MỤc lục danh mục bảng V danh mục hình VII danh mục bảN ĐỒ VIII


Khoa học công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế



tải về 3.31 Mb.
trang10/40
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích3.31 Mb.
1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   40

Khoa học công nghệ, khuyến ngư và hợp tác quốc tế

      1. Hoạt động khuyến ngư và công tác chuyển giao công nghệ


Theo thống kê của Trung tâm khuyến nông tỉnh, đến tháng 11 năm 2008 tỉnh Bến Tre đã tổ chức được 55 lớp tập huấn kỹ thuật NTTS cho khoảng 2.700 người tham dự. Trong đó chương trình của khuyến nông – khuyến ngư Quốc gia là 25 lớp với 1.200 người, còn lại là các chương trình của địa phương. Các lớp tập huấn được thực hiện với sự phối hợp giữa các Trung tâm khuyến ngư - khuyến nông, trạm khuyến nông – khuyến ngư và các phường, xã. Tổ chức được 04 chuyến tham quan học hỏi kinh nghiệm NTTS cho bà con với 80 lượt người tham dự, các mô hình như: nuôi tôm sú theo công nghệ vi sinh, mô hình nuôi cá chình, cá chẽm… Thực hiện được 11 mô hình trình diễn (6 theo nguồn vốn của khuyến ngư trung ương và 5 của khuyến ngư tỉnh). Trong đó điển hình là mô hình nuôi tôm sú vi sinh thực hiện ở xã An Hòa Tây và xã Vĩnh An huyện Ba Tri mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Ngoài ra Trung tâm khuyến nông tỉnh còn tham gia công tác quan trắc, dự báo về tình hình dịch bệnh, có phòng xét nghiệm PCR… Năm 2008 trung tâm đã tiến hành phân tích 912 mẫu giáp xác tự nhiên, phát hiện 314 mẫu dương tính đốm trắng. Phòng PCR đã phân tích 2.132 mẫu, trong đó có 1.293 mẫu tôm tự nhiên, 623 mẫu tôm post, 184 mẫu tôm mẹ và 23 mẫu tôm thịt.

Sáu tháng đầu năm 2009 trung tâm khuyến nông tỉnh tiếp tục tổ chức được 7 lớp tập huấn kỹ thuật nuôi tôm sú cho nông dân 3 huyện ven biển với hơn 350 lượt người tham dự. Thực hiện 5 điểm trình diễn trên 3 đối tượng là cá chẽm, tôm sú và TCT. Mô hình nuôi TCT thả giống tại 2 điểm thuộc xã Định Trung, huyện Bình Đại và xã An Đức, huyện Ba Tri ngày 19/04/2009, hiện tôm đang phát triển tốt, một điểm tại xã An Điền, huyện Thạnh Phú mới thả giống ngày 09/05/2009.

Trong năm 2009, huyện Bình Đại phối hợp với trung tâm khuyến nông khuyến ngư Bến Tre tổ chức trên 40 lớp tập huấn chuyển giao khoa học kỹ thuật nuôi tôm, cá, các biện pháp phòng trị bệnh thủy sản trong mùa mưa; xây dựng các mô hình trình diễn, tổ chức hội thảo tổng kết nhân rộng mô hình: mô hình nuôi tôm sú sinh học Định Trung, nuôi cá chẽm ở Thạnh Phước, mô hình nuôi tôm thẻ TC, mô hình TCX mương vườn… Với huyện Ba Tri, công tác chuyển giao khoa học công nghệ về nuôi tôm TC, nuôi cá nước ngọt, nuôi tôm thẻ chân trắng.

Hoạt động khuyến ngư và khoa học công nghệ trong 2010 như sau:

Thực hiện đề tài thử nghiệm sản xuất, ương giống và nuôi cá chẽm thương phẩm và đề tài sản xuất giống cá bống tượng nhằm tạo tiền đề cho việc đa dạng hoá đối tượng nuôi.

Tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm các mô hình nuôi và triển khai nhân rộng khi mô hình có hiệu quả. Triển khai nhân rộng mô hình nuôi tôm sú, TCT sử dụng chế phẩm sinh học, mô hình nuôi tôm càng xanh liền canh liền cư, mô hình nuôi tôm càng xanh kết hợp trồng lúa luân vụ với tôm sú, mô hình nuôi cá bống tượng thương phẩm,…

Cải tiến các quy trình kỹ thuật nuôi tôm sú, cá tra, TCX và hoàn thiện quy trình kỹ thuật nuôi các đối tượng nuôi mới như: cá chẽm, TCT… để tập huấn và chuyển giao kỹ thuật mới cho người nuôi.

Tổ chức 35 lớp tập huấn tuyên truyền các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến lĩnh vực NTTS với hơn 1.450 lượt người tham dự; tổ chức 64 lớp tuyên truyền về an toàn môi trường, an toàn dịch bệnh và an toàn vệ sinh thực phẩm đối với các sản phẩm có nguồn gốc từ nuôi trồng với hơn 1.860 lượt người tham dự; thực hiện 28 lớp tập huấn hướng dẫn người nuôi áp dụng quy phạm thực hành nuôi tôm tốt với hơn 850 lượt người tham dự. Đã tổ chức 27 lớp tập huấn khuyến ngư về kỹ thuật nuôi tôm sú, tôm chân trắng, cua biển, cá nước ngọt, lươn, ếch cho nông dân với 1.284 người tham dự.

Thông qua vốn khuyến nông trung ương, vốn sự nghiệp tỉnh, chương trình FSPS II, dự án Oxfam Anh, ngành đã triển khai thực hiện được 48 mô hình nuôi tôm chân trắng sử dụng chế phẩm sinh học, nuôi cá thát lát còm, nuôi cá rô đồng, nuôi TCX trong mương vườn, TCX ruộng lúa, cá bống tượng, cá kèo, cua biển, sò huyết và một số đối tượng thủy sản nước ngọt. Đồng thời tổ chức tập huấn hướng dẫn kỹ thuật nuôi theo từng giai đoạn phát triển của đối tượng nuôi để người nuôi thực hiện đạt hiệu quả cao.

Thường xuyên phối hợp với các HTX nghêu khảo sát tình hình, khuyến cáo các giải pháp kỹ thuật như can thưa, chuyển bãi nuôi và thu hoạch khi nghêu đạt kích cỡ thương phẩm nhằm tránh tình trạng nghêu chết hàng loạt vào thời điểm tháng 3, tháng 4 hàng năm.

Nhìn chung công tác khuyến ngư đã được thực hiện khá tốt, các lớp tập huấn kỹ thuật thường xuyên được tổ chức đã đáp ứng kịp thời nhu cầu của bà con. Các mô hình trình diễn đều cho thấy hiệu quả kinh tế khá cao. Công tác quan trắc môi trường được thực hiện thường xuyên giúp người nuôi chủ động hơn trong công tác phòng chống dịch bệnh…

Một số hạn chế cần khắc phục như: kỹ năng tập huấn của một số cán bộ còn hạn chế, kinh nghiệm thực tiễn chưa nhiều, truyền đạt còn mang tính hàn lâm khó nắm bắt. Việc triển khai các mô hình trình diễn có hiệu quả còn chậm, công tác khuyến ngư chưa tiếp cận được sâu rộng tới một số hộ nông dân.

      1. Hiệu quả kinh tế của các mô hình nuôi


Trên địa bàn 3 huyện Bình Đại, Ba Tri, Thạnh Phú có rất nhiều mô hình nuôi (nuôi chuyên canh, xen canh, nuôi kết hợp) với nhiều mức độ (QC, QCCT, BTC, TC), và nhiều đối tượng (tôm sú, tôm thẻ chân trắng, cá rô đồng, cá tra, nghêu,…).

+ Với các mô hình nuôi tôm, nhìn chung có năng suất khá cao:



  • Quảng canh cải tiến: Phương thức nuôi này phổ biến đối với các đối tượng như tôm sú, tôm càng xanh. Tận dụng nguồn giống tự nhiên có thả thêm giống với mật độ thưa 1 - 5 con/m2, sử dụng nguồn thức ăn tự chế. Phương thức nuôi này tỷ lệ sống thấp, năng suất thu hoạch 0,15 - 0,25 tấn/ha, tuy nhiên phương thức nuôi này có tính ổn định, bền vững và an toàn vệ sinh thực phẩm.

  • Tôm – lúa (một vụ tôm, một vụ lúa): Thường được nuôi ở những khu vực có chu kỳ 6 tháng nước ngọt, 6 tháng nước mặn, tận dụng diện tích để gia tăng thu nhập. Nuôi tôm có thể nuôi với nhiều hình thức khác nhau nhưng thường thấy ở mô hình này là nuôi QCCT hay BTC năng xuất BQ 0,2 tấn/ha.

  • Tôm – rừng (nuôi tôm xen với rừng): Tận dụng diện tích rừng ngập nước để nuôi tôm theo tỷ lệ mương – rừng hợp lý, tuy nuôi năng suất không cao nhưng chi phí đầu tư thấp, ít rủi ro, năng suất BQ đạt 0,1 – 0,2 tấn/ha.

  • Bán thâm canh: Áp dụng đối với nhiều loài thủy sản, đối với tôm sú thả giống mật độ 15 – 25 con/m2, sử dụng thức ăn công nghiệp, năng suất thu hoạch đạt 2 – 3,5 tấn /ha.

  • Thâm canh: Sử dụng thức ăn công nghiệp, trình độ kỹ thuật cao, thả giống với mật độ cao: 25 – 40 con/m2, năng suất thu hoạch đạt 4 – 6 tấn/ha.

Từ khi Bộ NN&PTNT cho phép nuôi TCT ở ĐBSCL, trên địa bàn tỉnh đã có một số mô hình nuôi mang lại những kết quả đáng khích lệ như: mô hình nuôi TCT theo công nghệ sinh học của Công ty TNHH Thông Thuận Bến Tre, thu hoạch được 6,5 tấn/0,5 ha, sau khi trừ chi phí còn lợi nhuận gần 167 triệu đồng; mô hình nuôi của công ty Lâm Thủy sản Bến Tre tại huyện Ba Tri, trên diện tích 10,2 ha, với mật độ thả nuôi trung bình 110 con/m2 thu năng suất BQ 11,2 tấn/ha, lợi nhuận BQ 115 triệu đồng/ha.

Bảng 3.10. Hiệu quả kinh tế của một số mô hình nuôi trong địa bàn vùng quy hoạch



Mô hình

Tổng vốn đầu tư BQ (tr.đ/ha)

Doanh thu BQ (tr.đ/ha)

Lợi nhuận BQ (tr.đ/ha)

Tỷ lệ hộ lời lỗ (%)

Lời

Lỗ vốn

Huyện Bình Đại
















Nuôi tôm sú thâm canh

250 -300

800

500

80

20

Nuôi tôm thẻ chân trắng

350

650

300

90

10

Nuôi cá da trơn

3.500

4.250

750

50

50

Huyện Ba Tri
















Nuôi cá rô đồng

50

70

20

50

50

Nuôi tôm sú thâm canh

200

300

100

70

30

Nuôi tôm thẻ chân trắng

250

320

70

50

50

Huyện Thạnh Phú
















Nuôi tôm sú thâm canh

350

600

250

80

20

Nuôi tôm thẻ chân trắng

400

700

300

90

10

Nuôi tôm quảng canh

20

70

50

90

10

(Nguồn: Phòng NN&PTNT các huyện)

So sánh hiệu quả của hai hình thức nuôi TC tôm sú và TCT tại Bến Tre nhận thấy: Trên một đơn vị diện tích, hai đối tượng này có mức đầu tư tương đương nhau, tuy mức lợi nhuận của nuôi tôm sú là cao hơn TCT nhưng thời gian nuôi đối tượng này lại dài hơn gần gấp 1,4 lần làm cho khả năng quay vòng vốn chậm hơn và khả năng rủi ro cao hơn. Bên cạnh đó mô hình nuôi TCT mới đưa vào thử nghiệm nên hiệu quả đạt được chưa cao, trong tương lai khi bà con nắm vững kỹ thuật nuôi thì có thể tiết kiệm được chi phí, hạ giá thành và nâng cao hơn nữa hiệu quả của mô hình này. Mô hình nuôi cá tra ở huyện Bình Đại có mức vốn đầu tư cao, lợi nhuận thu được cao, song độ rủi ro lớn.

+ Hiệu quả kinh tế của các hộ nuôi cá tra thâm canh:

Diện tích đã thả nuôi cá tra đạt 657 ha, với sản lượng đạt 110.000 tấn, năng suất bình quân hơn 160 tấn/ha. Trong những tháng đầu năm 2010 giá thành cá tra nguyên liệu thường xuyên cao hơn giá bán cá tra nguyên liệu nên đa số người nuôi không có lãi. Tuy nhiên, vào những tháng cuối năm 2010 giá thành cá tra nguyên liệu có dấu hiệu tăng mạnh trở lại nên đa số người nuôi đều có lãi khá (từ 3.000 – 4.000 đồng/kg cá).

- Tổng chi phí (gồm cả 30% khấu hao mua đất và xây dựng ao hầm) là 2.035 – 5.641 triệu đồng/ha/vụ nuôi, bình quân 3.486 ± 838 triệu đồng/ha/vụ nuôi; trong đó, chi phí thức ăn chiếm 65 – 75%, chi phí con giống 5 – 14% (bình quân 8%), chi phí thuốc/hoá chất 2 – 12% (bình quân 6%),…

- Tổng thu dao động 1.715 – 8.821 triệu đồng/ha/vụ nuôi, bình quân 4.521 ± 1.461 triệu đồng/ha/vụ nuôi.

- Lãi ròng dao động 48 – 5.883 triệu đồng/ha/vụ nuôi, bình quân 1.150 ± 1.103 triệu đồng/ha/vụ nuôi. Tính toán khi giá cá thương phẩm là 12.500 - 17.100 đồng/kg, bình quân là 14.800 đồng/kg.

+ Hiệu quả của mô hình đồng quản lý nguồn lợi nghêu của tỉnh Bến Tre:

- Tổng doanh thu từ hoạt động khai thác nghêu tự nhiên và nuôi nghêu thương phẩm của tỉnh Bến Tre năm 2009 là 168.257 triệu đồng, tổng chi phí cho các hoạt động sản xuất là 48.687 triệu đồng, lợi nhuận chia cho hộ xã viên sau khi khấu trừ tất cả các khoản thuế và trích lập quỹ là 90.491 triệu đồng. Tỷ suất lợi nhuận từ nghêu trung bình của 3 huyện là 1,86 lần.

Lợi nhuận chia cho hộ xã viên trong năm 2009 có sự thay đổi lớn giữa các huyện và giữa các HTX trong huyện. Lợi nhuận bình quân chia cao nhất cho hộ xã viên là huyện Bình Đại (11,41 triệu đồng/hộ), kế đó là huyện Thạnh Phú (6,27 triệu đồng/hộ) và thấp nhất là huyện Ba Tri (4,64 triệu đồng/hộ). Ở huyện Bình Đại lợi nhuận chia cho hộ xã viên cao chủ yếu là giá trị thu được từ Nghêu giống tự nhiên, trong khi đó ở huyện Ba Tri giá trị nguồn lợi từ nghêu giống ít, chia lợi chủ yếu là từ hoạt động nuôi nghêu thương phẩm.

Bảng 3.11. Hạch toán kinh tế từ nguồn lợi nghêu của các HTX năm 2009

(Đvt: Triệu đồng)



Stt

Hợp tác xã

Tổng thu

Tổng chi

Vốn góp xã viên

Lợi nhuận chia cho hộ xã viên

Lợi nhuận bình quân hộ xã viên

1

Huyện Bình Đại

85.127

26.574

858

45.995

11,41

-

Rạng Đông

56.865

16.779

415

31.000

15,72

-

Đồng Tâm

28.262

9.795

443

14.995

7,28

2

Huyện Ba Tri

59.549

13.519

1.026

32.402

4,64

-

Bảo Thuận

14.360

6.069

693

5.803

2,32

-

Tân Thủy

27.462

3.792

162

16.568

7,55

-

An Thủy

17.727

3.658

171

10.031

4,39

3

Huyện Thạnh Phú

23.581

8.594

1.479

12.094

6,27

-

Thạnh Lợi

4.451

2.961

108

1.043

1,93

-

Bình Minh

496

310

466

175

0,45

-

Hải Dương

2.072

1.170

55

661

2,71

-

Đoàn Kết

1.800

600

350

840

2,55

-

Thạnh Lộc

14.762

3.553

500

9.375

21,75

*

Tổng

168.257

48.687

3.363

90.491

6,99

(Điều tra, tổng hợp từ Ban quản lý các HTX Thủy sản)



1   ...   6   7   8   9   10   11   12   13   ...   40


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương