MỞ ĐẦu tính cấp thiết của đề tài



tải về 0.49 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu19.08.2016
Kích0.49 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, chính vì vậy mà trong những năm qua Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm hoàn thiện chính sách và cơ chế thu thuế xuất khẩu (XK), thuế nhập khẩu (NK) để đáp yêu cầu mới của sự phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay, góp phần thúc đẩy sản xuất trong nước ổn định tình hình kinh tế - xã hội, tạo ra những tiền đề cần thiết để chuyển nền kinh tế sang một thời kỳ phát triển mới thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế.

Thời gian qua thu thuế XK, thuế NK ở nước ta nói chung và trên địa bàn tỉnh Ninh Bình nói riêng đã đạt được những kết quả đáng khích lệ; tuy nhiên vẫn còn những tồn tại như: tình trạng trốn thuế, nợ đọng thuế và gian lận thương mại còn khá phổ biến; hoạt động kiểm tra, kiểm soát việc chấp hành chính sách thuế hàng hoá XK, NK chưa được coi trọng đúng mức gây thất thu lớn cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó sự bình đẳng và công bằng về nghĩa vụ thuế cũng chưa được đảm bảo…

Xuất phát từ những tồn tại trong thu thuế XK, thuế NK nêu trên đòi hỏi phải luôn quan tâm hoàn thiện. Để đạt hiệu quả cao, đây là yêu cầu cấp bách nhằm tăng thu cho ngân sách Nhà nước, kích thích sản xuất kinh doanh phát triển. Ninh Bình là một tỉnh phía Nam đồng bằng sông Hồng, điều kiện kinh tế - xã hội còn chậm phát triển, nguồn thu từ thuế XK, thuế NK là một trong những nguồn thu chủ yếu trên địa bàn. Vì vậy, thu thuế XK, thuế NK là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, thường xuyên của tỉnh. Trong bối cảnh đó, tác giả đã chọn nghiên cứu đề tài: “Thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình”, để đáp ứng được yêu cầu cấp thiết từ thực tế thu thuế XK, thuế NK trên địa bàn tỉnh Ninh Bình trong giai đoạn hiện nay.



2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Đề tài về thu thuế XK, thuế NK nói chung đã và đang được nhiều tổ chức, cá nhân liên quan nghiên cứu đến ở nhiều góc độ khác nhau như:

- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ của Tổng cục thuế về “Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2001-2010”;

- Đề tài: “Hải quan Việt Nam trong tiến trình hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế”, Luận án tiến sỹ Kinh tế chính trị của Lê Văn Tới, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2005;

- Đề tài: “Hoàn thiện cơ chế quản lý thuế đối với hàng hoá xuất nhập khẩu ngành Hải quan”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Dương Phú Đông, Đại học Kinh tế quốc dân năm 2008;

- Đề tài: “Tiếp tục cải cách, hiện đại hoá Hải quan Việt Nam đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế”, Luận án tiến sỹ Kinh tế của Nguyễn Ngọc Túc, Trường Đại học Ngoại thương Hà Nội năm 2007;

- Đề tài: “Các giải pháp tăng cường quản lý thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trong tiến trình gia nhập AFTA của Việt nam”, Luận án tiến sỹ Kinh tế của Nguyễn Danh Hưng, Học viện Tài chính năm 2003.

- Đề tài: “Đổi mới quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của ngành Hải quan hiện nay”, Luận án thạc sỹ Kinh tế của Trần Thành Tô, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2006.

- Đề tài: “Một số giải pháp về quản lý chống thất thu thuế xuất nhập khẩu trên địa bàn thành phố Đà Nẵng”, Luận án thạc sỹ Kinh tế của Phan Duy Bình, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh năm 2000.

- Đề tài: “Quản lý thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu tại Cục Hải quan thành phố Hải Phòng”, Luận văn thạc sỹ Kinh tế của Đặng Văn Dũng, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh năm 2011.

Nhìn chung, các đề tài và tài liệu trên đều có đề cập ở những mức độ nhất định về Thuế, quản lý thuế, chống thất thu thuế XK, thuế NK của ngành Hải quan. Tuy nhiên, chưa có công trình khoa học nào dưới dạng luận văn thạc sỹ và luận án tiến sỹ nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện về đề tài thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình hiện nay ở góc độ kinh tế chính trị. Do vậy, tác giả đã chọn đề tài làm luận văn thạc sỹ chuyên ngành Kinh tế chính trị.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn:

3.1. Mục đích nghiên cứu:

Luận văn chọn lọc và hệ thống hoá một số vấn đề cơ bản về thuế XK, thuế NK; Phân tích, đánh giá thực trạng thu thuế XK, thuế NK ở Ninh Bình thời gian qua và từ đó đề xuất giải pháp góp phần thu thuế XK, thuế NK hiệu quả trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.



3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu:

- Làm rõ vai trò của thuế XK, thuế NK đối với phát triển kinh tế - xã hội (KT – XH) và nội dung của thu thuế XK, thuế NK.

- Phân tích đánh giá thực trạng thu thuế XK, thuế NK trên địa bàn tỉnh Ninh Bình, rút ra những thành công, hạn chế và nguyên nhân.

- Đề xuất những giải pháp và kiến nghị cơ bản nhằm hoàn thiện thu thuế XK, thuế NK hiệu quả trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.



4. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu của luận văn

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu về thu thuế XK, thuế NK trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.



4.2. Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu của đề tài là thu thuế XK, thuế NK trên địa bàn tỉnh Ninh Bình từ năm 2006 - 2011.



5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn

5.1. Cơ sở lý luận: Đề tài thực hiện dựa trên cơ sở duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng, nhà nước về quản lý nhà nước về Thuế và Hải quan.

5.2. Phương pháp nghiên cứu: Đề tài sử dụng đồng bộ các phương pháp tổng hợp, thống kê, so sánh, phân tích. Lý luận kết hợp với thực tiễn để nghiên cứu, gắn nghiên cứu lý luận với tổng kết thực tiễn, bám sát quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước. Đồng thời tham khảo có chọn lọc, kế thừa các công trình khoa học đã công bố của các tác giả có liên quan đến đề tài.

6. Những đóng góp khoa học của luận văn

- Tìm hiểu kinh nghiệm thu thuế XK, thuế NK của một số tỉnh trong nước và rút ra bài học kinh nghiệm trong thu thuế XK, thuế NK cho tỉnh Ninh Bình.

- Đánh giá toàn diện thực trạng thu thuế XK, thuế NK trên địa bàn tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2006 - 2011.

- Nêu lên những quan điểm cơ bản cần quán triệt trong thu thuế XK, thuế NK hiện nay

- Đề xuất các giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm hoàn thiện thu thuế XK, thuế NK hiệu quả trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn được kết cấu gồm 3 chương, 8 tiết.



Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu.

Chương 2: Thực trạng về thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.

Chương 3: Phương hướng, giải pháp cơ bản và kiến nghị nhằm hoàn thiện thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu hiệu quả trên địa bàn tỉnh Ninh Bình.


Chương 1

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

VỀ THU THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU
1.1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU THUẾ XUẤT KHẨU, THUẾ NHẬP KHẨU

1.1.1. Thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

1.1.1.1. Khái niệm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Cho đến thời điểm hiện nay, chưa có một khái niệm đồng nhất về thuế XK, thuế NK.

Thuế XK, thuế NK thường có tên gọi chung là thuế quan (Custom duty). Đây là loại thuế mà các nước dùng để đánh vào hàng hóa xuất nhập khẩu tại cửa khẩu nhằm huy động nguồn thu cho ngân sách Nhà nước (NSNN), bảo hộ sản xuất và can thiệp vào quá trình hoạt động ngoại thương, buôn bán trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia.

Giáo trình thuế của Học viện Tài chính định nghĩa: Thuế XK, thuế NK là sắc thuế đánh vào hàng hoá XK, NK theo quy định của pháp luật Việt Nam [33, tr 104]

Theo từ điển Kinh tế học (Anh - Việt giải thích): “Thuế nhập khẩu (Impoprt duty) là khoản thuế mà Chính phủ đánh vào sản phẩm nhập khẩu. Thuế nhập khẩu được sử dụng để tăng nguồn thu cho Chính phủ và bảo vệ các ngành sản xuất trong nước khỏi sự cạnh tranh của nước ngoài” [46, tr 439].

Trên cơ sở nghiên cứu sự ra đời của thuế XK, thuế NK cùng như các quan niệm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu ở các góc độ nghiên cứu khác nhau, có thể hiểu khái niệm chung về thuế XK, thuế NK như sau: Thuế XK, thuế NK là một phần thu nhập được tạo ra từ các hoạt động XK, NK hàng hoá mà các tổ chức, cá nhân có nghĩa vụ phải đóng góp cho Nhà nước theo quy định của Pháp luật thuế XK, thuế NK nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước.



1.1.1.2. Đặc điểm thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Từ khái niệm về thuế XK, thuế NK cho thấy, thuế XK, thuế NK cũng có những đặc điểm của thuế nói chung đó là:



Thứ nhất, thuế mang tính quyền lực Nhà nước. Nhà nước là người duy nhất có quyền đặt ra thuế XK, thuế NK qua đó để kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá và bảo hộ nền sản xuất trong nước, đồng thời để tạo nguồn thu cho NSNN.

Thứ hai, thuế mang tính pháp lý cao. Thuế là khoản đóng góp bắt buộc cho Nhà nước mà không có sự bồi hoàn trực tiếp nào, việc nộp thuế được thể chế bằng pháp luật mà mọi pháp nhân và thể nhân phải tuân theo.

Thứ ba, thuế chứa đựng các yếu tố KT - XH. Điều này được thể hiện ở chỗ thuế XK, thuế NK là một phần của cải của xã hội, mức huy động thuế XK, thuế NK vào ngân sách Nhà nước phụ thuộc vào mức tăng trưởng kinh tế của đất nước, nhu cầu chi tiêu của Nhà nước và các mục tiêu KT - XH của đất nước đặt ra trong mỗi thời kỳ.

Ngoài những đặc điểm chung, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu còn có đặc điểm riêng là:

- Thuế XK, thuế NK chỉ đánh vào hàng hoá được phép XK, NK qua biên giới của một nước, kể cả hàng hoá được đưa từ thị trường trong nước vào khu phi thuế quan và từ khu phi thuế quan đưa vào tiêu thụ trong nước.

- Thuế XK, thuế NK là một loại thuế gián thu. Nhà nước sử dụng thuế XK, thuế NK để điều chỉnh hoạt động ngoại thương thông qua việc tác động vào cơ cấu giá cả của hàng hóa XK, NK. Vì vậy, thuế XK, thuế NK là một yếu tố cấu thành trong giá cả hàng hóa XK, NK, người nộp thuế là người thực hiện hoạt động XK, NK hàng hóa; người chịu thuế là người tiêu dùng hàng hóa XK, NK. Nhà nước thu thuế XK, thuế NK của người tiêu dùng gián tiếp thông qua người cung cấp hàng hóa XK, NK.



1.1.1.3. Vai trò của thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Một là, nó tạo nguồn thu cho NSNN. Thuế XK, thuế NK là một nguồn thu quan trọng của NSNN. Thông qua thuế XK, thuế NK Nhà nước huy động một phần thu nhập được tạo ra từ hoạt động XK, NK hàng hoá để tập trung vào ngân sách. Tùy thuộc vào từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử khác nhau, sự phát triển kinh tế đối ngoại và quan điểm sử dụng mà thuế XK, thuế NK có vai trò khác nhau ở những quốc gia khác nhau trong việc tạo lập nguồn thu cho NSNN. Đối với các nước phát triển, số thu từ thuế XK, thuế NK chiếm một tỷ trọng không đáng kể trong tổng thu NSNN. Còn ở các nước đang phát triển, thuế XK, thuế NK luôn chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng thu ngân sách. Ở Việt Nam trong những năm qua, thuế XK, thuế NK chiếm khoảng 25 - 30% trong tổng thu về thuế. Tuy nhiên, kể từ khi thực hiện chủ trương cải cách thuế bước II và thực hiện các cam kết cắt giảm thuế: Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), Liên minh Châu ÂU (EU)... nguồn thu về thuế XK, thuế NK giảm dần trong tổng thu về thuế.

Tuy nhiên để thực sự phát huy vai trò tạo nguồn thu NSNN, thuế XK, thuế NK phải bao quát hết các hoạt động kinh doanh XK, NK hàng hoá của các tổ chức, cá nhân, đảm bảo thu đúng, thu đủ và nộp kịp thời tiền thuế XK, thuế NK vào NSNN.



Hai là, góp phần để Nhà nước kiểm soát và điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá: Trong nền kinh tế thị trường hoạt động trao đổi, mua bán hàng hoá diễn ra ở hầu khắp các nước, dưới nhiều hình thức đa dạng về chủng loại hàng hoá, có hàng hoá phục vụ an ninh quốc phòng, có hàng hoá phục vụ nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, có loại hàng hoá xâm hại đến chủ quyền an ninh quốc gia, đời sống nhân dân như ma tuý, vũ khí, văn hoá phẩm đồi truỵ … Thông qua việc kiểm tra hàng hóa và thu thuế đối với hàng hoá XK, NK các cơ quan chức năng nắm được thực trạng hàng hoá XK, NK: loại hàng gì ? số lượng bao nhiêu ? XK đi nước nào ?,... qua đó Nhà nước kiểm soát được toàn bộ các loại hàng hoá XK, NK, để có những điều chỉnh chính sách đối với hàng hoá XK, NK phù hợp thực tiễn.

Để điều tiết hoạt động XK, NK hàng hoá ngoài các biện pháp phi thuế quan như hạn ngạch, giấy phép, cấp phép tự động,… thì biện pháp sử dụng công cụ thuế XK, thuế NK được các nước áp dụng một cách phổ biến. Thông qua công cụ thuế XK, thuế NK, Nhà nước khuyến khích hay hạn chế hoạt động XK, NK đối với từng loại hàng hoá chẳng hạn: để khuyến khích XK sản phẩm hoàn chỉnh, Nhà nước quy định thuế suất thuế XK cao đối với nguyên liệu thô, sản phẩm chưa qua chế biến nhằm hạn chế XK những nguyên liệu và sản phẩm này. Đối với nguyên liệu NK cần cho sản xuất nội địa mà trong nước chưa sản xuất được hoặc đã sản xuất được nhưng chưa đủ đáp ứng được nhu cầu thì Nhà nước quy định mức thuế NK thấp thậm chí bằng 0% để khuyến khích NK cho phát triển sản xuất trong nước. Đối với những sản phẩm mà đã được sản xuất trong nước và đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng nội địa hoặc những sản phẩm tiêu dùng cao cấp (ô tô, điều hoà…), thuế suất thuế NK thường được quy định ở mức thuế cao để hạn chế NK và hạn chế tiêu dùng. Như vậy, thông qua công cụ thuế XK, thuế NK, Nhà nước thực hiện điều tiết đối với hoạt động XK, NK hàng hoá.



Ba là, bảo hộ sản xuất trong nước. Thuế XK, thuế NK mà đặc biệt là thuế NK tác động trực tiếp vào giá cả hàng hoá NK trên thị trường, vì vậy thuế XK, thuế NK là một trong những công cụ của Nhà nước để bảo hộ sản xuất trong nước. Đối với những hàng hoá NK là những sản phẩm mà trong nước đã sản xuất được hoặc những mặt hàng cần bảo hộ, Nhà nước đánh thuế NK cao sẽ hạn chế tiêu dùng hàng NK, khuyến khích tiêu dùng sản phẩm trong nước. Nhờ đó, hàng sản xuất trong nước sẽ có điều kiện cạnh tranh so với hàng NK nhờ giá bán sản phẩm thấp hơn. Mặt khác, khi đánh thuế NK hàng hóa thấp, tức là Nhà nước không hạn chế NK mặt hàng NK đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp (DN) trong nước cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, kiện toàn tổ chức, cải tiến mẫu mã, hạ giá thành sản phẩm để nâng cao khả năng cạnh tranh với hàng ngoại nhập. Đối với hàng hoá là đầu vào của các ngành sản xuất trong nước, hàng là máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất trong nước, việc đánh thuế NK thấp sẽ góp phần giảm giá thành sản phẩm, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá sản xuất trong nước. Như vậy, thông qua công cụ thuế XK, thuế NK Nhà nước thể hiện quan điểm bảo hộ sản xuất trong nước, định hướng tiêu dùng và thu hút đầu tư. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập kinh tế, các cam kết quốc tế về cắt giảm thuế NK được thực hiện thì vai trò bảo hộ của thuế NK phần nào bị hạn chế. Bên cạnh đó, việc quá nhấn mạnh đến vai trò bảo hộ của thuế NK sẽ làm cho nền sản xuất trong nước trở nên trì trệ kém phát triển do sự ỷ lại của các DN trong nước vào sự bảo hộ của Nhà nước. Vì vậy, để phát huy tốt vai trò bảo hộ của thuế NK buộc phải có sự lựa chọn những ngành nghề phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước, đồng thời buộc các ngành được bảo hộ phải có chiến lược đầu tư đổi mới công nghệ, cải tiến phương thức quản lý để nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành, chủ động trong cạnh tranh với hàng NK khi hết thời hạn bảo hộ.

Bốn là, khẳng định chủ quyền quốc gia và chống phân biệt đối xử trong thương mại quốc tế. Vai trò này của công cụ thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu được thể hiện ở chỗ, bất kể một loại hàng hoá nào khi nhập khẩu vào Việt Nam đều phải khai báo, xuất trình để kiểm tra và nộp thuế (nếu có), mọi hành động phân biệt đối xử của nước ngoài đối với hàng hoá của Việt Nam nếu làm tổn hại đến nền sản xuất trong nước thì đều phải chịu các biện pháp trả đũa thông qua việc áp dụng chính sách thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu bổ sung, thuế chống bán phá giá… Nhưng để làm được điều này trong nền kinh tế của Việt Nam hiện nay quả thật rất khó.

Trong nền cơ chế thị trường, với sự trao đổi giao lưu kinh tế ngày càng mở rộng, vai trò của thuế XK, thuế NK trở nên vô cùng quan trọng được thể hiện trên các mặt sau đây:



Thứ nhất về tài chính: Thuế XK, thuế NK là một nguồn thu lớn trong tổng thu NSNN. Hoạt động XK, NK phát triển càng mạnh thì số thuế thu được càng nhiều. Trong điều kiện kinh tế thị trường các hình thức XK, NK ngày càng phong phú đa dạng, do vậy thuế XK, thuế NK luôn được coi là một nguồn thu lớn trong tổng thu NSNN.

Thứ hai về kinh tế: Thuế XK, thuế NK là công cụ góp phần quản lý điều tiết vĩ mô hoạt động XK, NK, vừa kích thích định hướng hoạt động XK, NK, vừa hướng dẫn tiêu dùng. Thông qua chính sách thuế suất thích hợp đối với từng loại hàng hoá XK, NK, Nhà nước có thể thực hiện việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế cho phù hợp với đường lối phát triển từng giai đoạn nhất định.

Thứ ba về mặt xã hội: Thuế XK, thuế NK góp phần thực hiện công bằng và bình đẳng xã hội, góp phần thực hiện chính sách đối ngoại của Đảng, Nhà nước và tạo điều kiện mở cửa nền kinh tế.

1.1.2. Thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

1.1.2.1. Khái niệm thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Theo Điều 11 Luật Hải quan (đã được sửa đổi bổ sung) [37], Điều 27 Luật Thuế XK, thuế NK [38] và Điều 2 Luật Quản lý thuế [39] thì cơ quan hải quan có nhiệm vụ tổ chức thực hiện pháp luật về thuế đối với hàng hoá XK, NK; kiểm tra và thu thuế XK, thuế NK.



Thu thuế XK, thuế NK là kết quả của một chuỗi công việc bao gồm kiểm tra hồ sơ khai thuế, các chứng từ liên quan và việc kiểm tra thực tế hàng hoá, phương tiện vận tải (nếu có)… do cơ quan thuế thực hiện để xác định đúng số thuế đối tượng nộp thuế phải nộp và chuyển số thuế đó vào ngân sách Nhà nước đúng quy định.

Do việc xác định số thuế phải thu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như cơ chế chính sách, chủng loại của hàng hoá, trình độ của công chức, trang thiết bị kỹ thuật, thái độ tuân thủ pháp luật về thuế của đối tượng nộp thuế,… nên có thể thu đúng, cũng có thể thu thiếu, thu thừa hoặc bỏ sót thuế.



1.1.2.2. Phương pháp thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Người nộp thuế nộp tiền thuế đối với hàng hoá XK, NK trực tiếp vào Kho bạc Nhà nước (KBNN) hoặc thông qua Ngân hàng thương mại, Tổ chức tín dụng và Tổ chức dịch vụ khác theo quy định tại khoản 13, Điều 1, Nghị định số 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 của Chính phủ.

- Trường hợp người nộp thuế nộp bằng tiền mặt nhưng KBNN không tổ chức điểm thu tại địa điểm làm thủ tục hải quan, cơ quan hải quan nơi đăng ký tờ khai hải quan thực hiện thu số tiền thuế do người nộp thuế nộp và chuyển toàn bộ số tiền thuế đã thu vào KBNN theo quy định.

- Trường hợp tại thời điểm đăng ký tờ khai hải quan, người nộp thuế có nợ tiền thuế, nợ tiền phạt tại các cơ quan hải quan khác và muốn nộp ngay số tiền nợ đó tại cơ quan hải quan nơi đang làm thủ tục hải quan thì người nộp thuế tự khai báo và nộp tiền tại điểm thu của KBNN hoặc nộp cho cơ quan hải quan nơi làm thủ tục nếu KBNN không bố trí điểm thu.

- Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng thương mại, Tổ chức tín dụng và Tổ chức dịch vụ khác có trách nhiệm cấp giấy nộp tiền vào NSNN cho người nộp thuế theo mẫu quy định của Bộ Tài chính.

Cơ quan hải quan có trách nhiệm cấp biên lai thu cho người nộp thuế theo mẫu quy định của Bộ Tài chính trong trường hợp thu thuế bằng tiền mặt. Trường hợp thu hộ tiền thuế, Chi cục Hải quan nơi thu hộ có trách nhiệm Fax biên lai thu thuế cho Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp nợ thuế để Chi cục Hải quan nơi doanh nghiệp nợ thuế có văn bản nhờ thu hộ và xử lý theo quy định.

- Trong thời hạn 8 giờ làm việc, kể từ khi thu tiền thuế của người nộp thuế, KBNN, Ngân hàng thương mại, Tổ chức tín dụng và Tổ chức dịch vụ khác, Cơ quan hải quan phải thực hiện chuyển số tiền thuế đã thu của người nộp thuế vào tài khoản tiền gửi của cơ quan hải quan tại KBNN đối với số tiền thuế của nguyên liệu NK để sản xuất hàng XK, hoặc nộp vào NSNN đối với các trường hợp khác.

Trường hợp thu thuế bằng tiền mặt tại vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng đi lại khó khăn thì thời hạn nêu trên là năm ngày làm việc, kể từ khi thu tiền thuế của người nộp thuế.

Đối với số tiền thuế đã nộp vào tài khoản tiền gửi của cơ quan hải quan tại Kho bạc Nhà nước, quá 135 (một trăm ba mươi lăm) ngày kể từ ngày đã thực hiện nộp thuế nhưng người nộp thuế chưa nộp hồ sơ thanh khoản, thì cơ quan hải quan làm thủ tục chuyển tiền vào NSNN theo quy định.

1.1.2.3. Quy trình thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Nói chung quy trình thu thuế có thể chia làm hai cơ chế cơ bản như sau:

- Cơ quan hải quan tính thuế và ra thông báo số thuế phải nộp. Đây là một quy trình nộp thuế truyền thống. Định kì theo thời gian hoặc theo chuyến hàng, trên cơ sở những quy định trong luật thuế và các hoạt động sản xuất kinh doanh, các đối tượng nộp thuế phải kê khai thuế và nộp tờ khai thuế cho cơ quan hải quan.

- Đối tượng nộp thuế phải tự kê khai, tự tính thuế và nộp thuế. Cơ chế này hoạt động khá hiệu quả nếu có sự giám sát và hướng dẫn một cách chặt chẽ. Số thuế phải nộp căn cứ vào thông báo nộp thuế của các cơ quan hải quan. Cơ quan hải quan có trách nhiệm kiểm tra sự chính xác trong kê khai và tính thuế của đối tượng nộp thuế, trên cơ sở đó phát hành thông báo thuế.

Theo cơ chế này, người nộp thuế XK, thuế NK có trách nhiệm kê khai thuế ngay trên tờ khai hải quan và nộp tờ khai hải quan cho cơ quan hải quan. Việc kê khai thuế phải đầy đủ, chính xác, minh bạch. Người nộp thuế chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung kê khai [38, tr 12]

Tại thời điểm tính thuế XK, thuế NK là thời điểm người nộp thuế đăng ký tờ khai hải quan. Thuế XK, thuế NK được tính theo thuế suất, giá tính thuế, tỷ giá tính thuế tại thời điểm tính thuế.

Thời hạn nộp thuế: đối với hàng hoá XK thì thời hạn nộp thuế là 30 ngày kể từ ngày người nộp thuế đăng ký tờ khai hải quan; đối với hàng hoá NK có nhiều thời hạn nộp thuế khác nhau tuỳ thuộc vào mặt hàng nhập khẩu, người nộp thuế (chấp hành tốt pháp luật về thuế hay không chấp hành tốt pháp luật về thuế). Việc này được quy định cụ thể tại Điều 18, Thông tư 194/2010/TT-BTC ngày 06/12/2010 của Bộ Tài chính [09, tr 24].

Khi thu thuế của người nộp thuế, cơ quan thu thuế sẽ cấp biên lai thu thuế cho người nộp thuế. Cơ quan hải quan căn cứ vào biên lai nộp thuế để xoá nợ thuế cho người nộp thuế trên hệ thống kế toán thuế của cơ quan hải quan. Nếu người nộp thuế không nộp thuế đúng thời hạn cơ quan hải quan xử phạt chậm nộp thuế 0,05%/ngày theo quy định tại Nghị định 97/2007/NĐ-CP ngày 07/06/2007 của Chính phủ [17].



1.1.2.4. Các nhân tố ảnh hưởng đến thu thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Thu thuế XK, thuế NK chịu ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố, nhưng có thể khái quát ở những nhân tố cơ bản sau đây:



Nhân tố chủ quan: Các nhân tố nội tại này góp phần tạo nên hiệu quả trong thu thuế XK, thuế NK; tác động trực tiếp đến sự tồn tại và phát triển của mỗi cơ quan hải quan. Về cơ bản thu thuế XK, thuế NK đều chịu tác động của những nhân tố chủ quan sau:

Thứ nhất: Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ hải quan

Con người luôn đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng và thực thi chính sách. Trình độ, năng lực của cán bộ hải quan không chỉ ảnh hưởng đến việc tham mưu, xây dựng và hoạch định chính sách thuế quyết định hiệu quả thực hiện chính sách thuế. Trong thời đại ngày nay, việc xây dựng chính sách thuế không những phải đảm bảo phù hợp với cam kết quốc tế mà còn phải phù hợp với điều kiện trong nước. Cán bộ thu thuế XK, thuế NK vừa là người tiếp xúc trực tiếp với đối tượng nộp thuế (những người có nhiều thủ đoạn trốn thuế) vừa phải triển khai thực hiện các nội dung của chính sách thuế XK, thuế NK, phải giải quyết trực tiếp các vướng mắc của đối tượng nộp thuế. Chính vì thế, đội ngũ cán bộ nếu không có phẩm chất đạo đức tốt, trình độ chuyên môn cao thì mọi chính sách dù có tốt đến đâu cũng bị vô hiệu hoá và chính sách ban hành sẽ không phát huy được tác dụng, bị lợi dụng, trốn thuế gây thất thu cho ngân sách Nhà nước. Bên cạnh đó, việc xây dựng, thực thi chính sách còn phụ thuộc vào trình độ của đối tượng nộp thuế (ĐTNT). Nếu chính sách ban hành không phù hợp với trình độ của đối tượng nộp thuế thì chính sách không thể đi vào cuộc sống.



Thứ hai: Tổ chức và giám sát thực hiện quy trình, thủ tục hải quan

Cơ quan hải quan là nơi triển khai các quy trình, thủ tục hải quan cho hàng hoá XK, NK. Do vậy, công tác thu thuế XK, thuế NK luôn phải hướng tớí đổi mới trong việc tổ chức thực hiện và có sự giám sát chặt chẽ, thường xuyên để tạo nên sự thuận lợi cho DN làm thủ tục hải quan, hạn chế tối đa tình trạng gian lận thuế XK, thuế NK.

Đồng thời, cơ quan hải quan phải tổ chức thực hiện sao cho thủ tục hành chính ít cửa nhất, ít giấy tờ nhất, rút ngắn thời gian làm thủ tục và thông quan hàng hoá, chi phí làm thủ tục hải quan thấp nhất, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho doanh nghiệp trong hoạt động thương mại. Hiện nay, ngành Hải quan đã áp dụng hình thức người khai hải quan phải tự khai báo, tính thuế và tự chịu trách nhiệm pháp lý đã góp phần rút ngắn thời gian thông quan hàng hoá quy trình, thủ tục hải quan.

Thứ ba: Mức độ trang bị phương tiện kỹ thuật của cơ quan hải quan

Mức độ trang bị phương tiện kỹ thuật của cơ quan hải quan ảnh hưởng lớn đến hoạt động thu thuế XK, thuế NK của cán bộ hải quan. Do vậy, yêu cầu đối với phương tiện kỹ thuật của cán bộ hải quan hiện nay là nâng cao tính năng, tác dụng của trang thiết bị kỹ thuật trong giám sát, kiểm tra hải quan; Tăng cường trang thiết bị phục vụ cho việc kiểm tra hàng hoá XK, NK, hành lý của khách xuất nhập cảnh phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng địa bàn; Trang bị kỹ thuật đầy đủ cho cán bộ kiểm hoá; Trang bị đồng bộ máy soi hiện đại, quy trình nghiệp vụ hoàn chỉnh cho các điểm thông quan; Hiện đại hóa các trang thiết bị phục vụ hoạt động kiểm soát chống buôn lậu, buôn bán hàng cấm và các loại tội phạm mới.

Tin học hoá: Hoàn thiện hệ thống máy tính nối mạng trong cơ quan hải quan và giữa cơ quan hải quan với các cơ quan liên quan; Xây dựng trung tâm tự động hoá có hệ thống trang thiết bị máy tính và các thiết bị phụ trợ có khả năng tiếp nhận và xử lý giao dịch điện tử phát sinh từ khâu tiếp nhận lược khai, khai báo hải quan, tính thuế, thu thuế, giải phóng hàng, giám sát cảng và kho; Tin học hóa hỗ trợ cải cách thủ tục hải quan với môi trường không giấy tờ.

Tự động hoá: Thực hiện tự động hóa thủ tục hải quan ở tất cả các địa bàn trọng điểm, ở các cửa khẩu. Phấn đấu tự động hóa quy trình thủ tục hải quan đối với 95% lượng hàng hóa XK, NK trên địa bàn cả nước. Tự động hóa công tác kiểm tra giám sát hải quan. Tăng nhanh khả năng thông quan hàng hóa.

Về khai hải quan: khai hải quan được chủ yếu thực hiện qua mạng tin học. Người làm thủ tục hải quan chủ yếu là các đại lý làm thủ tục hải quan.

Giám sát hải quan: chủ yếu thực hiện thông qua thiết bị kỹ thuật hiện đại như: camera; hệ thống định vị toàn cầu...



Thứ tư: Sự phối hợp với các cơ quan, tổ chức có liên quan

Thu thuế XK, thuế NK liên quan đến nhiều lĩnh vực nên ngoài việc phối hợp trong nội bộ ngành đòi hỏi phải có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng như: Thuế, Kho bạc, Ngân hàng, Tài chính, Công an, các Hiệp hội ngành nghề... Mối liên hệ khăng khít giữa cơ quan hải quan với các cơ quan, tổ chức này tạo nên sự ràng buộc không thể thiếu trong thu thuế XK, thuế NK. Ngoài ra, sự phối hợp này không chỉ nằm trong biên giới quốc gia mà phải kể đến Hải quan các nước, Tổ chức Hải quan Thế giới (WCO)... nhằm trao đổi thông tin nghiệp vụ, học tập kinh nghiệm và hỗ trợ lẫn nhau trong thương mại quốc tế.

Như vậy, các nhân tố đã nêu trên sẽ là những nhân tố chủ yếu quyết định đến sự thành công của cơ quan hải quan trong việc đạt mục tiêu tạo một môi trường thuế minh bạch, lành mạnh.

Nhân tố khách quan: Đây là những nhân tố được coi là mang tính khách quan ở tầm vĩ mô thuộc về cơ chế, chính sách của Nhà nước có liên quan tới hoạt động thu thuế XK, thuế NK của cơ quan hải quan.

Thứ nhất: Hệ thống thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu của quốc gia

Hệ thống thuế XK, thuế NK là tổng hợp các văn bản pháp luật quy định về các sắc thuế khác nhau mà giữa chúng có mối liên hệ mật thiết với nhau nhằm vào hàng hoá XK, NK và hệ thống cơ quan thu thuế XK, thuế NK (Tổng cục Hải quan, Cục Hải quan tỉnh, thành phố; Chi cục Hải quan trực thuộc Cục Hải quan tỉnh, thành phố)

Hệ thống thuế XK, thuế NK của quốc gia phải trải qua thời gian và nhiều lần cải cách thì mới hoàn thiện, đầy đủ và đảm bảo những nguyên tắc của hệ thống thuế XK, thuế NK tối ưu, thực hiện những mục tiêu mà Nhà nước đặt ra. Đi cùng với quá trình đổi mới hệ thống thuế XK, thuế NK, hoạt động quản lý của cơ quan Hải quan cũng cần được cải tiến cho phù hợp với yêu cầu của WCO và tiến trình tự do hoá thương mại trên thế giới.

Thứ hai: Chính sách bảo hộ sản xuất trong nước

Chính sách bảo hộ là những biện pháp của Chính phủ nhằm bảo vệ các nhà sản xuất trong nước trước sự cạnh tranh với nước ngoài. Mục tiêu bảo hộ giữa các quốc gia là rất đa dạng. Đối với các nước phát triển thì mục tiêu chính của việc bảo hộ là nhằm duy trì việc làm cho những nhóm lớn người lao động có kỹ năng tương đối thấp. Trong khi đó, đối với các nước có trình độ phát triển trung bình và thấp, gặp khó khăn trong cạnh tranh trên thị trường quốc tế cũng như nội địa mà nguyên nhân sâu xa là thiếu vốn, nhân lực, quản lý không hiệu quả... Chính sách bảo hộ nhằm mục tiêu duy trì và phát triển một số ngành sản xuất quan trọng và có nhiều tiềm năng trở thành ngành cạnh tranh trong tương lai. Chẳng hạn, Malaysia bảo hộ ngành sản xuất ô tô; Thái Lan duy trì bảo hộ ở mức cao một số ngành điện tử, cơ khí, đường; Trung Quốc lại theo đuổi mục tiêu bảo hộ sản xuất ô tô, thép, thuốc lá...

Một lý do riêng đối với việc bảo hộ của các nước đang phát triển và chậm phát triển là việc các nước này phải thường xuyên duy trì cán cân thanh toán có lợi và cải thiện nguồn ngân sách. Các nước đang phát triển và chậm phát triển thường bị thâm hụt cán cân thanh toán, nguồn ngân sách hạn hẹp, để tránh tình trạng này các quốc gia có thể áp dụng nhiều hình thức bảo hộ khác nhau nhằm phát triển những ngành hàng thay thế NK hoặc hướng về XK, hạn chế NK những mặt hàng không cần thiết từ đó hạn chế chi ngoại tệ cho ngân sách thông qua XK, NK như: Hàng rào thuế quan (Tariff Barriers); Hàng rào phi thuế quan (Non-Tariff Barriers)

Hàng rào thuế quan: Đây là biện pháp mà Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cho phép sử dụng để bảo hộ thị trường trong nước nhưng phải cam kết ràng buộc với một mức thuế trần nhất định và có lịch trình cắt giảm. Sự tự do hoá biểu hiện thông qua các chính sách về quy chế tối huệ quốc, chế độ thuế quan ưu đãi phổ cập, hiệp định thuế quan ưu đãi có hiệu lực chung của các khối liên kết kinh tế như Liên minh Châu Âu (EU), Khu vực mậu dịch tự do ASEAN- Trung Quốc (ACFTA), Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á- Thái bình Dương (APEC)... Các biện pháp thuế quan thường được áp dụng để bảo hộ sản xuất trong nước là: Thuế nhập khẩu, thuế chống bán phá giá, thuế chống trợ cấp, thuế tự vệ thương mại, hạn ngạch thuế quan. Hiện nay, số lượng hạn ngạch thuế quan được các nước thuộc WTO sử dụng lên đến 1.425 và số thành viên sử dụng là 43 nước (Phụ lục số 1, 2).

Hàng rào phi thuế quan: Các biện pháp phi thuế quan cũng được áp dụng để hạn chế NK trong những trường hợp cần thiết để đảm bảo an ninh quốc gia, văn hoá truyền thống, môi trường, sức khoẻ con người... Có thể phân chia thành các nhóm lớn sau:

+ Các biện pháp hạn chế định lượng như: cấm XK, NK; hạn ngạch; giấy phép.

+ Các biện pháp quản lý giá như: trị giá hải quan bao gồm trị giá giao dịch của hàng NK tương tự, trị giá tính thuế theo trị giá khấu trừ, trị giá tính thuế theo trị giá tính toán, hay xác định theo phương pháp suy luận.

+ Các biện pháp liên quan đến DN: DN thương mại nhà nước; quyền kinh doanh

+ Các biện pháp kỹ thuật: các quy định kỹ thuật, tiêu chuẩn và thủ tục xác định sự phù hợp; kiểm dịch động vật và thực vật.

+ Các biện pháp thương mại tạm thời như: trợ cấp và các biện pháp đối kháng bao gồm trợ cấp đèn đỏ, trợ cấp đèn vàng, trợ cấp đèn xanh; quy định về chống bán phá.

+ Các biện pháp liên quan đến đầu tư như: tỷ lệ nội địa hoá; hạn chế tiếp cận ngoại tệ; yêu cầu XK, ưu đãi gắn với thành tích XK ...

+ Các biện pháp khác như: yêu cầu đảm bảo thanh toán; yêu cầu nối; thủ tục hành chính; thủ tục Hải quan; mua sắm Chính phủ; quy tắc xuất xứ ...

Hàng rào thuế quan và phi thuế quan là hai công cụ bảo hộ sản xuất quan trọng đối với mọi quốc gia. Do mỗi công cụ đều có điểm mạnh, điểm yếu đặc thù nên chúng thường được sử dụng để bổ sung lẫn nhau nhằm bảo hộ sản xuất trong nước. Mức độ hiệu quả của bảo hộ có tăng lên nhiều hay không phụ thuộc vào tính linh hoạt, có chọn lọc, có định hướng của Chính phủ các nước trong việc áp dụng các biện pháp phi thuế quan để bổ trợ cho biện pháp thuế quan.

Thứ ba: Các hiệp định, cam kết quốc tế

Trong xu hướng toàn cầu hoá và hội nhập kinh tế quốc tế thì không có quốc gia nào có thể tách riêng độc lập trong thương mại quốc tế. Thu thuế XK, thuế NK của mỗi quốc gia cũng gián tiếp chịu ảnh hưởng của quá trình hội nhập này. Hệ thống thuế quan chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quy định, luật lệ, cam kết quốc tế mà quốc gia đó là thành viên. Theo phạm vi tác động có thể chia ra ba nhóm tác động như sau:

+ Ảnh hưởng của các hiệp định, cam kết chung (hiệp định, cam kết của WTO tới hệ thống thuế quan của một nước). Hiện nay WTO đã có hơn 150 thành viên nên việc điều chỉnh thuế quan của một quốc gia sẽ ảnh hưởng tới nhiều quốc gia khác. Hải quan Việt Nam cũng là thành viên của WCO nên phải tuân thủ những hiệp định, cam kết đã ký kết.

+ Ảnh hưởng của các hiệp định, cam kết khu vực, liên kết kinh tế tới hệ thống thuế quan của một quốc gia. Do phạm vi tác động của các hiệp định, cam kết chỉ giới hạn trong phạm vi các nước tham gia liên kết kinh tế, nên việc xây dựng hệ thống thuế quan của một nước sẽ chịu ảnh hưởng chủ yếu bởi các yếu tố trong khu vực.

+ Ảnh hưởng của các hiệp định, cam kết song phương tới hệ thống thuế quan của quốc gia đó. Do phạm vi tác động của nó chỉ diễn ra giữa hai quốc gia nên việc xây dựng hệ thống thuế quan thường chú trọng vào việc đảm bảo hài hoà lợi ích quốc gia với lợi ích của đối tác. Việc điều chỉnh thuế quan nhiều khi cũng chỉ diễn ra ở một số ngành, lĩnh vực mà cả hai cùng quan tâm.

Tóm lại, hệ thống thuế XK, thuế NK hay chính sách bảo hộ sản xuất của một quốc gia sẽ ảnh hưởng gián tiếp đến thu thuế XK, thuế NK của cơ quan hải quan.




  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương