Luận văn Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính



tải về 0.95 Mb.
trang1/6
Chuyển đổi dữ liệu14.07.2016
Kích0.95 Mb.
  1   2   3   4   5   6
Luận văn

Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005-2010

LỜI CẢM ƠN

Trong quá trình học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông nghiệp – Hà Nội, được sự nhiệt tình giảng dạy của các thầy, các cô trong trường nói chung và trong Khoa Tài nguyên và Môi trường nói riêng em đã được trang bị những kiến thức cơ bản về chuyên môn cũng như lối sống, tạo cho em hành trang vững chắc cho công tác sau này.

Xuất phát từ sự kính trọng và lòng biết ơn sâu sắc, em xin chân thành cám ơn các thầy cô. Đặc biệt để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, em còn được sự quan tâm giúp đỡ trực tiếp của Th.S Phan Văn Khuê và sự giúp đỡ của các thầy, cô trong khoa Tài nguyên và Môi trường cùng các cán bộ phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông Hưng – tỉnh Thái Bình.

Khóa luận chắc chắn sẽ không tránh khỏi những sai sót, em rất mong nhận được sự đóng góp chỉ bảo của các thầy, các cô và các bạn để bài khóa luận càng hoàn thiện hơn. Đây sẽ là kiến thức bổ ích cho công việc của em sau này.

Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy, các cô, các cán bộ Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông Hưng – tỉnh Thái Bình. Kính chúc các thầy, các cô và toàn thể các cô, chú tại Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện Đông Hưng luôn luôn mạnh khỏe hạnh phúc và đạt được nhiều thành công trong công tác cũng như trong cuộc sống.

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 1 tháng 5 năm 2012
SV. Nguyễn Thu Hoài

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GCNQSDĐ : Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

ĐKĐĐ : Đăng ký đất đai

HSĐC : Hồ sơ địa chính

UBND : Ủy ban nhân dân

HĐND : Hội đồng nhân dân

TCĐC : Tổng cục địa chính

KTXH : Kinh tế xã hội

VPĐKQSDĐ : Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa

NN : Nông nghiệp

BTNMT : Bộ Tài nguyên và Môi trường

CP : Chính phủ

PHẦN 1

ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1. Đặt vấn đề

Lịch sử nhân loại đã chứng minh rằng nền tảng cho sự sống và mọi hoạt động sản xuất của con người đều bắt nguồn từ đất đai. Đất đai là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ của mỗi quốc gia, là một tư liệu sản xuất đặc biệt, đất đai cung cấp nguồn nước cho sự sống, cung cấp nguồn nguyên vật liệu và khoáng sản, là không gian của sự sống đồng thời bảo tồn sự sống. Đất đai là địa bàn phân bố dân cư, xây dựng các công trình văn hoá xã hội, an ninh quốc phòng.

Trải qua nhiều thế hệ, cha ông ta đã tốn nhiều công sức và xương máu để tạo lập vốn đất đai như hiện nay. Để tiếp tục sự nghiệp khai thác và bảo vệ toàn bộ quỹ đất tốt hơn có hiệu quả hơn, Đảng và nhà nước ta đã ban hành các văn bản luật phục vụ cho công tác quản lý có hiệu quả.

Hiến pháp nước CHXHCN Việt Nam năm 1992 đã nêu: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý theo quy hoạch, kế hoạch và pháp luật đảm bảo sử dụng đất tiết kiệm, đúng mục đích và có hiệu quả”.

Luật đất đai 1987, 1993, luật sửa đổi bổ sung năm 1998, 2001, luật đất đai 2003 cùng với các văn bản hướng dẫn thi hành luật đất đai đang từng bước đi sâu vào thực tiễn.

Hiện nay nhu cầu sử dụng đất đai ngày càng tăng do dân số tăng, kinh tế phát triển đặc biệt là quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước đang diễn ra mạnh mẽ mà đất đai thì có hạn về diện tích. Chính những điều này làm cho việc phân bổ đất đai vào các mục đích khác nhau ngày càng trở lên khó khăn, các quan hệ đất đai càng thay đổi với tốc độ chóng mặt và ngày càng phức tạp.

Để khắc phục tình trạng nêu trên thì công tác đăng ký đất đai (ĐKĐĐ), cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) và lập hồ sơ địa chính (HSĐC) có vai trò hết sức quan trọng. ĐKĐĐ thực chất là thủ tục hành chính bắt buộc nhằm thiết lập một hệ thống hồ sơ địa chính đầy đủ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho chủ sử dụng đất hợp pháp, nhằm thiết lập mối quan hệ giữa Nhà nước và người sử dụng trên cơ sở đó Nhà nước nắm chắc và quản chặt toàn bộ đất đai theo pháp luật. Từ đó, chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng được bảo vệ và phát huy, đảm bảo đất đai được sử dụng đầy đủ, hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả. Mặt khác, nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho người dân sử dụng đất ổn định lâu dài đạt hiệu quả kinh tế cao nhất, điều đó góp phần ổn định kinh tế chính trị, xã hội, người dân yên tâm sản xuất đầu tư, tạo được niềm tin cho nhân dân vào đảng và nhà nước ta.

Trên thực tế hiện nay công tác này, ở một số địa phương, diễn ra rất chậm, hiệu quả công việc chưa cao, tình trạng quản lý lỏng lẻo, tài liệu chưa chính xác, việc mua bán chuyển nhượng đất đai diễn ra ngầm chưa thông qua cơ quan nhà nước, tình hình lấn chiếm, tranh chấp đất đai vẫn còn xảy ra nhiều.

Huyện Đông Hưng cũng không nằm ngoài thực tế chung đó. Mặc dù trong thời gian qua được sự quan tâm của các cấp, các ngành song công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và lập hồ sơ địa chính còn gặp nhiều hạn chế khó khăn do nhiều nguyên nhân tác động.

Từ thực tế cũng như nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của vấn đề, đồng thời được sự phân công của khoa Tài nguyên và Môi trường cùng sự hướng dẫn của thầy giáo – Th.S Phan Văn Khuê – Khoa Tài nguyên và Môi trường – trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005-2010”.

1.2. MỤC ĐÍCH, YÊU CẦU

1.2.1. Mục đích

- Đánh giá công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính của huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2005-2010 theo các văn bản pháp quy hiện hành.

- Trên cơ sở số liệu điều tra, phân tích đánh giá, xác định những thuận lợi, khó khăn để từ đó đưa ra một số giải pháp giúp địa phương thực hiện tốt công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập hồ sơ địa chính trong thời gian tới.

1.2.2. Yêu cầu

- Nắm vững quy trình pháp quy, các văn bản pháp quy liên quan đến công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập HSĐC để vận dụng vào quá trình phân tích đánh giá nội dung của đề tài.

- Số liệu điều tra, thu thập phục vụ nghiên cứu đề tài phải chính xác, khách quan, trung thực phản ánh đúng tình hình thực tế tại địa phương.

- Các kiến nghị, giải pháp đề xuất được rút ra từ kết quả nghiên cứu đề tài phải có tính khả thi, phù hợp với điều kiện của địa phương.



PHẦN 2

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA CÔNG TÁC ĐKĐĐ, CẤP GCNQSĐĐ, LẬP HỒ SƠ ĐỊA CHÍNH.

2.1.1. Lịch sử công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSĐĐ ở Việt Nam.



* Thời kì trước năm 1945

Ở Việt Nam, công tác đạc điền và quản lý điền địa được bắt đầu làm từ thế kỷ thứ VI trở lại đây và nổi bật nhất là:

- Thời kỳ Gia Long: Đất đai được quản lý bằng sổ địa bạ được lập cho từng xã phân biệt rõ đất công điền và đất tư điền. Và trong đó ghi rõ họ tên điền chủ, diện tích, tứ cận, đẳng hạng để tính thuế. Có 3 bộ được lưu ở 3 cấp: bản Giáp được lưu ở bộ Hộ, bản Bính ở dinh Bố Chánh, bản Đinh ở xã sở tại. Theo quy định, hàng năm thì tiểu tu, 5 năm thì phải đại tu một lần.

- Thời Minh Mạng: Sổ Địa bộ được lập tới từng làng xã tiến bộ hơn sổ thời Gia Long vì nó được lập trên cơ sở đạc điền với sự chứng kiến của các chức sắc giúp việc trong làng. Các viên chức trong làng lập sổ mô tả ghi các thửa đất, ruộng kèm theo sổ Địa bộ có ghi diện tích, loại đất. Quan Kinh Phái và viên Thơ Lại có nhiệm vụ ký xác nhận vào sổ mô tả. Quan phủ căn cứ vào đơn thỉnh cầu của điền chủ khi cần thừa kế, cho, bán hoặc từ bỏ quyền phải xem xét ngay tại chỗ sau đó trình lên quan Bố Chánh và ghi vào sổ Địa bộ.

- Thời kỳ Pháp thuộc: Thời kỳ này tồn tại nhiều chế độ điền địa khác nhau:

• Chế độ điền thổ tại Nam Kỳ: Pháp đã xây dựng được hệ thống bản đồ giải thửa được đo đạc chính xác và lập sổ điền thổ. Trong sổ điền thổ, mỗi trang sổ thể hiện cho một lô đất của mỗi chủ sử dụng trong đó ghi rõ: diện tích, nơi toạ đạc, giáp ranh và các vấn đề liên quan đến sở hữu và sử dụng.

• Chế độ quản thủ địa chính tại Trung Kỳ: đã tiến hành đo đạc bản đồ giải thửa, sổ địa bộ, sổ điền chủ, tài chủ bộ.

• Chế độ điền thổ và quản thủ địa chính tại Bắc Kỳ: Do đặc thù đất đai ở miền Bắc manh mún, phức tạp nên mới chỉ đo đạc được các lược đồ đơn giản và lập được hệ thống sổ địa chính. Sổ địa chính lập theo thứ tự thửa đất ghi diện tích, loại đất, tên chủ. Ngoài ra còn được lập các sổ sách khác như sổ điền chủ, sổ khai báo…



* Thời kỳ Mỹ Ngụy tạm chiếm miền Nam (1954 - 1975):

Thời kỳ này tồn tại hai chính sách ruộng đất: một chính sách ruộng đất của chính quyền cách mạng và một chính sách ruộng đất của chính quyền Ngụy.

- Tân chế độ điền thổ: Hệ thống hồ sơ được thiết lập theo chế độ này gồm: bản đồ dải thửa kế thừa từ thời Pháp; sổ điền thổ lập theo lô đất trong đó ghi rõ: diện tích, nơi toạ đạc, giáp ranh, biến động, tên chủ sở hữu; sổ mục lục lập theo tên chủ ghi số liệu tất cả các thửa đất của mỗi chủ. Hệ thống hồ sơ trên được lập thành hai bộ lưu tại Ty Điền địa và xã Sở tại.

- Chế độ quản thủ điền địa cũng tiếp tục được duy trì từ thời Pháp thuộc. Hệ thống hồ sơ gồm: sổ địa bộ được lập theo thứ tự thửa đất (mỗi trang sổ lập cho 5 thửa), sổ điền chủ lập theo chủ sử dụng (mỗi chủ một trang), sổ mục lục ghi tên chủ để tra cứu.

- Giai đoạn 1960 – 1975: Thiết lập Nha Tổng Địa. Nha này có 11 nhiệm vụ trong đó có 3 nhiệm vụ chính là: xây dựng tài liệu nghiên cứu, tổ chức và điều hành tam giác đạc, lập bản đồ và đo đạc thiết lập bản đồ sơ đồ và các văn kiện phụ thuộc.

* Quan hệ đất đai của nhà nước cách mạng Việt Nam (từ cách mạng tháng 8/1945 đến nay).

- Thời kỳ tháng 8/1945 – 1979: Sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 đặc biệt là sau cải cách ruộng đất năm 1957, Nhà nước đã tịch thu ruộng đất của địa chủ chia cho dân nghèo. Đến năm 1960 hưởng ứng phong trào hợp tác hoá sản xuất đại bộ phận nhân dân đã góp ruộng vào hợp tác xã làm cho hiện trạng sử dụng đất có nhiều biến động. Thêm vào đó là điều kiện đất nước khó khăn có nhiều hệ thống hồ sơ địa chính giai đoạn đó chưa được hoàn chỉnh cũng như độ chính xác thấp do vậy không thể sử dụng được vào những năm tiếp theo. Trước tình hình đó ngày 03/07/1958, Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 344/TTg cho tái lập hệ thống Địa chính trong Bộ Tài chính.

Ngày 09/11/1979, Chính phủ đã ban hành Nghị định 404-CP về việc thành lập tổ chức quản lý ruộng đất trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng thống nhất quản lý Nhà nước đối với toàn bộ ruộng đất trên toàn bộ lãnh thổ.

- Thời kỳ từ năm 1980 – 1988: Hiến pháp năm 1980 ra đời quy định: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước thống nhất quản lý”. Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nhà nước mới chỉ quan tâm đến việc quản lý đất nông nghiệp cho nên mới xảy ra tình trạng giao đất, sử dụng đất tuỳ tiện đối với các loại đất khác.

- Thời kỳ từ năm 1988 – 1993: Năm 1988, Luật Đất đai lần đầu tiên được ban hành nhằm đưa công tác quản lý đất đai vào nề nếp. Tiếp đó Tổng cục quản lý ruộng đất đã ban hành Quyết định số 201/ĐKTK kèm theo đó là Thông tư số 302/TT-ĐKTK ngày 28/10/1989 hướng dẫn thi hành Quyết định số 201. Chính việc ban hành các văn bản này mà công tác quản lý đất đai đã có bước phát triển mới, công tác ĐKĐĐ có thay đổi mạnh mẽ và chúng được thực hiện đồng loạt vào những năm tiếp theo trên phạm vi cả nước.

- Thời kỳ từ khi Luật Đất đai 1993 ra đời đến trước khi Luật Đất đai 2003 ra đời.

Luật Đất đai 1993 ra đời khẳng định đất đai có giá trị và người dân có các quyền sau: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp.

Do vậy, công tác cấp GCNQSDĐ giai đoạn này là việc làm cấp thiết để người dân khai thác được hiệu quả cao nhất từ đất. Vì vậy, công tác cấp giấy chứng nhận được triển khai mạnh mẽ nhất là từ năm 1997. Tuy nhiên, công tác cấp GCNQSDĐ vẫn còn nhiều vướng mắc dù Nhà nước đã ban hành nhiều Chỉ thị về việc cấp GCNQSDĐ cho người dân và đã không hoàn thành theo yêu cầu của Chỉ thị số 10/1998/CT-TTg và Chỉ thị số 18/1999/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về hoàn thành cấp GCNQSDĐ cho nông thôn vào năm 2000 và thành thị vào năm 2001.

- Thời kỳ từ khi Luật đất đai 2003 ra đời đến nay.

Luật đất đai 2003 được ban hành nhanh chóng đi vào đời sống và góp phần giải quyết những khó khăn vướng mắc mà Luật đất đai giai đoạn trước chưa giải quyết được. Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 quy định về GCNQSDĐ. Ngày 1/11/2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành quyết định số 29/2004/QĐ-BTNMT về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý HSĐC.

Ngày 1/11/2004, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư 09/2004/TT-BTNMT về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý, quản lý HSĐC. Ngày 25/5/2007 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 84/2007/NĐ-CP quy định bổ sung việc cấp GCNQSDĐ, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.
2.1.2. Cơ sở lý luận

* Đối với nhà nước: Đối với mỗi quốc gia, đất đai là tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất không gì thay thế được của ngành nông nghiệp, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố khu dân cư, xây dựng cơ sở kỹ thuật, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng. Song thực tế đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên có hạn về diện tích, có vị trí cố định trong không gian. Đặc biệt, trong những năm gần đây, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, chuyển từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Nó đã góp phần thúc đẩy các ngành kinh tế phát triển mạnh mẽ đồng thời nhu cầu sử dụng đất cũng tăng lên và làm cho công tác quản lý sử dụng đất hiệu quả, hợp lý, tiết kiệm cũng ngày càng trở nên phức tạp.

Quản lý thửa đất là một trong những nội dung quan trọng nhất của quản lý đất đai, quản lý đất đai là quản lý thửa đất với 3 nội dung chính là diện tích và ranh giới thửa đất, mục đích sử dụng của thửa đất và người chủ sử dụng của thửa đất. Công tác quản lý đất đai chỉ có thể đạt hiệu quả cao khi mỗi thửa đất trong diện được cấp GCN đều được cấp GCN. Đối với nước ta, việc cấp GCN có ý nghĩa quyết định đối với việc giải quyết những vấn đề tồn đọng trong lịch sử về quản lý và sử dụng đất; giải quyết có hiệu lực hiệu quả về tranh chấp đất đai góp phần thúc đẩy nhanh và thuận lợi cho công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng khi nhà nước thu hồi đất.

Đồng thời với công tác ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ, nhà nước tiến hành xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính. Đây là tài liệu cơ sở pháp lý quan trọng để phục vụ cho việc theo dõi quản lý của nhà nước đối với các hoạt động liên quan đến đất đai, là dữ liệu địa chính để xây dựng hệ thống thông tin đất đai.

* Đối với người sử dụng đất: GCN là chứng thư pháp lý xác lập và bảo hộ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện các quyền của người sử dụng đất như quyền chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, tặng cho, cho thuê quyền sử dụng đất, bảo lãnh góp vốn bằng quyền sử dụng đất, bảo vệ lợi ích chính đáng của người nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế…

* Đối với xã hội: Hệ thống thông tin đất đai được xây dựng từ kết quả cấp GCN sẽ được kết nối với hệ thống các cơ quan có liên quan, với hệ thống các tổ chức tài chính, tín dụng khi được lên mạng thông tin điện tử sẽ giúp cho tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp có thể tìm hiều thông tin đất đai một cách thuận lợi và nhanh chóng, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của xã hội. GCN tạo thuận lợi cho hoạt động giao dịch bất động sản, góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường bất động sản, tạo điều kiện để huy động nguồn vốn đầu tư thông qua hoạt động thế chấp vốn. Hệ thống thông tin đất đai có tác dụng đắc lực cho việc phòng chống tham nhũng về đất đai.

* Đăng ký đất đai (ĐKĐĐ)

Là thủ tục hành chính nhằm thiết lập HSĐC đầy đủ và cấp GCNQSDĐ cho những chủ sủ dụng đất hợp pháp nhằm xác lập mối quan hệ pháp lý đầy đủ giữa nhà nước và người sử dụng đất làm cơ sở quản chặt, nắm chắc toàn bộ đất đai theo luật. ĐKĐĐ có 2 loại:



- Đăng ký ban đầu:

Là đăng ký thực hiện với các trường hợp được Nhà nước giao đất, cho thuê đất để sử dụng mà người sử dụng đất đang sử dụng đất chưa được cấp GCNQSDĐ. Mục đích giúp xác định chủ sử dụng đất hợp pháp tiến đến cấp GCNQSDĐ.

Đăng ký ban đầu được thực hiện trong các trường hợp:

• Được nhà nước giao đất, cho thuê đất

• Người đang sử dụng đất mà chưa có giấy chứng nhận.

- Đăng ký biến động:

Được thực hiện với người sử dụng đất đã được cấp GCNQSDĐ hoặc có giấy tờ hợp lệ về quyền sử dụng đất theo quy định tại điều 50 – luật đất đai 2003 mà có thay đổi về quyền sử dụng đất với các trường hợp: chuyển đổi, chuyển nhượng, thừa kế, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn; được phép đổi tên; thay đổi hình dạng, kích thước thửa đất; chuyển mục đích sử dụng đất; thay đổi thời hạn sử dụng đất; chuyển từ hình thức giao đất có thu tiền sang thuê đất và ngược lại.



* Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ)

GCNQSDĐ là chứng thư pháp lý chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp của người sử dụng đất như: chuyển nhượng, thừa kế, thế chấp, tặng cho, cho thuê, bảo lãnh, góp vốn bằng quyền sử dụng đất… để họ yên tâm đầu tư, cải tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng đất.



- Các trường hợp được Nhà nước cấp GCNQSDĐ :

• Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất trừ trường hợp thuê, thuê lại của người khác hoặc đất công ích.

• Người được Nhà nước giao đất từ 15/10/1993 đến trước ngày Luật Đất đai 2003 có hiệu lực mà chưa được cấp GCNQSDĐ.

• Người đang sử dụng đất theo quy định của điều 50, 51 Luật Đất đai 2003 mà chưa được cấp GCNQSDĐ.

• Người được chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, được thừa kế, nhận tặng cho quyền sử dụng đất, người nhận quyền sử dụng đất khi xử lý hợp đồng thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất để thu hồi nợ, các tổ chức sử dụng đất là pháp nhân mới được hình thành do các bên góp vốn bằng quyền sử dụng đất.

• Đối tượng sử dụng đất theo bản án hoặc quyết định của toà án, quyết định thi hành án của cơ quan thi hành án, quyết định giải quyết tranh chấp đất đai của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

• Đối tượng trúng đấu giá quyền sử dụng đất.

• Đối tượng sử dụng đất của khu công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế.

• Đối tượng mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở.

• Đối tượng được Nhà nước thanh lý, hoá giá nhà ở gắn liền với đất ở.



- Thẩm quyền cấp GCNQSDĐ:

• UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp GCNQSDĐ cho tổ chức; cơ sở tôn giáo; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tổ chức, cá nhân nước ngoài.

• UBND cấp huyện cấp GCNQSDĐ cho hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư, người Việt Nam định cư ở nước ngoài mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất.

* Hồ sơ địa chính (HSĐC).

Hồ sơ địa chính là hệ thống tài liệu, số liệu, bản đồ, sổ sách chứa đựng những thông tin cần thiết về mặt tự nhiên, kinh tế, xã hội, pháp lý của đất đai được thiết lập trong quá trình đo đạc, lập bản đồ địa chính, ĐKĐĐ và cấp GCNQSDĐ.

Hồ sơ địa chính gồm: bản đồ địa chính, sổ địa chính, sổ mục kê, sổ theo dõi biến động đất đai và bản lưu GCNQSDĐ.

Nguyên tắc lập hồ sơ địa chính:

- Hồ sơ địa chính được lập theo đơn vị hành chính cấp xã.

- Việc lập và chỉnh lý hồ sơ địa chính thực hiện theo đúng trình tự thủ tục hành chính đã quy đinh.

- Hồ sơ địa chính dạng số, trên giấy phải bảo đảm tính thống nhất nội dung thông tin thửa đất với GCNQSDĐ và hiện trạng sử dụng đất.



Trách nhiệm lập HSĐC:

- Sở Tài nguyên và Môi trường tổ chức việc lập HSĐC.

- VPĐKQSDĐ thuộc sở Tài nguyên và Môi trường triển khai việc lập HSĐC gốc và làm 02 bản sao để gửi VPĐKQSDĐ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường (đối với nơi có VPĐKQSDĐ) hoặc gửi phòng Tài nguyên và Môi trường (đối với nơi chưa có VPĐKQSDĐ) và UBND cấp xã.

Trách nhiệm chỉnh lý và cập nhập HSĐC:

- VPĐKQSDĐ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường chỉnh lý và cập nhập hồ sơ gốc.

- VPĐKQSDĐ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường và cán bộ địa chính xã, phường, thị trấn chỉnh lý cập nhật bản sao HSĐC.

Trách nhiệm quản lý HSĐC:

- VPĐKQSDĐ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường quản lý HSĐC gốc và các tài liệu có liên quan.

- VPĐKQSDĐ thuộc phòng Tài nguyên và Môi trường quản lý bản sao HSĐC và các tài liệu có liên quan.

- UBND xã, phường, thị trấn quản lý bản sao HSĐC, bản trích sao HSĐC đã được chỉnh lý, cập nhật và các giấy tờ kèm theo do VPĐKQSDĐ thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường gửi đến để chỉnh lý, cập nhật bản sao HSĐC.

2.1.3. Căn cứ pháp lý của công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập HSĐC.

Công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính được Đảng và Nhà nước ta quan tâm chỉ đạo thông qua hệ thống các văn bản pháp luật sau:

- Quyết định số 201/QĐ-Cp do chính phủ ban hành ngày 1/7/1980 nêu lên 7 nôi dung quản lý nhà nước về đất đai.

- Chỉ thị số 299 – TTg, ngày 10/11/1980 do Thủ tướng chính phủ ban hành về việc triển khai đo đạc giả thửa nhằm nắm lại quỹ đất.

- Ngày 05/11/1981, Tổng cục quản lý ruộng đất ban hành Quyết định số 56/QĐ – ĐKTK quy định về trình tự thủ tục ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ.

- Ngày 08/11/1988, Luật Đất đai ra đời. Trong đó có nêu: “ĐKĐĐ, lập và quản lý hồ sơ địa chính, quản lý các hợp đồng sử dụng đất, thống kê, kiểm kê, cấp GCNQSDĐ”, đây là một trong bảy nội dung quản lý Nhà nước về đất đai.

- Hiến pháp năm 1992

- Luật đất đai năm 1993 được thông qua vào ngày 14/07/1993.

- Quyết định số 499/QĐ – ĐC ngày 27/07/1995 của Tổng cục Địa chính quy định mẫu sổ địa chính, sổ mục kê, sổ cấp GCNQSDĐ, sổ theo dõi biến động đất đai.

- Thông tư số 346/TT – TCĐC ngày 16/03/1998 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn thủ tục ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính.

- Thông tư số 1990/2001/TT – TCĐC ngày 30/11/2001 của Tổng cục Địa chính hướng dẫn các thủ tục ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập hồ sơ địa chính thay thế cho Thông tư số 346/TT – TCĐC ngày 16/3/1998.

- Luật Đất đai năm 2003 được Quốc hội khoá XI thông qua ngày 26/11/2003.

- Nghị định số 181/2004/NĐ – CP ngày 29/10/2004 do Chính phủ ban hành về hướng dẫn thi hành Luật Đất đai 2003.

- Quyết định số 24/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của bộ Tài nguyên và Môi trường về ban hành các quy định về cấp GCNQSDĐ.

- Thông tư số 29/2004/TT-BTNMT ngày 01/11/2004 của bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn lập, chỉnh lý , quản lý HSĐC.

- Thông tư 95/2005/TT-BTC ngày 26/10/2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn các quy định của pháp luật về lệ phí trước bạ.

Thông tư số 70/2006/TT-BTC ngày 02/08/2006 của Bộ Tài chính hướng dẫn sửa đổi, bổ sung Thông tư số 117/2004/TT-BTC ngày 07/12/2004 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 198/2004/NĐ-CP ngày 03/12/2004 của Chính phủ về thu tiền sử dụng đất.

- Thông tư số 06/2007/TT-BTNMT ngày 25/5/2006 của bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành quy định bổ sung về việc cấp GNQSDĐ, thu hồi đất thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.

- Thông tư số 09/2007/TT-BTNMT ngày 1/1/2004 của bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính.

- Nghị định 69 /2009/NĐ-CP quy định bổ sung về quy hoạch, giá đất, thu hồi đất, bồi thường hỗ trợ tái định cư.

- Nghị định số 84/2007/NĐ-CP ngày 25/05/2007 của Chính phủ quy định bổ sung về việc cấp GCN, thu hồi đất, thực hiện quyền sử dụng đất, trình tự, thủ tục bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết khiếu nại về đất đai.

- Nghị định 88/2009/NĐ-CP quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

- Thông tư số 14/2009/TT-BTNMT quy định về bồi thường hỗ trợ tái định cư, trình tự thu hồi đất, giao đất, cho thuê đât.

- Thông tư số 17/2009/TT-BTNMT quy định về GCNQSD đất và QSH tài sản gắn liền với đất.

- Thông tư số 19/2009/TT-BTNMT quy định chi tiết thẩm định quy hoạch sử dụng đất.

- Nghị định 105/2009/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.

- Thông tư 20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010 của Bộ Tài Nguyên và Môi Trường Quy định bổ sung về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.

- Thông tư 16/2011/TT-BTNMT ngày 20/5/2011 của Bộ Tài nguyên và Môi trường Quy định sửa đổi, bổ sung một số nội dung liên quan đến thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực đất đai.



2.2. KẾT QUẢ ĐKĐĐ, CẤP GCNQSDĐ TRONG CẢ NƯỚC.

2.2.1. Tình hình thực hiện công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong cả nước.

10 tỉnh trong cả nước cơ bản hoàn thành việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), đạt trên 90% diện tích các loại đất chính. Bên cạnh đó có 10 tỉnh có kết quả cấp GCN các loại đất chính đạt thấp dưới 60%.

* Đối với đất sản xuất nông nghiệp

Tính đến năm 2010, cả nước đã cấp được 16.173.096 giấy với diện tích 8.316.529 ha đạt 85.4% so với diện tích cần cấp, trong đó cấp cho hộ gia đình, cá nhân là 13.487.095 giấy với diện tích 6.935.931 ha, cấp cho tổ chức 4.852 giấy với diện tích 478.564 ha. Đã có 32 tỉnh hoàn thành cơ bản việc cấp GCNQSD đất cho sản xuất nông nghiệp (đạt trên 90%); có 05 tỉnh đạt từ 80% đến 90%, có 18 tỉnh đạt từ 70% đến 85%; các tỉnh còn lại đạt được 70%; đặc biệt còn 03 tỉnh đạt tỷ lệ thấp gồm Lai Châu (đạt 24,6%), Đak Nông (đạt 42,4%); Yên Bái (24,2%).



* Đối với đất lâm nghiệp

Tính đến năm 2010, cả nước đã cấp được 2.629.232 giấy với diện tích 10.371.482 ha đạt 86.3% diện tích cần cấp giấy; trong đó có 14 tỉnh cơ bản hoàn thành đạt trên 90%, có 07 tỉnh đạt từ 85% đến 90%, có 8 tỉnh đạt từ 70% đến 85%; các tỉnh còn lại đạt dưới 70%; đặc biệt có các tỉnh chỉ đạt dưới 30% như Tuyên Quang, Bắc Cạn, Yên Bái, Thừa Thiên Huế, Quảng trị, Quảng Nam, Bà Rịa Vũng Tàu, Cà Mau.



* Đối với đất nuôi trồng thuỷ sản

Tính đến năm 2010, cả nước đã cấp được 1.067.748 giấy với diện tích 578.945 ha đạt 83.3% so với diện tích cần cấp giấy, trong đó có 9 tỉnh đã cơ bản hoàn thành (đạt trên 90%), có 7 tỉnh đạt từ 70% đến 85%, các tỉnh còn lại đạt dưới 70%, trong đó có 15 tỉnh đạt dưới 10%. Đa số đất nuôi trồng thuỷ sản mới được hình thành gần đây, hầu như các thửa đất đều có quyết định giao đất, cho thuê đất nên việc cấp GCN không gặp khó khăn, nếu các tỉnh tập trung sẽ hoàn thành trong thời gian ngắn.



* Đối với đất ở đô thị

Tính đến năm 2010, cả nước đã cấp được 3.685.259 giấy với diện tích 83.109 ha đạt 63.5% so với diện tích cần cấp giấy, trong đó có 9 tỉnh cơ bản đã hoàn thành (đạt trên 90%), có 20 tỉnh đạt từ 70% đến 85%, các tỉnh còn lại đạt dưới 30%. Từ ngày 01/7/2006 loại đất này được cấp GCN quyền sở hữu nhà ở.



* Đối với đất ở nông thôn

Tính đến năm 2010, cả nước đã cấp được 11.671.553 giấy với diện tích 435.967 ha đạt 79.3% so với diện tích cần cấp giấy, trong đó có 7 tỉnh cơ bản đã hoàn thành (đạt trên 90%), có 22 tỉnh đạt trên 50%, các tình còn lại đạt dưới 50%. Trong đó có 23 tỉnh đạt dưới 30%.



* Đối với đất cơ sở tôn giáo, tín ngưỡng

Tính đến năm 2010, cả nước cấp được 18.831 giấy với diện tích 11.275 ha đạt 82,2% so với diện tích cần cấp giấy. Việc cấp GCN cho loại đất này được thực hiện nhiều nhất ở: Hà Nội, Hà Nam, Nam Định, Thanh Hoá, Nghệ An, Ninh Thuận, Lâm Đồng, Long An, Cần Thơ, Sóc Trăng.



2.3. TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI, CẤP GIẤY CHỨNG NHẬN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT CỦA TỈNH THÁI BÌNH

2.3.1. Kết quả giao đất, đăng ký, cấp giấy chứng nhận đất nông nghiệp.

Thực hiện Luật đất đai 1993 và nội dung Nghị định 64/CP của chính phủ. Tỉnh đã sớm hoàn thành việc giao đất nông nghiệp sử dụng ổn định lâu dài cho nông dân. Kết quả là 100% số xã, phường, thị trấn đã tiến hành việc cấp giấy chứng nhận, cụ thể cho đến 2010 có 432.583 hộ nông dân đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp trên tổng số 479.333 hộ được giao theo Nghị định 64/CP đạt 90,25% với diện tích đã cấp là 86.340,83 ha đạt 81,86% diện tích đất được giao.

2.3.2. Kết quả đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền SDĐ ở nông thôn

Tính đến ngày 31/12/2010 toàn tỉnh đã có 324/324 xã, thị trấn có Quyết định cấp giấy chứng nhận đạt 100% tổng số xã, thị trấn của toàn tỉnh với 380.359 hộ, trên 540.289 số hộ phải cấp, đạt 70,40% diện tích đã cấp 9.322,11 ha.



2.3.3. Kết quả đăng ký, cấp giất chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị.

Theo số liệu của Sở Tài nguyên và Môi trường thì tỉnh Thái Bình đã có 30.759 hộ được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở đô thị, đạt tỷ lệ 65,02% với diện tích 420,65 ha.



2.3.4. Kết quả đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận cho các tổ chức.

Tính đến ngày 31/12/2010 toàn tỉnh Thái Bình có 1.833 tổ chức thực hiện kê khai đăng ký đất đai, đạt 100% tổng số tổ chức sử dụng đất, trong đó 757/1833 tổ chức đã được cấp giấy chứng nhận, đạt 41,3% với diện tích được cấp là 1928,56 ha.



* Đánh giá kết quả công tác đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên địa bàn tỉnh Thái Bình.

Sau Luật đất đai 1993, Luật sửa đổi năm 1998, 2001 và Luật đất đai năm 2003. Tỉnh đã sớm tổ chức triển khai việc giao đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các tổ chức, hộ gia đình sử dụng ổn định lâu dài, nhưng chưa hoàn thành. Đối với đất thổ cư và đất chuyên dùng thì tiến độ cấp giấy chứng nhận đến nay được đánh giá là chậm so với các tỉnh khác, đặc biệt là đất ở đô thị.

- Nguyên nhân dẫn đến tiến độ chậm như vậy là do:

• Tài liệu về hồ sơ đất đai ở cơ sở phục vụ việc cấp giấy chứng nhận bị thất thoát và rất nhiều tài liệu, bản đồ phục vụ cấp giấy còn sai lệch nhiều so với thực tế, nhiều nơi đo vẽ không hết.

• Việc chuyển quyền sử dụng không làm thủ tục qua các cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền còn khá phổ biến, việc tranh chấp khiếu nại về đất đai còn nhiều, ngày càng có xu hướng gia tăng.

• Những vi phạm trong quá trình sử dụng đất còn xảy ra nhiều, có nơi trở thành phổ biến, việc thực hiện Luật đất đai còn chưa triệt để và chưa đồng bộ.

• Đặc biệt còn hạn chế trong khâu tuyên truyền, giáo dục về pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành Pháp luật cho nhân dân.

PHẦN 3

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của huyện Đông Hưng.

- Khái quát tình hình quản lý, sử dụng đất huyện Đông Hưng.

- Đánh giá công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính huyện Đông Hưng giai đoạn 2005 -2010.



- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính huyện Đông Hưng trong thời gian tới.

3.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.



3.2.1. Phương pháp điều tra.

Thu thập các thông tin, số liệu, tài liệu và những thông tin cần thiết tại các phòng ban thuộc Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, qua mạng Internet, sách …

3.2.2 Phương pháp thống kê.

Thống kê các số liệu, tài liệu địa chính và các số liệu, tài liệu khác liên quan, thể hiện số liệu qua hệ thống bảng biểu và phân tích số liệu.

3.2.3 Phương pháp so sánh.

So sánh giữa lý luận và thực tế của công tác ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính ở địa phương.

3.2.4 Phương pháp phân tích tổng hợp.

Phân tích chi tiết số liệu, để có cái nhìn tổng quan về ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ và lập hồ sơ địa chính trên địa bàn thực tập.

3.2.5 Phương pháp chuyên gia.

Tham khảo ý kiến để đi đến giải pháp ĐKĐĐ, cấp GCNQSDĐ, lập hồ sơ địa chính của huyện Đông Hưng


PHẦN 4

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU


4.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI CỦA HUYỆN ĐÔNG HƯNG

4.1.1. Điều kiện tự nhiên



4.1.1.1. Vị trí địa lý

Huyện Đông Hưng - tỉnh Thái Bình là một huyện đồng bằng Bắc bộ cách thành phố Thái Bình khoảng 12 km về phía Bắc, tổng diện tích tự nhiên toàn huyện là 19604,97 ha. Vị trí địa lý tiếp giáp như sau:

- Phía Bắc giáp huyện Quỳnh Phụ - Thái Bình

- Phía Đông giáp huyện Thái Thuỵ - Thái Bình

- Phía Tây giáp huyện Hưng Hà - Thái Bình

- Phía Nam giáp thành phố Thái Bình - Thái Bình

- Phía Đông Nam giáp huyện Vũ Thư, Thành phố Thái Bình và huyện Kiến Xương.

Huyện Đông Hưng có vị trí trung chuyển giữa thành phố Thái Bình và các huyện phía Bắc, có Quốc lộ 39 và Quốc lộ 10 chạy qua, đây là tuyến đường giao thông rất quan trọng của huyện trong sự phát triển kinh tế, xã hội. Nó là huyết mạch tạo sự giao lưu về kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện với các huyện cũng như với các tỉnh bạn. Với vị trí địa lý như vậy, huyện Đông Hưng có điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế theo hướng CNH - HĐH nông nghiệp nông thôn, tập trung vào sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ hàng hoá, đặc biệt là hàng nông sản chất lượng cao.



4.1.1.2 Địa hình, địa mạo

Địa hình Đông Hưng tương đối bằng phẳng, sông ngòi chảy theo nhiều hướng. Cùng với sự khai thác tài nguyên đất đai và xây dựng hệ thống đê điều từ lâu đời đó phân chia thành nhiều ụ lớn nhỏ, đê điều là ranh giới phân chia giữa các ô và sông. Phần đất ngoài ô có địa hình cao thấp khác nhau. Phần đất trong đê tuơng đối bằng phẳng. Nhìn chung điều kiện địa hình Đông Hưng thuận lợi cho việc khai thác triệt để quỹ đất đai, xây dựng cơ sở hạ tầng, bố trí khu dân cư, phát triển sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tạo ra hệ sinh thái động, thực vật khá đa dạng, phong phú, thuận lợi cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.



4.1.1.3. Khí hậu

Đông Hưng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm có bốn mùa xuân, hạ, thu, đông rõ rệt. Mùa hè nóng, ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, khô hanh do tác động của gió mùa Đông Bắc.

Nhiệt độ: Theo thống kê của trạm khí tượng thuỷ văn Thái Bình, nhiệt độ trung bình của huyện hàng năm từ 23 - 240C. Mùa đông nhiệt độ trung bình là 18,90C, tháng lạnh nhất là tháng 1 và tháng 2. Mùa hạ nhiệt độ trung bình là 270C, tháng nóng nhất là tháng 7 và tháng 8. Tổng tích ôn nhiệt từ 8.5500C - 8.6500C/năm.

Lượng mưa: Lượng mưa trung bình năm từ 1.700 - 1.800 mm phân bố đều trên toàn lãnh thổ huyện nhưng phân bố không đều trong năm. Mưa tập trung nhiều nhất từ tháng 5 đến tháng 10, lượng mưa chiếm 80% tổng lượng mưa cả năm.

Độ ẩm: Độ ẩm không khí tương đối cao, trung bình năm từ 80 - 85%, giữa tháng có độ ẩm lớn nhất và tháng có độ ẩm cao nhất chênh nhau không nhiều, tháng có độ ẩm cao nhất là tháng 3 (90%) và tháng có độ ẩm thấp nhất là tháng 11 (70%).

Chế độ gió: Hướng gió chính là gió mùa Đông Bắc và gió mùa Đông Nam. Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau mang theo không khí lạnh. Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng 5 đến tháng 11 mang theo không khí nóng. Huyện Đông Hưng hàng năm chịu ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp từ 3 - 5 cơn bão xuất hiện từ tháng 7 đến tháng 11.

4.1.1.4.Các nguồn tài nguyên

* Tài nguyên đất

Đất đai của Đông Hưng thuộc loại đất phù sa do hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình bồi tụ. Tầng đất nông nghiệp dày khoảng 60 - 80cm nằm trên xác sú vẹt, vỏ sò, hến, tầng canh tác dày 13 - 15cm.



* Tài nguyên nước: Huyện Đông Hưng có sông Trà lý, sông Tiên Hưng và một hệ thống ao, hồ dày đặc nên nguồn nước mặt đảm bảo cung cấp đủ phục vụ sản xuất và sinh hoạt. Hiện tại nước sinh hoạt được lấy từ nguồn nước ngầm do dân và các tổ chức tự khai thác là chủ yếu. Nước cho sản xuất nông nghiệp được lấy từ các trạm bơm theo hệ thống sông, mương hiện có trên địa bàn huyện.

* Tài nguyên khoáng sản: Khoáng sản chính trên địa bàn huyện Đông Hưng là nguồn cát đen trữ lượng lớn ven sông Trà Lý có thể khai thác đáp ứng nhu cầu xây dựng của địa phương và các vùng lân cận.

* Tài nguyên nhân văn: Huyện Đông Hưng được hình thành trong đồng bằng châu thổ sông Hồng, người dân có truyền thống cần cù trong lao động, anh dũng trong đấu tranh chống phong kiến và giặc ngoại xâm, sáng tạo, thông minh trong sản xuất xây dựng quê hương đất nước.

* Cảnh quan môi trường: Huyện Đông Hưng có cảnh quan mang đặc điểm của vùng nông thôn châu thổ sông Hồng, những con đường và những con sông lớn nằm trên địa bàn các xã phân bố khá hài hoà bao quanh những cánh đồng lúa, khu dân cư, tạo ra một cảnh quan phù hợp với cuộc sống của nhân dân trước mắt cũng như lâu dài. Do đất chật người đông, mật độ dân số ngày càng tăng làm các chất thải của nhân dân từ sản phẩm nông nghiệp và sinh hoạt ngày càng nhiều, do đó ảnh hưởng đến môi trường sinh thái ở khu vực dân sinh, nhất là nước ở các ao, hồ xung quanh khu vực dân cư, đồng thời với việc sử dụng nhiều hoá chất độc hại trong sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc kích thích sinh trưởng làm ảnh hưởng xấu đến cân bằng sinh thái môi trường. Vì thế đòi hỏi các nhà quản lý phải tính toán các phương án bảo vệ môi trường sinh thái nhằm tạo ra sự phát triển bền vững lâu dài.

* Nhận xét chung về điều kiện tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên và cảnh quan môi trường.

* Thuận lợi

- Huyện Đông Hưng tiếp giáp với Thành phố Thái Bình, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển công nghiệp, nông nghiệp của huyện.

- Địa hình tương đối bằng phẳng, đất đai phì nhiêu, màu mỡ phù hợp khí hậu thuận lợi cho phát triển nông nghiệp với nhiều loại cây trồng tạo điều kiện thuận lợi để đa dạng hoá cây trồng, phá thế độc canh. Từ đó phát triển ngành nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá.

- Lực lượng lao động dồi dào, có kinh nghiệm, cần cù chịu khó.



* Khó khăn

- Khí hậu, thuỷ văn phân hoá theo mùa gây tình trạng thiếu nước về mùa khô, ngập úng về mùa mưa, ảnh hưởng không nhỏ đến sản xuất và đời sống.

- Quỹ đất hạn hẹp, bình quân diện tích đất đai trên đầu người thấp cũng gây khó khăn cho huyện trong khai thác các tiềm năng, thế mạnh của mình.

- Tài nguyên khoáng sản không nhiều, tiềm năng du lịch không lớn.



4.1.2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI

4.1.2.1. Tăng trưởng kinh tế

Thực trạng công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ, chính quyền huyện Đông Hưng, kinh tế - xã hội huyện đã có những chuyển biến tích cực và dần đi vào thế ổn định, phát triển. Năm 2005 - 2010 tăng trưởng kinh tế đạt 7,55% . Tổng giá trị sản xuất năm 2010 đạt 1.647 tỷ đồng. Trong đó:

- Giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản năm 2010 đạt 715,2 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 6 năm đạt 5,0% và 6,65% so với cùng kì.

- Giá trị sản xuất CN - TTCN - XDCB năm 2010 đạt 563,2 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 6 năm đạt 21,0% và 24,44% so với cùng kì.

- Giá trị sản xuất thương mại dịch vụ năm 2010 đạt 368,6 tỷ đồng. Tốc độ tăng trưởng bình quân trong 6 năm đạt 9,5% và 12,86% so với cùng kì.

- Giá trị sản xuất bình quân theo đầu người đạt 2,5 triệu đồng/người/ năm.

4.1.2.2. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Cùng với việc tăng trưởng kinh tế thì cơ cấu kinh tế cũng từng bước chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng các ngành công nghiệp-xây dựng-dịch vụ và giảm dần các ngành nông nghiệp qua các năm.

Bảng 4.1: Cơ cấu kinh tế một số ngành qua các năm



Ngành

Năm 2008

Năm 2009

Năm 2010

Nông nghiệp - thủy sản

49,3

42,3

39,7

Công nghiệp-xây dựng

29,8

33,4

36,7

Dịch vụ - thương mại

20,9

24,3

23,6

(Nguồn số liệu: Phòng thống kê huyện Đông Hưng)

4.1.2.3. Thực trạng phát triển các ngành kinh tế.



* Ngành nông nghiệp.

Toàn huyện có 14312,7232 ha đất nông nghiệp chiếm 73% tổng diện tích tự nhiên của toàn huyện. Giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, thuỷ sản năm 2010 đạt 715,2 tỷ đồng tăng 20% so với năm 2005. Bình quân giá trị sản xuất trong 7 năm đạt 625,41 tỷ đồng/năm. Tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm đạt 4% cơ cấu trong nội bộ ngành có sự thay đổi, trồng trọt chiếm tỷ trọng 67,8%, chăn nuôi 3,66% (năm 2005 trồng trọt chiếm 76%, chăn nuôi chiếm 24%). Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi ngày càng tăng nhanh. Trong những năm tới cần được đầu tư phát triển mở rộng sản xuất chăn nuôi.

Năng suất lúa hàng năm khá ổn định, bình quân đạt khoảng 123,80 tạ/ ha/năm. Lương thực bình quân đầu người đạt khoảng 670 Kg/người/năm. Tổng sản lượng lương thực quy ra thóc hàng năm đạt 162.246 tấn. Giá trị sản xuất của 1ha canh tác/năm đã tăng từ 31 triệu đồng năm 2001 lên 38 triệu đồng năm 2007.

Ngành chăn nuôi tuy chịu ảnh hưởng của các đợt cúm gia cầm, nhưng vẫn tiếp tục phát triển về số lượng với chất lượng khá tốt. Tổng đàn trâu bò tuy giảm nhưng tỷ trọng bò thương phẩm tăng nhanh. Đàn trâu bò hàng năm có từ 4.200 - 4.900 con. Giá trị sản xuất ngành chăn nuôi năm 2010 đạt 229,4 tỷ đồng tăng 62,38% so với năm 2001 bình quân 7 năm qua giá trị sản xuất ngành chăn nuôi đạt 154,659 tỷ đồng/ năm.



* Ngành công nghiệp.

Giá trị sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng cơ bản bình quân trong 7 năm đạt 304,62 tỷ đồng/năm. Riêng năm 2010 giá trị sản xuất ước tính đạt 563,2 tỷ đồng tăng 105,5% so với năm 2001 tốc độ tăng bình quân trong 7 năm đạt 15,5%/năm. Tỷ trọng công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và ngành xây dựng cơ bản năm 2010 chiếm khoảng 28,5% tổng giá trị sản xuất.

Huyện có 8 làng nghề được tỉnh công nhận là “làng nghề”. Sản phẩm của ngành công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp chủ yếu là may mặc, vật liệu xây dựng, cơ khí, chế biến nông sản, thêu xuất khẩu... Hoạt động công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp trên địa bàn đã thu hút giải quyết việc làm cho trên 41.000 lao động.

* Ngành thương mại-dịch vụ.

Ngành kinh tế dịch vụ phát triển với nhiều loại hình đa dạng, phong phú. Có những loại hình dịch vụ có truyền thống lâu đời như: dịch vụ thương nghiệp, vận tải, kho bãi, bưu chính viễn thông, tài chính, tín dụng, hiếu hỷ, giáo dục, y tế... Nhưng cũng xuất hiện nhiều loại hình dịch vụ mới phù hợp với cuộc sống hiện đại, như: nhà nghỉ, nhà hàng, giải trí, kinh doanh bất động sản, tư vấn pháp luật, tư vấn thiết kế xây dựng... Năm 2010, tổng giá trị sản xuất ngành dịch vụ là 368,6 tỷ đồng chiếm 35,2% GDP.


Bảng 4.2: Giá trị sản xuất các ngành

ĐVT: tỷ đồng



TT

Chỉ tiêu

Năm 2008

Năm 2009

Tháng 6/2010

1

Tổng giá trị sản xuất (giá CĐ 1994)

1.449,8

1.518,8

1.647

1.1

Nông, lâm, thủy sản

715

670,6

715,2

*

Nông Nghiệp

650

646,3

688,2

-

Trồng trọt

420

418,9

436,8

-

Chăn nuôi

211,5

205,8

229,4

-

Dịch vụ

18,5

21,6

22

*

Thủy sản

20,2

23,7

26,3

*

Lâm sản

0,5

0,6

0,7

1.2

Công nghiệp – XDCB

433,0

452,6

563,2

*

Công nghiệp – TTCN

3380

346,0

442,0

*

Xây dựng cơ bản

95

106,6

121,2

1.3

Thương mại dịch vụ

305

326,6

368,6



  1   2   3   4   5   6


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương