MỤc lục danh mục bảng V danh mục hình VII danh mục bảN ĐỒ VIII


Hiện trạng môi trường nước vùng quy hoạch



tải về 3.31 Mb.
trang5/40
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích3.31 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   40

Hiện trạng môi trường nước vùng quy hoạch


  1. pH và độ kiềm

Thời điểm thu mẫu vào mùa mưa nên hầu hết các kênh rạch đều đã bị ngọt hóa. Giá trị pH thấp nhất là 6,7 ở rạch Nò (Ba Tri) và cầu Bưng Lớn (Bình Đại), ngược lại pH cao nhất 8,2 ở rạch khâu băng (Thạnh Phú). Như vậy tiểu vùng kênh rạch nội đồng do bị ảnh hưởng của vùng đất nhiễm phèn (sắt hoặc nhôm trong vùng nước ngọt nội đồng) nên pH thấp hơn nhiều so với vùng ven biển, độ mặn cao. Mặt khác, vùng bị ngọt hóa (rạch Nò, đò Định Trung,...) thì độ kiềm cũng chỉ là 40mg/l thấp hơn nhiều so với vùng nước lợ (rạch Hồ Cỏ, rạch Khâu Băng,...) với giá trị độ kiềm dao động trong khoảng 90-100mg/L (đây là ngưỡng thích hợp cho nuôi thủy sản, đặc biệt cho nuôi tôm sú).

  1. DO và COD

Bến đò Ba Gai (Ba Tri) không chỉ giá trị DO quá thấp (2,8mg/L) mà giá trị ô nhiễm hữu cơ COD cũng là cao nhất (22,5 mg/L), cả 2 thông số này đều không thích hợp cho NTTS. Điểm quan trắc đáng lo ngại thứ hai là cầu Phú Lễ (cũng ở Ba Tri) với hàm lượng DO thấp thứ nhì trong khi hàm lượng COD cũng là cao thứ hai). Các điểm thu mẫu còn lại (6 điểm) thì nói chung cả 2 giá trị DO và COD đều thích hợp cho NTTS.

  1. Chỉ thị ô nhiễm: NH3 và NO2

Diễn biến hàm lượng ammonia và nitrit trong các thủy vực biến đổi không theo quy luật. Nhìn chung, hàm lượng hai chỉ tiêu này ở Ba Tri luôn cao hơn giá trị tại Bình Đại và Thạnh Phú. Thời gian thu mẫu vào gần cuối mùa mưa, theo kết quả quan trắc môi trường hàng năm của tỉnh đây là thời điểm nguồn nước có hàm lượng các muối nitơ tương đối cao.

  1. Chỉ thị độ phú dưỡng: NO3 và PO4

Do hàm lượng NH3-N và NO2-N khá cao nên hàm lượng NO3-N ở mức tương đối thấp (0,07 - 0,37 mg/l), và nồng độ PO4 có thể xem là không đáng kể.

  1. Thuốc bảo vệ thực vật gốc Carbamate

Cũng tương tự như thuốc BVTV gốc chlor, không phát hiện thuốc BVTV gốc Carbamate trong thủy vực khảo sát. Điều đó chứng tỏ rằng nguồn nước trong vùng quy hoạch chưa bị ảnh hưởng của lượng thuốc trừ sâu dùng trong nông nghiệp. Như vậy, nhận thức của bà con nông dân về việc dùng thuốc trừ sâu trong trồng lúc và trồng cây hoa màu, cây ăn trái đã được nâng cao rõ rệt.

  1. Coliforms

Đợt khảo sát vừa qua cho thấy hàm lượng coliform trong vùng quy hoạch ở mức rất cao và hầu hết đều vượt ngưỡng cho phép gấp nhiều lần, cao nhất là ở cầu Bưng Lớn với hàm lượng 110.000 MPN/100ml vượt qui chuẩn A2 đến 22 lần (và vượt qui chuẩn A1 là 44 lần). Chỉ có ba điểm là cầu 30/04, cầu Vũng Luông và cầu Ván là hàm lượng coliform còn trong ngưỡng cho phép. Tuy nhiên, sự có mặt của coliform trong nước được xem là một chỉ số về sự tinh khiết của nước, nhưng chỉ số này cũng không đáng tin cậy, bởi vì coliform có thể sống sót trong nước ấm, nhất là ở những vùng nhiệt đới như nước ta; do đó, sự hiện diện của coliform trong nước không hẳn có nghĩa là nước bị nhiễm phân (Bùi Trọng Tuyến, 2000).

Nhận xét chung: Qua đợt khảo sát khu quy hoạch vào tháng 10/2010, kết quả khảo sát cho thấy các sông ngòi, kênh rạch nội đồng có dấu hiệu nguồn nước bị ô nhiễm cục bộ. Trong đó, các điểm khảo sát ở huyện Ba Tri cho thấy đây là khu vực bị ô nhiễm cục bộ rõ nhất vì các chỉ tiêu khảo sát (nhất là DO, COD, NH3-N, NO2-N) đều vượt ngưỡng gấp nhiều lần. Ngoài ra giá trị pH thấp (6,7-7,2) chứng tỏ rằng vùng này có thể bị nhiễm phèn từ nội đồng chảy ra. Khu vực Bình Đại ít bị ô nhiễm hơn 2 huyện còn lại vùng quy hoạch và huyện Thạnh Phú các chỉ tiêu ô nhiễm là thấp nhất. Tuy nhiên, cả 3 thủy vực này hàm lượng NH3-N và NO2-N đều đã vượt ngưỡng cho phép NTTS. Tuy nhiên, đây chỉ là kết quả của 1 đợt thu mẫu khảo sát và vào thời điểm tháng 10, thời điểm tập trung cải tạo ao nuôi tôm, nên mức độ ô nhiễm trong khu vực vào các thời điểm khác sẽ thấp hơn.

  • Tác động của việc NTTS và các hoạt động khác đến môi trường nước

  1. Tác động của NTTS đến nguồn nước

Trong những năm qua, diện tích NTTS tại 3 huyện ven biển vùng quy hoạch đã và đang tăng diện tích nuôi dẫn đến sự gia tăng chất thải vào môi trường.

Nước thải phát sinh trong chu trình nuôi tôm có thể dao động từ 39-199 m3/kg (Viện kỹ thuật nhiệt đới và bảo vệ môi trường). Dự báo chất thải từ quá trình nuôi trồng thủy sản theo dự báo quy hoạch phát triển ngành NTTS của tỉnh Bến Tre năm 2015 có thể lên đến 3.094x106 m3/năm (báo cáo hiện trạng môi trường tỉnh Bến Tre giai đoan 2006 – 2010).

Hầu hết các diện tích NTTS ở 3 huyện vùng quy hoạch đều chưa đầu tư hệ thống thu gom, xử lý nước thải và bùn thải tập trung. Nước thải sau quá trình nuôi được thải trực tiếp ra môi trường kênh rạch dẫn nước, kết hợp với việc dẫn nước mặn vào việc phục vụ nuôi trồng thông qua hệ thống kênh mương đã góp phần gây ô nhiễm nguồn nước trong khu vực. Bên cạnh đó, trong quá trình nuôi cá trong ao hầm, nuôi bè tại bãi bồi - cù lao, một lượng thức ăn hóa chất, chế phẩm sinh học,… dư thừa được thải trực tiếp ra nguồn nước và các hộ xử lý chất thải từ ao nuôi còn thấp. Đây chính là những nguyên nhân của NTTS làm ảnh hưởng đến chất lượng nước tại khu vực.

Nitơ và photpho là những nguyên tố chủ yếu trong chất thải bắt nguồn từ thức ăn. Việc cho thức ăn quá nhiều, nước không ổn định, thức ăn dễ tan, thức ăn khó hấp thu và khả năng duy trì nitơ..., là những yếu tố liên quan với nước thải có chứa nhiều nitơ và phôtpho. Thức ăn thừa, chiếm tỷ lệ lớn (30 - 40%) của ô nhiễm nitơ. Người ta ước lượng rằng, có khoảng 63 - 78% nitơ và 76 - 80% photpho cho tôm ăn bị thất thoát vào môi trường. Nitơ dưới dạng protein được tôm hấp thu và bài tiết dưới dạng ammoniac. Tổng khối lượng nitơ và photpho sản sinh trên 1 ha trại nuôi tôm bán thâm canh có sản lượng 2T, tương ứng khoảng 113 kg và 43 kg. Ðương nhiên, trong hệ thống nuôi thâm canh thì khối lượng này tăng gấp từ 7 - 31 lần.

Chất thải bắt nguồn từ thức ăn không ăn hết, phân và chuyển hoá dinh dưỡng là nguồn gốc chủ yếu của các chất gây ô nhiễm ở các trại nuôi tôm quản lý kém. Nước thải mang theo một lượng lớn hợp chất nitơ, photpho và các chất dinh dưỡng khác, gây nên sự phú dưỡng, kèm theo sự tăng sức sản xuất ban đầu và nở rộ của vi khuẩn. Sự có mặt của các hợp chất carbonic và chất hữu cơ sẽ làm giảm ôxy hoà tan và tăng BOD, COD, sulfit hydrrogen, ammoniac và hàm lượng methan trong vực nước tự nhiên. Một vấn đề khác do việc nuôi tôm gây nên đó là sự làm lắng đọng bùn ở các vùng lân cận, như rừng ngập mặn và ở những nơi nước tù.

Việc sử dụng kháng sinh đã gây nên sức chống chịu thuốc ở vi sinh vật và có vết trong mô của ký chủ. Sử dụng thuốc điều trị và hoá chất gây tác động bất lợi đối với sinh vật phù du và sinh vật đáy do ảnh hưởng độc tố sinh thái học (ecotoxic) của chúng.



  1. Tác động của các hoạt động khác ảnh hưởng đến nguồn nước

Hiện nay trên toàn thành phố Bến Tre và các huyện ven biển (Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú) có khoảng 120 cơ sở thu mua và sơ chế thủy hải sản, mỗi ngày thải ra khoảng 600 – 1.200m3 nước thải. Chất thải từ các cơ sở này gây tác động trực tiếp tới môi trường nước.

Ngoài ra, sự gia tăng số lượng cũng như công suất tàu thuyền vận tải đường thủy cũng như tàu thuyền đánh bắt thủy sản hàng năm trên địa bàn vùng quy hoạch đã làm ảnh hưởng đến môi trưởng biển do sự gia tăng chất thải từ tàu thuyền. Các hoạt động neo đậu tàu thuyền, hoạt động sơ chế thủy sản tại các bến cảng cũng là nguyên nhân gây gia tăng lượng chất thải vào môi trường nước.

Hoạt động sản xuất nông nghiệp bên cạnh NTTS còn có trồng trọt và chăn nuôi. Trồng trọt ngoài nhu cầu sử dụng nước để tưới, trồng trọt còn tác động đến nguồn nước chủ yếu là phân bón và thuốc trừ sâu. Chăn nuôi cũng là hoạt động tác động lớn đến nguồn nước vì bên cạnh một số hộ, trang trại vận hành hệ thống xử lý chất thải tốt vẫn còn tồn tại một số hộ chăn nuôi thải chất thải không qua xử lý ra môi trường.

Sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu sử dụng nước cũng như gia tăng lượng nước thải cho môi trường nước.

Phát triển công nghiệp góp phần đáng kể đến ô nhiễm nguồn nước. Ngoài ra, thành phần chất thải từ hoạt động công nghiệp có xu hướng gia tăng nồng độ các chất ô nhiễm.

Ngoài ra, hoạt động dịch vụ, du lịch... phát triển cũng làm gia tăng áp lực chất thải lên môi trường nước.





1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   40


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương