian từ 17 - < 21 giờ chiếm 23,7%. Có 03 trường hợp bệnh nhân (0,7%) không nhớ được thời gian bị TNTT.

Bảng 4. Nguyên nhân chấn thương của bệnh nhân



Nguyên nhân

n

%

Tai nạn giao thông

147

36,3

Tai nạn lao động

44

10,9

Ngã

63

15,6

Bỏng

13

3,2

Ngộ độc (uống nhầm thuốc trừ sâu…)

27

6,7

Đuối nước

1

0,2

Tự tử

13

3,2

Bạo lực, xung đột

48

11,9

Động vật tấn công

19

4,7

Vật sắc nhọn

18

4,4

Vật rơi vào

12

3,0

Tổng

405

100,0

Nhận xét: TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất (36,3%); tiếp theo là ngã (15,3%) và do bạo lực, xung đột chiếm 11,9%. Tỉ lệ tai nạn lao động chiếm 10,9% và tỉ lệ tự tử chiếm 3,2%.

Bảng 5. Đặc điểm tai nạn giao thông



Đặc điểm tai nạn giao thông

n

%

Phương tiện sử dụng (n=147)

Đi bộ

7

4,8

Xe đạp

10

6,8

Xe đạp điện

3

2,0

Xe máy

127

86,4

Sử dụng mũ bảo hiểm

Số đội mũ bảo hiểm (n = 130)

43

33,1

Đội mũ bảo hiểm có gài quai (n = 43)

37

86,0

Mũ bảo hiểm bị vỡ (n = 43)

16

37,2

Không đội mũ bảo hiểm (n = 130)

87

66,9

Giấy phép lái xe (n=127)

Số có giấy phép lái xe

71

55,9

Số không có giấy phép lái xe

56

44,1

Sử dụng rượu bia (n = 147)

Có sử dụng rượu bia

76

51,7

Không sử dụng rượu bia

71

48,3

Số đi nhanh vượt ẩu (n = 130)

117

90,0

Do đường xá chất lượng xấu (n = 130)

6

4,6

Tổng

405

100,0

Nhận xét: Phương tiện sử dụng là xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất (86,4%). Trong tổng số TNGT liên quan đến phương tiện là xe máy và xe đạp điện thì tỉ lệ đội mũ bảo hiểm chiếm 33,1% và số bị vỡ mũ bảo hiểm chiếm 37,2%. Chỉ hơn một nửa (55,9%) người đi xe máy có giấy phép lái xe. Tỉ lệ người bị TNGT có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là 51,7% và số đi nhanh vượt ẩu là 90,0%.

Bảng 6. Loại tai nạn thương tích trên cơ thể

Chỉ số

n

%

Gãy xương

57

14,1

Bong gân, trật khớp

7

1,7

Vết cắt, cắn,vết thương hở,vết thương rách,trầy

242

59,8

Vết thươngt cụt chi

6

1,5

Bỏng

14

3,5

Chấn thương sọ não

33

8,1

Chấn thương các cơ quan nội tạng (nhiễm độc, vỡ…)

44

10,9

Ngạt thở

2

0,5

Tổng

405

100,0

Nhận xét: TNTT gây ra các vết cắt, cắn, vết thương hở,vết thương rách,trầy trên cơ thể chiếm tỉ lệ cao nhất (59,8%); tiếp theo là gãy xương (14,8%) và chấn thương các cơ quan nội tạng (10,9%). Tỉ lệ bị chấn thương sọ não là 8,1%.

Bảng 7. Đặc điểm sơ, cấp cứu TNTT trước khi đưa đến cơ sở y tế

Chỉ số

n

%

Sơ cứu

Được sơ cứu

122

30,1

Không được sơ cứu

283

69,9

Phương tiện vận chuyển cấp cứu

Đi bộ

6

1,5

Xe đạp

6

1,5

Xe máy

328

81,0

Ô tô

65

16,0

Thời gian đến bệnh viện sau TNTT

< 30 phút

69

17,0

30 phút - 1 giờ

241

59,5

Từ > 1 - 3 giờ

66

16,3

Từ > 3 - 6 giờ

11

2,7

Từ > 6 - 24 giờ

18

4,4




Tổng

405

100,0

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân được sơ cứu trước khi đến cơ sở y tế là 30,1%. Tỉ lệ bệnh nhân được vận chuyển tới bệnh viện bằng xe máy chiếm cao nhất với 81,0% và tiếp theo là bằng ô tô với 16,0%. Hơn một nửa (59,5%) bệnh nhân đến viện sau khi bị TNTT từ 30 phút đến 01 giờ.

Bảng 8. Đặc điểm điều trị TNTT ở bệnh nhân nhập viện

Chỉ số

n

%

Số ngày điều trị (n=354)

1 – 5 ngày

180

50,8

6 – 10 ngày

140

39,5

> 10 ngày

34

9,6

Tổng số ngày điều trị = 2084

Ngày điều trị trung bình

5,89 ± 3,43

Kết quả điều trị

Khỏi

184

45,4

Đỡ

170

42,0

Chuyển tuyến

47

11,6

Tử vong

4

1,0

Tổng

405

100,0

Nhận xét: Tỉ lệ bệnh nhân có thời gian nằm viện từ 1 – 5 ngày chiếm 50,8%; tỉ lệ nằm viện từ 6 – 10 ngày chiếm 39,5%; tổng số ngày điều trị TNTT là 2084 ngày với số ngày điều trị trung bình là 5,89 ngày. Tỉ lệ khỏi là 45,4%; đỡ là 42,0%; chuyển tuyến và tử vong lần lượt là 11,6% và 1,0%.

BÀN LUẬN

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy phần lớn TNTT gặp ở nam giới chiếm 68,4%. Điều này hoàn toàn phù hợp với nhận định của WHO cho rằng tỉ lệ tử vong do chấn thương ở nam cao hơn 2 lần so với nữ [6]. Nghiên cứu của Nguyễn Quang Khải (2007) cũng cho thấy tỉ lệ bệnh nhân nam nhập viện do TNTT (64,6%) cao hơn có ý nghĩa thống kê so với nữ (35,4%) [1]. Lý giải điều này theo chúng tôi là do nam giới thường là người điều khiển phương tiện giao thông, hay vận động hơn và sử dụng rượu bia nhiều hơn. Một điều đáng quan tâm trong nghiên cứu của chúng tôi là tỉ lệ bị TNTT nhóm tuổi từ 15 – 39 chiếm cao nhất (51,4%); tiếp theo là nhóm tuổi từ 40 – 59 chiếm 28,6%. Đây là nhóm tuổi lao động chính trong mỗi gia đình. Bên cạnh đó thì người mắc TNTT chủ yếu là người dân tộc Mường chiếm cao (62,0%). Đây chính là thách thức trong công tác truyền thông phòng chống TNTT nói chung và TNGT nói riêng.

TNTT xảy ra trên đường đi là chủ yếu (39,5%); tiếp theo là xảy ra tại gia đình (28,4%) và tại nơi làm việc (12,1%). Kết quả này chứng tỏ TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất, điều này tương đồng với các nghiên cứu trước khi nhận định rằng trong các nguyên nhân TNTT, tai nạn giao thông đường bộ chiếm tỷ lệ cao nhất, đặc biệt trong nhóm từ 19 tuổi trở lên [6]. Kết quả nghiên cứu ở bảng 4 cho thấy TNGT chiếm tỉ lệ cao nhất (36,3%); tiếp theo là ngã (15,3%) và nguyên nhân do bạo lực, xung đột chiếm 11,9%. Tỉ lệ tai nạn lao động chiếm 10,9% và tỉ lệ tự tử chiếm 3,2%. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh và Lã Ngọc Quang cũng tương đối phù hợp với nghiên cứu này khi công bố tỉ lệ TNGT chiếm cao nhất với 48,1% và tiếp theo là ngã 32,9% [1].

Tỉ lệ TNTT chiếm cao nhất ở giờ hành chính (giờ làm việc) với 25,5% từ 7 - < 11 giờ và 24,7% ở quãng thời gian từ 13 - < 17 giờ. Điều này là hoàn toàn phù hợp bởi lẽ phần lớn người bị TNTT là ở độ tuổi lao động (Bảng 1), và tỉ lệ bệnh nhân bị tai nạn lao động chiếm tương đối cao (Bảng 4). Trong thời gian làm việc cũng là thời gian các phương tiện giao thông lưu thông nhiều, với đặc điểm đối tượng nghiên cứu có nhiều người làm nghề tự do, do đó cũng gây nên tình trạng tăng tỉ lệ TNTT trong giờ làm việc. Bên cạnh đó thì tỉ lệ TNTT ở quãng thời gian từ 17 - < 21 giờ chiếm 23,7%. Đây được xác định là quãng thời gian mà sau khi đi làm về, thường các lao động chính trong gia đình (chủ yếu là nam giới) sẽ đi uống rượu, và trở về nhà và tỉ lệ người bị TNGT có sử dụng rượu bia khi tham gia giao thông là 51,7%. Kết quả này của chúng tôi cao hơn của Nguyễn Thị Chinh và Lã Ngọc Quang với tỉ lệ sử dụng rượu khi điều khiển xe là 42,3%. Lý giải điều này là do đặc điểm mẫu của chúng tôi chủ yếu là người dân tộc thiểu số [1]. Phương tiện sử dụng là xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất (86,4%). Trong tổng số TNGT liên quan đến phương tiện là xe máy và xe đạp điện thì tỉ lệ đội mũ bảo hiểm chiếm 33,1% và chỉ có 55,9% người đi xe máy có giấy phép lái xe. Tỉ lệ người đi nhanh vượt ẩu là 90,0%. Kết quả này hoàn toàn phù hợp với đặc điểm dân cư vùng Lương Sơn, Hòa Bình. Với điều kiện kinh tế chưa cao, phương tiện giao thông sử dụng chủ yếu vẫn là xe máy. Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của Rumpa Rani - Ấn Độ cho thấy TNGT liên quan chủ yếu đến xe máy, đặc biệt lứa tuổi 26-30 chiếm 33%, 67% các trường hợp tử vong cho thấy 67% số ca liên quan không đội mũ bảo hiểm [5].

TNTT gây ra các vết cắt, cắn, vết thương hở,vết thương rách,trầy trên cơ thể chiếm tỉ lệ cao nhất (59,8%); tiếp theo là gãy xương (14,8%) và chấn thương các cơ quan nội tạng (10,9%). Tỉ lệ bị chấn thương sọ não chiếm 8,1%. Kết quả này không tương đồng với kết quả nghiên cứu của Nguyễn Đức Chính và cộng sự (2011) tại Bệnh viện Việt Đức cho thấy tỉ lệ chấn thương đầu, mặt, cổ là 24,583 trường hợp, chiếm 39,5%, chấn thương chi có 30,850 bệnh nhân, chiếm 49,6% [1]. Lý giải sự khác biệt này là do địa điểm nghiên cứu. Trong khi Bệnh viện Việt Đức là bệnh viện tuyến trung ương, phần lớn các bệnh nhân chuyển đến là bệnh nhân bị gẫy xương lớn hoặc chấn thương vùng đầu mặt cổ nặng; trong khi đó bệnh viện đa khoa Lương Sơn sẽ tập trung nhiều bệnh nhân bị TNTT mức độ nhẹ.

Nghiên cứu của Nguyễn Thị Chinh và Lã Ngọc Quang (2013) cho thấy phần lớn bệnh nhân bị TNTT được sơ cứu và thời gian vận chuyển đến bệnh viện sau khi bị TNTT dưới 30 phút chiếm 94,8% [2]. Kết quả nghiên cứu này tốt hơn kết quả nghiên cứu của chúng tôi với tỉ lệ bệnh nhân được sơ cứu trước khi đến cơ sở y tế là 30,1%. Tỉ lệ bệnh nhân được vận chuyển tới bệnh viện bằng xe máy chiếm cao nhất với 81,0% và tiếp theo là bằng ô tô với 16,0%. Hơn một nửa (59,5%) bệnh nhân đến viện sau khi bị TNTT từ 30 phút đến 01 giờ. Tỉ lệ bệnh nhân được chuyển đến viện sau 01 giờ chiếm tương đối cao. Kết quả này là minh chứng cho việc cần có những hoạt động cải thiện năng lực sơ cấp cứu tại cơ sở, tại cộng đồng nhằm giảm thiểu tối đa những thiệt hại do TNTT, TNGT mang lại.



Tỉ lệ bệnh nhân có thời gian nằm viện từ 1 – 5 ngày chiếm 50,8%; tỉ lệ nằm viện từ 6 – 10 ngày chiếm 39,5%; tổng số ngày điều trị TNTT là 2084 ngày với số ngày điều trị trung bình là 5,89 ngày. Kết quả này tương đối phù hợp với nghiên cứu ở Bệnh viện Đức Giang cho thấy tỉ lệ nằm điều trị từ 1 – 5 ngày là 60,6%; từ 6 – 10 ngày là 30,8% và lớn hơn 10 ngày là 8,7%. Tuy nhiên tổng số ngày điều trị và ngày điều trị trung bình trong nghiên cứu tại bệnh viện Đức Giang thấp hơn nghiên cứu của chúng tôi. Thực tế sự khác biệt này là do sự khác biệt về cỡ mẫu với tổng số 289 bệnh nhân TNTT trong nghiên cứu tai bệnh viện Đức Giang [2]. Nghiên cứu này cũng cho thấy trong số bệnh nhân TNTT vào khám và điều trị tại bệnh viện Lương Sơn thì tỉ lệ khỏi là 45,4%; đỡ là 42,0%; chuyển tuyến và tử vong lần lượt là 11,6% và 1,0%. Đây là những con số cho thấy sự nỗ lực về chuyên môn của các cán bộ y tế tại bệnh viện. Tuy nhiên việc cung cấp thêm trang thiết bị cho hoạt động khám chữa điều trị TNTT và nâng cao chất lượng cho hoạt động này vẫn là nhu cầu thực tế được đặt ra.

KẾT LUẬN: Nghiên cứu về thực trạng TNTT tại bệnh viện đa khoa Lương Sơn cho thấy tỉ lệ TNGT chiếm cao nhất (36,3%); tiếp theo là ngã (15,3%); bạo lực, xung đột chiếm 11,9%; tai nạn lao động chiếm 10,9%. Nơi hay xảy ra TNTT là trên đường đi (39,5%); tại gia đình (28,4%) và tại nơi làm việc (12,1%). Thời gian hay xảy ra TNTT là từ 7 - < 11 giờ với 25,5%; từ 13 - < 17 giờ với 24,7% và từ 17 - < 21 giờ chiếm 23,7%. Phương tiện TNGT là xe máy chiếm tỉ lệ cao nhất (86,4%). Tỉ lệ người bị TNGT sử dụng rượu bia là 51,7% và số đi nhanh vượt ẩu là 90,0%. Tỉ lệ TNTT là các vết cắt, cắn, vết thương hở,vết thương rách,trầy trên cơ thể chiếm 59,8%; gãy xương (14,8%). Tỉ lệ bệnh nhân có thời gian nằm viện từ 1 – 5 ngày chiếm 50,8%; tỉ lệ nằm viện từ 6 – 10 ngày chiếm 39,5%; tổng số ngày điều trị TNTT là 2084 ngày với số ngày điều trị trung bình là 5,89 ngày.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Đức Chính và cộng sự (2011), “Tình hình cấp cứu tai nạn thương tích tại bệnh viện Việt Đức năm 2009-2010”, Tạp chí Y học thực hành, 787 (10), tr.7-9.

  2. Nguyễn Thị Chinh, Lã Ngọc Quang (2013), “Thực trạng tai nạn thương tích của các trường hợp nhập viện và điều trị tại bệnh viện Đức Giang năm 2013”, Tạp chí Y học thực hành, 879 (9), tr. 55-60.

  3. Nguyễn Quang Khải (2007), Chi phí và tổn hại sức khỏe do chấn thương không chủ đích của bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện đa khoa huyện Tiên Du từ 05/2006 - 05/2007, Luận văn Thạc sĩ Y tế Công Cộng, Trường Đại học Y tế Công cộng, Hà Nội

  4. Jacobs G, Aeron-Thomas A và Astrop (2000), Estimating global road fatalities, Crowthorne, Transport research Laboratory, 2000.

  5. Rumpa Rani Dey, Sanjay Paul (2008), “Mô hình thương tích ở người điều khiển mô tô trong tai nạn giao thông và những vấn đề an toàn ở khu vực thủ đô Dhaka”, Hội nghị Châu Á Thái Bình Dương lần thứ 2 về phòng chống tai nạn thương tích, 4 - 6/11/2008, tr. 76-79.

  6. World Health Organization (2008), Regional report on status of road safety the South - East Asia Region, chapter 3, p. 14.

  7. World Health Organization (2013), Global status report on road safety 2013, www.who.int/entity/gho/road_safety/mortality/en/ access date 05/7/2013.


THE REALITY OF HOSPITALIZED INJURIES OF PATIENTS WHO WENT TO LUONG SON DISTRICT HOSPITAL, HOA BINH PROVINCE FOR EXAMINATION AND TREATMENT FROM 2014 TO 2015

Nguyen Duc Dong*, Trinh Xuan Dan**

*Luong Son District Hospital, **Thai Nguyen University of Medicine and Pharmacy
SUMMARY

Objective: To describe the status of the hospitalized injuries in Luong Son district hospital from 2014 to 2015. Method: A cross-sectional study was conducted on hospitalized injuries in study time. Results: Of total 405 hospitalized injuries, 68.4% are male, most injuries were in the age range of 15 to 39 (51.4%) and most of them are Muong ethnic people (62.0%). The hospitalized injuries mainly occurred on the road (39.5%). Traffic accidents were the leading cause of the hospitalized injuries (36.3%), followed by falls (15.6%). Vehicles related to traffic accidents was mainly motorcycles (86.4%). Most injuries caused open wounds, torn wounds (59.8%). The average length of hospital stay due to injuries was 5.89 ± 3.43. Conclusion: The majority of hospitalized injuries in Luong Son district hospital were mild accidents with the average length of hospital stay was 3.43 ± 5.89.

Keywords: injuries, hospital, hospitalized injuries, hospital stay
Tác giả liên hệ:

Tác giả 1: Nguyễn Đức Đồng, Bệnh viện Đa khoa huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình

Email: ducdong72@gmail.com

Số điện thoại: 0904737954

Tác giả 2: Trịnh Xuân Đàn, Trường Đại học Y Dược Thái Nguyên.

Email: dancham203@yahoo.com; Số điện thoại: 0912802526



: uploads -> media
media -> TÁC ĐỘng của enso đẾn thời tiếT, khí HẬU, MÔi trưỜng và kinh tế XÃ HỘI Ở việt nam gs. Tskh nguyễn Đức Ngữ
media -> Giới thiệu dòng case mid-tower Phantom 240 Thùng máy kiểu cổ điển Phantom với mức giá thấp chưa từng có
media -> BỘ MÔn giáo dục thể chất I. Danh sách cán bộ tham gia giảng
media -> Ecs giới thiệu loạt bo mạch chủ amd fm2+ hoàn toàn mới Nâng cao hỗ trợ đồ họa rời và hiện thị phân giải 4K tích hợp
media -> ĐỀ CƯƠng chi tiết học phần mã số học phần: pie332 Tên học phần
media -> ĐỀ CƯƠng chi tiết học phần mã số học phần : Tên học phần : Dược lý
media -> MỤc lục trang
media -> Ường Đại học y dược Thái Nguyên
media -> MỤc lụC Đinh Hoàng Giang*, Đàm Thị Tuyết 6


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   19


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương