MỤc lục danh mục bảng V danh mục hình VII danh mục bảN ĐỒ VIII


Tình hình sản xuất và NTTS trên thế giới



tải về 3.31 Mb.
trang18/40
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích3.31 Mb.
1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   ...   40

Tình hình sản xuất và NTTS trên thế giới


Nguồn cung tôm thế giới

Xuất xứ của TCT là từ vùng Nam Mỹ, đặc biệt từ Pêru cho đến Mêxicô. Vào những năm 1970, TCT được đưa vào các vùng đảo Thái Bình Dương, tới đầu năm 1980 TCT được nuôi trồng tại các vùng của nước Mỹ và quanh khu vực. Suốt thời gian dài 20-25 năm, TCT là loại tôm chủ lực nuôi trong khu vực này.

Hiện nay, TCT là đối tượng chủ lực của hầu hết các nước Nam Mỹ, Trung Quốc, Thái Lan,... với sản lượng tính đến năm 2007 là 2,31 triệu tấn, chiếm khoảng 70% tổng sản lượng tôm nuôi toàn thế giới.

Bảng 5.1. Sản lượng TCT và tôm sú nuôi thế giới 1999-2007 (Đvt: ngàn tấn)



Danh mục

1999

2000

2001

2002

2003

2004

2005

2006

2007

99-07’

Tổng

733,7

776,4

953,1

1.112,6

1.770,0

2.076,6

2.322,6

2.791,6

3.300,0

20,7%

Tôm CT

186,1

145,4

280,1

481,0

1.039,6

1.361,2

1.599,4

2.133,4

2.310,0

37,0%

Tôm sú

547,6

631,0

673,0

631,6

730,4

715,4

723,2

658,2

990,0

7,7%

(Nguồn: FAO)

Trung Quốc: Hiện là nước có sản lượng tôm nuôi lớn nhất thế giới, trong đó chủ yếu là TCT. Năm 2007, sản lượng TCT của nước này đạt 1,07 triệu tấn, chiếm 46% tổng sản lượng TCT thế giới, trong đó, có đến 80% được tiêu thụ nội địa. Nhiều chuyên gia cho rằng, trong 10-20 năm nữa, Trung Quốc có thể không cần xuất khẩu thuỷ sản mà chuyển sang nhập khẩu thuỷ sản để đáp ứng nhu cầu trong nước.

Thái Lan: TCT đã chiếm ưu thế so với tôm sú về khối lượng nuôi kể từ năm 2004. Đến năm 2007, sản lượng TCT ở Thái Lan đạt 490.000 tấn, trong đó tôm sú giảm mạnh chỉ còn 10.600 tấn (xuất khẩu tôm của Thái Lan năm 2007 đạt 2,15 tỷ USD). Do nguồn cung tăng mạnh nên giá giảm đã khiến nhiều hộ nuôi qui mô nhỏ phá sản. Cục Nghề cá Thái Lan đã lập kế hoạch cân đối sản lượng TCT và tôm sú đến năm 2010 với tỷ trọng: tôm sú chiếm 30%, TCT 70%.

Inđônêxia: Hiện nay, Inđônêxia có 27 tỉnh nuôi tôm với tổng diện tích 150.500 ha, trong đó nuôi tôm sú khoảng 93.500 ha và TCT 57.000 ha. Năm 2007, sản lượng đạt 297,6 ngàn tấn, trong đó, TCT chiếm 55% tổng sản lượng. Tôm là một trong 10 mặt hàng chủ lực thuộc Chương trình xúc tiến xuất khẩu của nước này đến năm 2010. Để đạt mục tiêu trên, chính phủ Inđônêxia đã thực hiện một số chương trình cấp chứng nhận cho các trại ương, nuôi và xử lý tôm sau thu hoạch, đáp ứng Quy chuẩn Ứng xử nghề cá có trách nhiệm của FAO.

Ấn Độ: Cũng giống như nhiều nước nuôi tôm sú khác, Ấn Độ cũng đang chịu nhiều khó khăn do phải cạnh tranh với tôm thẻ. Sản lượng tôm sú nuôi của nước này năm 2007 đạt 101.200 tấn. Ấn Độ đặt mục tiêu đạt 4 tỷ USD xuất khẩu thuỷ sản vào năm 2010 và 6 tỷ USD vào năm 2015. Để đạt được mục tiêu trên, chính phủ Ấn Độ đã thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng thuỷ sản, đặc biệt ưu tiên cho nuôi ven biển và tôm là đối tượng quan trọng hàng đầu. Hiện nay, tôm chiếm hầu hết tổng sản lượng nuôi ven biển và có đến 84% tổng xuất khẩu tôm của nước này là tôm nuôi.

Braxin: Sản lượng TCT nuôi của Braxin năm 2007 đạt 65.000 tấn, chiếm 81% sản lượng nuôi nước mặn và chiếm 24% tổng sản lượng nuôi trồng. Diễn biến trong thời gian qua do sự rớt giá của đồng đô la Mỹ nên Braxin tăng cường nhập khẩu thuỷ sản và giảm lượng xuất khẩu. Lượng nhập khẩu chủ yếu để chế biến và tiêu thụ tại chỗ. Tỷ trọng xuất khẩu tôm trong tổng xuất khẩu thuỷ sản giảm từ 48% năm 2005 xuống 44% năm 2007. Tuy nhiên, trong thời gian tới Braxin vẫn được đánh giá là nước có triển vọng cao về xuất khẩu tôm.

Êcuađo: Sau năm 1999 (sản lượng TCT đạt 107.700 tấn), ngành tôm của Êcuađo có sự sụt giảm nghiêm trọng (thiệt hại khoảng 500 triệu USD) do bệnh đốm trắng và các rào cản thương mại về chống bán phá giá của Mỹ. Tuy nhiên, đến nay các rào cản được gỡ bỏ và việc áp dụng công nghệ cải tiến gen để tăng khả năng kháng bệnh trên tôm đã là những lý do khiến ngành tôm nước này dần phục hồi. Sản lượng tôm nuôi năm 2007 đạt 150.000 tấn.

Philippin: Quyết định số 225 được ban hành cho phép nhập khẩu TCT bố mẹ sạch bệnh, Philippin hướng tới mục tiêu trở thành nước xuất khẩu tôm hàng đầu thế giới trong thời gian tới. Năm 2007, sản lượng tôm của nước này đạt 39,8 ngàn tấn, chỉ gồm tôm sú. Tuy nhiên, nước này có kế hoạch tăng diện tích để đạt sản lượng 100 ngàn tấn TCT trong khoảng 5 năm tới. Hiện nay, có đến 60% sản lượng tôm được tiêu thụ nội địa, còn lại xuất khẩu chủ yếu sang Canađa, Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và nhiều nước khác.

Nhìn chung nguồn cung tôm cho thị trường thế giới trong thời gian tới vẫn tập trung chủ yếu ở những nước trên bởi những nước này đều đã có những kế hoạch cụ thể gia tăng sản lượng tôm nuôi. Sự chuyển dịch từ tôm sú sang TCT vẫn tiếp tục diễn ra, nhất là ở Philippin, Ấn Độ, và kể cả Việt Nam. Tuy nhiên, các nước cũng có xu hướng đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa tôm sú và TCT (ví dụ như Thái Lan) để loại bớt nguy cơ rủi ro bởi tôm sú được đánh giá là có sự ổn định hơn so với TCT.

Biến động giá TCT và tôm sú nuôi trên thế giới

Nhiều nước trên thế giới như Trung Quốc, Thái Lan,... đã chuyển hướng sang nuôi TCT (Penaeus vannamei) – là đối tượng được đánh giá là có nhiều ưu thế hơn tôm sú như: cho năng suất cao, chu kỳ nuôi ngắn, chi phí thấp và ít rủi ro,... do có những ưu việt đã nêu ở trên, sản lượng TCT của thế giới phát triển với tốc độ rất nhanh - 22%/năm, đã cạnh tranh gay gắt với tôm sú. Mặc dù vẫn giữ được mức tăng trưởng 6%/năm nhưng con tôm sú mất dần thị phần trên thị trường tôm và giá bắt đầu giảm với xu hướng rõ rệt (xem biểu đồ diễn biến giá).



Hình 5.1. Diễn biến giá trung bình tôm sú và TCT GĐ 1989-2006



Hình 5.2. Giá xuất khẩu tôm trung bình hàng tháng từ năm 2007 - 2010





1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   ...   40


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương