LỜi cảM Ơn trước tiên, tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến ts. Nguyễn Văn Rực


Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh



tải về 306.73 Kb.
trang9/10
Chuyển đổi dữ liệu18.08.2016
Kích306.73 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Các kiểu chuyển đoạn nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh


Khi phân tích NST ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh chúng tôi đã phát hiện có 19 trường hợp mang chuyển đoạn trong đó:

- 11 trường hợp chuyển đoạn tương hỗ bao gồm 6 người vợ và 5 người chồng.

- 8 trường hợp chuyển đoạn hòa hợp tâm bao gồm 6 người vợ và 2 người chồng.

Bảng 5. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn NST.


Kiểu chuyển đoạn

Người vợ (n)

Người chồng

Chuyển đoạn tương hỗ

6

5

Chuyển đoạn hòa hợp tâm

6

2

Tổng

12

7

Simona Farcas và cs khi nghiên cứu về vai trò của chuyển đoạn NST trong sảy thai liên tiếp đã đưa ra nhận xét rằng sự rối loạn NST là nguyên nhân có liên quan đến sảy thai và trong các dạng bất thường NST thì tần số bất thường NST kiểu chuyển đoạn xảy ra tương đối cao trong quần thể người [63]. U Diedrich và cs đã chỉ ra rằng chuyển đoạn của NST số 1,7 hoặc 22 thì có nhiều khả năng dẫn đến sảy thai. Trong khi đó chuyển đoạn ở những NST khác ví dụ: NST số 5, 9, 14, 21 thì có nhiều khả năng sinh ra những đứa trẻ dị tật [23].

Khi phân tích NST ở 260 cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp Simona Farcas và cs đã phát hiện được ở người chồng mang NST chuyển đoạn chiếm tỷ lệ 1,53%, người vợ mang NST chuyển đoạn chiếm tỷ lệ 4,23% [63]. Kết quả của Claude Stoll khi phân tích NST của 122 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp từ ba lần trở lên phát hiện 5 người vợ và 1 người chồng mang chuyển đoạn ở các cặp NST bao gồm t(2;17), t(5;9), t(11;12),t(17;22) và t(13q;14q) [19].

Trong báo cáo về nguy cơ bất thường về sinh sản ở một số cặp vợ chồng mang NST chuyển đoạn cân bằng của Nguyễn Văn Rực đưa ra năm 2006 [7]. Trong số 9 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh đã được phát hiện là mang NST chuyển đoạn cân bằng có 4 trường hợp gặp ở người vợ và 5 trường hợp gặp ở người chồng. Nguyễn Nam Thắng và cs khi phân tích đặc điểm NST của một số cặp vợ chồng sảy thai, thai chết lưu đã phân tích NST và lập karyotype của 34 người vợ và 33 người chồng có tiền sử bị sảy thai, trong số đó đã phát hiện có 3 người mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm dạng cân bằng (2 nữ, 1 nam) [12]. Kết quả phân tích NST ở 350 cặp vợ chồng của chúng tôi cũng phát hiện ở người vợ mang NST chuyển đoạn lớn hơn ở người chồng. Cụ thể chúng tôi đã phát hiện người vợ có 12 trường hợp và ở người chồng có 7 trường hợp mang chuyển đoạn NST.

Dưới đây chúng tôi xin thống kê về tỷ lệ rối loạn cấu trúc NST kiểu chuyển đoạn của một số tác giả so với kết quả nghiên cứu của chúng tôi:



Bảng 6. Tỷ lệ chuyển đoạn NST ở các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh của các tác giả.

Tác giả

Năm

Số cặp vợ chồng

Tỷ lệ chuyển đoạn

Fortuny & cs [30]

1988

445

4,2%

M. Azim [16]

2003

300

2,33%

Razied Dehghani Firoozabadi & cs [59]

2006

88

2,27%

Simona Farcas & cs [63]

2007

260

2,88%

Đặng Thị Nhâm

2011

350

5,4%

Theo Mauro Campana và cs [52], A L Zarina và cs [72] cho biết gần 5% các trường hợp sảy thai là do bố mẹ mang rối loạn NST chuyển đoạn cân bằng. Trong nghiên cứu này chúng tôi phát hiện có 19 cặp vợ chồng một trong hai người (hoặc ở người vợ hoặc ở người chồng) mang chuyển đoạn NST chiếm tỷ lệ 5,4% tổng số các cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật.

Chuyển đoạn hay gặp nhất trong các rối loạn cấu trúc NST và có 2 loại: chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm. Nhìn chung ở những người mang NST chuyển đoạn có thể sinh ra những đứa trẻ hoặc là monosomi (thường chết ở thời kỳ bào thai) hoặc trisomi (chết ở thời kỳ bào thai hoặc sinh ra bị dị tật bẩm sinh) hoặc mang bộ NST bình thường hoặc mang NST chuyển đoạn giống như bố hoặc mẹ. Tuy nhiên nguy cơ sinh ra những đứa trẻ bị dị tật còn tùy thuộc vào người bố hoặc người mẹ mang NST chuyển đoạn và tùy thuộc vào kiểu chuyển đoạn [60].

Nghiên cứu trước đây của J.P. Fryns và cs phân tích NST trong 1068 cặp phát hiện 33 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm tỷ lệ 3,09%) và 20 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm tỷ lệ 1,87%) [32]. Phân tích NST và lập karyotype ở 445 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp, Fortuny và cs phát hiện có 16 cặp mang chuyển đoạn tương hỗ và 3 cặp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm [30]. Phân tích NST của 260 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp Simona Farcas và cs phát có 9 trường hợp mang chuyển đoạn tương hỗ (chiếm 1,73%) và 6 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm (chiếm 1,15%) [64]. Nhìn chung nghiên cứu của các tác giả trước về vai trò của chuyển đoạn NST đến sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh và trong các nghiên cứu này đa phần đều phát hiện thấy tỷ lệ chuyển đoạn tương hỗ cao hơn chuyển đoạn hòa hợp tâm.

Theo A L Zarina và cs thì chuyển đoạn tương hỗ chiếm 0,2% trong dân số. Tuy nhiên ở những cặp vợ chồng có nhiều hơn 3 lần sảy thai ở 3 tháng đầu tiên thì tỷ lệ này có thể tăng tới 9,2% [72]. Usha R. Dutta và cs đã phân tích NST của 1162 cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp ở vùng phía nam Ấn độ. Nghiên cứu này chỉ ra rằng phần lớn các trường hợp bất thường được tìm thấy là chuyển đoạn tương hỗ cân bằng [71]. Như vậy trong hầu hết các nghiên cứu trên thì tỷ lệ bất thường NST kiểu chuyển đoạn tương hỗ chiếm tỷ lệ cao hơn chuyển đoạn hòa hợp tâm. Trong nghiên cứu của chúng tôi đã phát hiện có 19 trường hợp mang rối loạn cấu trúc NST kiểu chuyển đoạn trong đó chuyển đoạn tương hỗ có 11 trường hợp chiếm 52,38% tổng số các rối loạn cấu trúc và chuyển đoạn hòa hợp tâm có 8 trường hợp chiếm 38,1% rối loạn về cấu trúc.


  1. Sự chuyển đoạn tương hỗ giữa các nhiễm sắc thể ở các cặp vợ chồng mang nhiễm sắc thể chuyển đoạn


Trong số 21 cặp vợ chồng có biểu hiện về rối loạn cấu trúc mà chúng tôi phát hiện được thì rối loạn cấu trúc kiểu chuyển đoạn tương hỗ xảy ra ở 11 cặp vợ chồng (hoặc ở người vợ hoặc ở người chồng) chiếm tỷ lệ 52,38% tổng số các rối loạn cấu trúc. Đó là sự chuyển đoạn xảy ra giữa 2 NST khác cặp tương đồng, karyotype của những người mang chuyển đoạn tương hỗ được thể hiện ở bảng 7.

Bảng 7. Sự phân bố các kiểu karyotype về sự chuyển đoạn tương hỗ.

STT

Karyotype

Vợ

Chồng

1

2

3



4

5

6



7

8

9



10

11


46,XY,t(7;10)(q36;q24)

46,XY,t(8;9)(p21;p22)

46,XY,t(2;10)(q13;p13)

46,XY,t(1;5)(q44;q15)

46,XY,t(9;12)(p12;p13)

46,XX,t(7;14)(p22;q22)

46,XX,t(11;15)(q26;q22)

46,XX,t(3;21)(q23;q22.3)

46,XX,t(12;14)(p11.2;p11.2)

46,XX,t(2;16)(q13;q14)

46,XX,t(6;8)(q21;p21)


1

1

1



1

1

1



1

1

1



1

1


Tổng số

6

5





Hình 10. Karyotype của bệnh nhân Lê Đức T. 46,XY,t(1;5)(q44;q15)

Trong nghiên cứu này chúng tôi chỉ phát hiện thấy sự chuyển đoạn tương hỗ xảy ra ở 11 cặp NST khác nhau. Ở những cặp vợ chồng có một trong hai người (hoặc là người vợ hoặc là người chồng) mang NST chuyển đoạn tương hỗ sẽ có nguy cơ sảy thai hay sinh ra những đứa trẻ dị tật. Vì vậy ở những cặp vợ chồng này cần được tư vấn di truyền và theo dõi về thai sản, làm các xét nghiệm (siêu âm, Triple test, xét nghiệm NST tế bào dịch ối, tua gai) cần thiết trước khi sinh.


  1. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm


Rối loạn NST kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm là một dạng của rối loạn cấu trúc NST kiểu chuyển đoạn. Người mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm có phenotype bình thường nhưng bộ NST có 45 chiếc, mất 2 NST tâm đầu và có thêm 1 NST chuyển đoạn. Trong quá trình phát sinh giao tử, tạo hợp tử và có thể sinh ra những đứa con hoặc là bình thường hoặc chết trong thời kỳ bào thai hoặc sinh ra bị dị tật bẩm sinh hoặc mang bộ NST giống như bố hoặc mẹ tùy theo kiểu chuyển đoạn. Vì vậy, ở những cặp bố mẹ này cần được tư vấn di truyền trước khi có thai hoặc làm các xét nghiệm (siêu âm, phân tích NST ở tế bào dịch ối, tua gai) trước khi sinh.

Trong số 8 trường hợp mang rối loạn NST kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm chúng tôi đã phát hiện thấy có sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D (D/D), sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với các NST nhóm G (D/G) và sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm G với các NST nhóm G (G/G).



Bảng 8. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa các nhóm.

Sự chuyển đoạn giữa các nhóm

Vợ

Chồng

t(Dq;Dq)

3

1

t(Dq;Gq)

2

1

t(Gq;Gq)

1

0

Tổng số

6

2

Gilgenkrantz S [35] phân tích NST ở những cặp vợ chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm đã có nhận xét rằng: sự chuyển đoạn xảy ra giữa các NST trong nhóm D: t(D/D) là hay gặp nhất trong đó hay gặp hơn là sự chuyển đoạn giữa NST số 13 với NST số 14: t(13q;14q) và sự chuyển đoạn giữa các NST nhóm D này cao hơn khoảng 6 lần so với sự chuyển đoạn giữa các NST của nhóm D với các NST của nhóm G: t(D/G). Ở những cặp vợ chồng mang chuyển đoạn giữa nhóm D với nhóm G: t(D/G) thì phần lớn là sự chuyển đoạn giữa NST số 14 với NST số 21: t(14q;21q). Sự chuyển đoạn giữa các NST trong nhóm G: t(G/G), trong đó sự chuyển đoạn giữa NST số 21 với NST số 21: t(21q;21q) là hay gặp hơn, còn sự chuyển đoạn giữa NST số 21 với NST số 22: t(21q;22q) là rất hiếm. Theo công bố của Stoll.C và cs khi phân tích NST của 391 cặp vợ chồng có con mắc hội chứng Down đã phát hiện được 5 người mẹ và 2 người bố mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm [62]. Khi phân tích NST của 1068 cặp vợ chồng J.P. Fryns và cs đã phát hiện trong số những người mang NST chuyển đoạn thì chuyển đoạn hòa hợp tâm xảy ra ở nữ cao hơn ở nam [32].

Trong nghiên cứu này chúng tôi đã phát hiện 8 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm bào gồm 6 trường hợp xảy ra ở người vợ và 2 trường hợp ở người chồng. Trong 8 trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm có 4 trường hợp có kiểu chuyển đoạn giữa các NST nhóm D với nhóm D: t(D/D) trong đó phát hiện 3 trường hợp ở người vợ và 1 trường hợp ở người chồng. 3 trường hợp có kiểu chuyển đoạn giữa NST nhóm D với NST nhóm G: t(D/G) trong đó 2 trường hợp xảy ra ở người vợ và 1 trường hợp ở người chồng. 1 trường hợp có kiểu chuyển đoạn giữa NST nhóm G với NST nhóm G: t(G/G) xảy ra ở người vợ (bảng 8).

Như vậy, trong các trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm này thì tần số xuất hiện của chuyển đoạn giữa NST nhóm D với NST nhóm D, t(D/D) là lớn nhất sau đó là chuyển đoạn giữa NST nhóm D với NST nhóm G, t(D/G), thấp nhất là chuyển đoạn giữa NST nhóm G với NST nhóm G, t(G/G), tỷ lệ tương ứng là 4/3/1 (bảng 8).

Một cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp đã được PR Scarbrough và cs phát hiện ở người chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 13 (thuộc nhóm D) với NST số 14 (thuộc nhóm D), karyotype của chồng 45,XY,t(13q;14q), người vợ mang chuyển đoạn tương hỗ cân bằng giữa NST số 7 và NST số 13, karyotype là 46,XX,t(7;13)(p21;q22) [61]. Anil Biricik và cs phân tích NST và lập karyotype của một cặp vợ chồng phát hiện người chồng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 15 (thuộc nhóm D) với NST số 15 (thuộc nhóm D), người chồng có karyotype là 45,XY,t(15q;15q), người vợ có karyotype bình thường 46,XX. Cặp vợ chồng này có tiền sử 11 lần sảy thai liên tiếp [14].

Như vậy, trong các nghiên cứu ở những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp có mang chuyển đoạn hòa hợp tâm thì trong chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST nhóm D với NST nhóm D hay gặp là sự chuyển đoạn giữa NST số 13 và NST số 14, t(13q;14q). Trong nghiên cứu này, chúng tôi cũng phát hiện các trường hợp mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST nhóm D với NST nhóm D phần lớn xảy ra giữa NST số 13 và NST số 14, một dạng chuyển đoạn thường gặp nhất ở người [13], trong 4 trường hợp mang chuyển đoạn giữa NST nhóm D với NST nhóm D được phát hiện có 3 trường hợp là chuyển đoạn giữa NST số 13 và NST số 14, t(13q;14q), gặp ở 2 người vợ và 1 người chồng, 1 trường hợp là chuyển đoạn giữa NST số 13 và NST số 13, t(13q;13q), gặp ở 1 người vợ (bảng 9).

Bảng 9. Sự phân bố các kiểu chuyển đoạn giữa các NST trong các nhóm

Các kiểu chuyển đoạn

Vợ

Chồng

t(Dq;Dq)

t(13q;13q)

t(13q;14q)

1

2


0

1



t(Dq;Gq)

t(14q;21q)


2

1


t(Gq;Gq)

t(21q;21q)


1

0


Stoll.C và cs [62] khi phân tích 391 cặp bố mẹ sinh con mắc bệnh Down tác giả đã phát hiện 7 cặp bố mẹ mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 14 (nhuộc nhóm D) và NST số 21 (thuộc nhóm G), karyotype ở những người mẹ là 45,XX,t(14q;21q) và ở những người bố là 45,XY,t(14q;21q).

Khi phân tích NST và lập karyotype ở 100 cặp vợ chồng có con mắc hội chứng Down Nguyễn Văn Rực đã phát hiện 1 cặp vợ chồng, trong đó người vợ có karyotype bình thường (46, XX), người chồng mang NST chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NTS 21 (thuộc nhóm G) với NST 21 (thuộc nhóm G), karyotype là 45, XY, t(21q;21q) [5]. Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cũng phát hiện 1 trường hợp là người vợ mang chuyển đoạn hòa hợp tâm giữa NST số 21 với NST số 21, karyotype là 45,XX,t(21q;21q). Nguy cơ về sinh sản của những cặp vợ chồng này hoặc là sảy thai hoặc sinh con Down.

Robinson W.P [60] nhận xét rằng: ở những cặp vợ chồng mang chuyển đoạn hòa hợp tâm nếu xảy ra giữa các NST trong 1 cặp tương đồng thì nguy cơ về sinh sản ở những cặp vợ chồng này hoặc là sảy thai hoặc sinh con bị dị tật bẩm sinh. Nếu sự chuyển đoạn xảy ra giữa các NST khác cặp tương đồng thì nguy cơ về sinh sản ở các cặp vợ chồng này hoặc là sảy thai hoặc sinh con bị dị tật bẩm sinh hoặc sinh ra những đứa trẻ bình thường. M.Azim (2003) đã có kết luận rằng những cặp vợ chồng sảy thai liên tiếp và đã có con bị dị tật bẩm sinh cần được thăm khám, xét nghiệm NST từ đó đưa ra những lời khuyên di truyền nhằm hạn chế việc sinh ra những đứa trẻ dị tật [16].

Dưới đây là karyotype của một số bệnh nhân mang chuyển đoạn hòa hợp tâm được phát hiện trong nghiên cứu của chúng tôi.





Hình 11: Karyotype của bệnh nhân Đặng Thị Anh D. 45,XX,t(13q;14q)



Hình 12. Karyotype của bệnh nhân Đinh Thị Kim D. 45,XX,t(14q;21q)



Hình 13. Karyotype của bệnh nhân Nguyễn T Thanh T. 45,XX,t(21q;21q)

  1. : files -> ChuaChuyenDoi
    ChuaChuyenDoi -> ĐẠi học quốc gia hà NỘi trưỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Thị Hương XÂy dựng quy trình quản lý CÁc công trìNH
    ChuaChuyenDoi -> TS. NguyÔn Lai Thµnh
    ChuaChuyenDoi -> Luận văn Cao học Người hướng dẫn: ts. Nguyễn Thị Hồng Vân
    ChuaChuyenDoi -> 1 Một số vấn đề cơ bản về đất đai và sử dụng đất 05 1 Đất đai 05
    ChuaChuyenDoi -> Lê Thị Phương XÂy dựng cơ SỞ DỮ liệu sinh học phân tử trong nhận dạng các loàI ĐỘng vật hoang dã phục vụ thực thi pháp luật và nghiên cứU
    ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Hà Linh
    ChuaChuyenDoi -> ĐÁnh giá Đa dạng di truyền một số MẪu giống lúa thu thập tại làO
    ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiêN
    ChuaChuyenDoi -> TRƯỜng đẠi học khoa học tự nhiên nguyễn Văn Cường


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương