LỜi cam đoan tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa được ai bảo vệ ở bất kỳ học vị nào



tải về 1.06 Mb.
trang1/12
Chuyển đổi dữ liệu19.07.2016
Kích1.06 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12








LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số liệu, kết quả nghiên cứu nêu trong luận án này là trung thực, khách quan và chưa được ai bảo vệ ở bất kỳ học vị nào.

Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận án này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận án này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2014

Tác giả luận án




Hà Minh Tuân
LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu đề tài và hoàn thành luận án vừa qua, tôi đã nhận được sự giảng dạy, hướng dẫn và chỉ bảo của các thầy cô. Đồng thời tôi cũng đã nhận được sự giúp đỡ, động viên của vợ con, gia đình, bạn bè và đồng nghiệp.

Nhân dịp hoàn thành luận án này, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng, sự biết ơn sâu sắc tới các thầy hướng dẫn khoa học gồm PGS.TS. Mai Văn Sánh và TS. Lê Văn Thông. Hai thầy đã dành nhiều công sức, thời gian hướng dẫn tận tình, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới lãnh đạo Viện Chăn nuôi, các thầy cô giáo của Viện, các cán bộ viên chức của phòng Đào tạo và Thông tin đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu thực hiện đề tài và hoàn thành luận án.

Tôi xin chân thành cảm ơn tới TS. Lê Bá Quế, chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh cọng rạ phục vụ công tác cải tạo giống trâu Việt Nam” đã cho phép tôi được sử dụng các kết quả của đề tài và nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận án.

Tôi cũng xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo, cán bộ công nhân viên của Trung tâm giống gia súc lớn Trung ương, của Trạm nghiên cứu và sản xuất tinh đông lạnh Moncada, của Bộ môn Sinh lý Sinh sản và Tập tính vật nuôi (Viện Chăn nuôi), của Trung tâm Nghiên cứu ứng dụng Khoa học kỹ thuật Chăn nuôi tỉnh Thanh Hóa và Trung tâm Giống chăn nuôi tỉnh Nghệ An đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài.

Và tôi xin chân thành cảm ơn tới toàn thể gia đình, bố mẹ, vợ con, các anh em, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên, khuyến khích và tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành luận án này!

Hà Nội, ngày 05 tháng 12 năm 2014



Tác giả luận án


































Hà Minh Tuân


MỤC LỤC


MỞ ĐẦU 1

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

2.1. Mục tiêu 4

2.2. Yêu cầu 4

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 4

3.1. Ý nghĩa khoa học 4

3.2. Ý nghĩa thực tiễn 5

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 5

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 46

2.5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 49

2.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51

2.7. XỬ LÝ SỐ LIỆU 61

3.2.1. Ảnh hưởng của cá thể đến một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh trâu Việt Nam 66



3.2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh trâu Việt Nam 80

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Chữ viết tắt

Ý nghĩa của chữ viết tắt

A

Activity (Hoạt lực tinh trùng)

ADN

Acid Deoxyribo Nucleic

ADP

Adenosin diphosphat

ATP

Adenosin triphosphat

C

Concentration (Nồng độ tinh trùng)

cs

Cộng sự

ĐTC

Đạt tiêu chuẩn

FAO

Food and Agriculture Organization of the United Nations: Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc

FSH

Follicle-stimulating hormone

K


Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình

KTT

Khai thác tinh

LDL

Low density lipoproteins

LH

Luteinizing hormone

MT1

Môi trường 1

MT2

Môi trường 2

MT3

Môi trường 3

PP1

Phương pháp 1

PP2

Phương pháp 2

PGF2α

 Prostaglandin F2α

SD

Standard Deviation: Độ lệch chuẩn

TCVN

Tiêu chuẩn Việt Nam

TTNT

Thụ tinh nhân tạo

UI

Unit International

V

Volume (Lượng xuất tinh)

VAC

Tổng số tinh trùng sống tiến thẳng

DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ BẢNG BIỂU

MỞ ĐẦU 1

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 4

2.1. Mục tiêu 4

2.2. Yêu cầu 4

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 4

3.1. Ý nghĩa khoa học 4

3.2. Ý nghĩa thực tiễn 5

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN 5

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 6

Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 46

2.2. ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 46

2.5. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 49

2.6. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 51

2.7. XỬ LÝ SỐ LIỆU 61

3.2.1. Ảnh hưởng của cá thể đến một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh trâu Việt Nam 66

3.2.2. Ảnh hưởng của mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh trâu Việt Nam 80


MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong hơn 5.000 năm qua, trâu là loài động vật cung cấp sức kéo, sữa và thịt chất lượng cao cho con người, đồng thời trâu còn cung cấp phân bón cho cây trồng và là một nguồn vốn tiết kiệm góp phần cải thiện cuộc sống của người nông dân (Gupta và Das, 1994; Do Kim Tuyen và Nguyen Van Ly, 2001, Cruz, 2010; Pasha và Hayat, 2012). Đặc biệt, trâu có khả năng chuyển đổi các loại thức ăn thô xơ kém chất lượng thành sản phẩm thịt, sữa có chất lượng cao tốt hơn so với bò (Terramoccia và cs., 2000, Agarwal và cs., 2009), do vậy chúng là vật nuôi có vai trò quan trọng ở những vùng khó khăn và với những nông hộ nghèo, chăn nuôi nhỏ lẻ (Cruz, 2010; Pasha và Hayat, 2012).

Năm 2012, trên thế giới có khoảng 198,88 triệu con trâu, chủ yếu phân bố ở Châu Á (chiếm 97,17%) và tập trung chủ yếu ở 3 nước: Ấn Độ (115,40 triệu con), Pakistan (32,70 triệu con), Trung Quốc (23,25 triệu con) (FAO, 2013). Tuy nhiên, số lượng trâu ở nhiều nước có xu hướng giảm qua các năm như Thái Lan, Trung Quốc, Philippin, Campuchia, Italia, Braxin, Nga … (FAO, 2013). Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng suy giảm số lượng và chất lượng đàn trâu, như quá trình cơ giới hóa nông nghiệp làm giảm nhu cầu trâu cày kéo, quá trình đô thị hóa dẫn đến tình trạng thiếu các bãi chăn thả, thiếu các chính sách phát triển chăn nuôi trâu phù hợp, thiếu trâu đực giống tốt … (Cruz, 2010), ngoài ra còn do một số đặc điểm hạn chế trong sinh sản của trâu như sinh sản theo mùa, khó bảo quản lạnh tinh trâu đực làm giảm hiệu quả TTNT … (Sansone và cs., 2000; Pasha và Hayat, 2012).

Việt Nam thuộc nhóm những quốc gia có đàn trâu lớn trên thế giới nhưng cũng xảy ra hiện tượng suy giảm cả về số lượng, khối lượng và tầm vóc (Nguyễn Quang Tuyên và cs., 2006, Đỗ Kim Tuyên và Hoàng Kim Giao, 2009). Đàn trâu năm 2010 có 2,88 triệu con nhưng đến năm 2013 chỉ còn 2,56 triệu con, giảm 11,11% (Tổng Cục thống kê, 2014). Do vậy, chăn nuôi trâu ở nước ta không đáp ứng đủ nhu cầu về sản phẩm thịt trâu, một đặc sản hiện nay của người tiêu dùng Việt Nam. Năm 2013, Việt Nam nhập khẩu 247.819 tấn thịt trâu từ Ấn Độ, chiếm 40% thị phần xuất khẩu thịt trâu của Ấn Độ (Bộ Công Thương, 2014a). Đầu năm 2014, Việt Nam cũng đã nhập khẩu trâu sống từ Australia về mổ thịt đáp ứng nhu cầu tiêu thụ thịt trâu trong nước (Bộ Công Thương, 2014b).

Để giúp tăng đàn và tăng năng suất, chất lượng sản phẩm vật nuôi, biện pháp kỹ thuật được áp dụng rộng rãi hiện nay là cải thiện khả năng sinh sản thông qua kỹ thuật thụ tinh nhân tạo (Watson, 2000). Việc sử dụng những con đực giống ưu tú sản xuất tinh đông lạnh và áp dụng phối giống TTNT cho đàn cái sẽ giúp tăng cường tốc độ cải tiến di truyền, góp phần thúc đẩy quá trình chọn giống vật nuôi nói chung và chọn giống trâu nói riêng một cách bền vững (Vishwanath và Shannon, 2000). Các nước chăn nuôi trâu phát triển như Ấn Độ, Pakistan, Trung Quốc, Braxin … đã thành công trong việc triển khai các dự án cải tạo, phát triển giống trâu trong nước thông qua công tác TTNT và sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ (Anzar và cs. 2003; Liang và cs., 2004; Vale, 2010; Bhakat và cs., 2011). Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, chưa có tác giả nào, công trình nào nghiên cứu sản xuất tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ một cách đầy đủ và phù hợp với điều kiện thực tiễn của nước ta để phục vụ công tác TTNT trâu ở các địa phương. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài “Nghiên cứu sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu Việt Nam”.

2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

2.1. Mục tiêu

Đánh giá được một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch, xác định được môi trường pha loãng, phương pháp đông lạnh tinh trâu thích hợp và đánh giá được khả năng sản xuất tinh cọng rạ của trâu Việt Nam (Swamp buffalo) nhằm phục vụ công tác giống trâu của nước ta.

2.2. Yêu cầu

- Huấn luyện được các trâu Việt Nam có phản xạ nhảy giá khai thác tinh dịch bằng âm đạo giả và xác định được tuổi bắt đầu khai thác tinh của trâu Việt Nam.

- Đánh giá được ảnh hưởng của cá thể, mùa vụ đến một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch của trâu Việt Nam.

- Xác định được môi trường pha loãng tinh dịch và phương pháp đông lạnh tinh trùng trâu Việt Nam thích hợp.

- Đánh giá được khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu Việt Nam.

- Kiểm nghiệm được chất lượng tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu Việt Nam.

3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

3.1. Ý nghĩa khoa học

- Kết quả của luận án giúp bổ sung các dữ liệu khoa học về thời gian huấn luyện khai thác tinh dịch bằng âm đạo giả, tuổi bắt đầu khai thác tinh dịch, một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch, khả năng sản xuất tinh đông lạnh, môi trường pha loãng tinh dịch, phương pháp đông lạnh tinh trùng phù hợp và ảnh hưởng của mùa vụ trong điều kiện chăn nuôi ở miền Bắc đối với con trâu Việt Nam.

- Luận án là tài liệu tham khảo cho các cơ sở nghiên cứu, các trường đại học, cao đẳng cũng như cho cơ sở chăn nuôi trâu đực giống.

3.2. Ý nghĩa thực tiễn

- Sản xuất được tinh trâu Việt Nam đông lạnh dạng cọng rạ đạt chất lượng cao, phục vụ công tác TTNT trâu ở nước ta, góp phần cải tạo, nâng cao số lượng và chất lượng đàn trâu Việt Nam.

- Thông qua nghiên cứu ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sản xuất tinh của trâu Việt Nam, giúp cơ sở chăn nuôi khai thác tối đa tiềm năng của các trâu đực giống.

4. PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu huấn luyện khai thác tinh dịch bằng âm đạo giả, một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch, môi trường pha loãng, phương pháp đông lạnh và khả năng sản xuất tinh đông lạnh dạng cọng rạ của trâu Việt Nam tại thành phố Hà Nội.

- Nghiên cứu tỷ lệ thụ thai ở lần phối đầu của tinh cọng rạ trâu Việt Nam trên đàn trâu cái địa phương tại tỉnh Thanh Hóa, tỉnh Nghệ An.

5. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN

- Luận án là công trình khoa học đầu tiên đã đánh giá được một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch, khả năng sản xuất tinh đông lạnh của trâu Việt Nam và ảnh hưởng của mùa vụ đến khả năng sinh sản của trâu đực trong điều kiện khí hậu miền Bắc, Việt Nam.

- Luận án đã xác định được môi trường pha loãng tinh dịch trâu và phương pháp đông lạnh tinh trùng trâu phù hợp với điều kiện thực tiễn sản xuất tinh đông lạnh ở Việt Nam.

- Khẳng định được Việt Nam sản xuất được tinh trâu đông lạnh dạng cọng rạ chất lượng cao phục vụ công tác giống trâu Việt Nam.

Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. GIỚI THIỆU VỀ TRÂU VIỆT NAM

Trâu là gia súc lớn nhai lại, thuộc lớp động vật có vú (Mammalia), bộ guốc chẵn (Artiodactyla), bộ phụ nhai lại (Ruminantia), họ sừng rỗng (Bovidae), tộc bò (Bovini), loài trâu (Bubalus bubalis) (Wikipedia, 2013).

Trâu đã được thuần hóa cách đây khoảng 5.000 năm, muộn hơn so với việc thuần dưỡng bò (khoảng 10.000 năm trước) (Borghese và Mazzi, 2005). Ở châu Á, trâu được thuần dưỡng ở vùng sông Ấn và vùng Lưỡng Hà (Irắc) từ giữa thiên niên kỷ thứ ba trước công nguyên (khoảng 30 thế kỷ trước công nguyên), trâu nhà được nuôi ở Trung Quốc từ 2.000 năm trước công nguyên và có lẽ được đưa từ phương Nam tới (Lê Viết Ly và Mai Văn Sánh, 2004).

Có 2 loại hình trâu gồm trâu sông (River buffalo) và trâu đầm lầy (Swamp buffalo). Chúng có chung nguồn gốc từ trâu rừng và được tách biệt ước tính đã ít nhất từ 10.000 đến 15.000 năm trước đây (Barker và cs., 1997). Do quá trình chọn lọc và sử dụng mà ngoại hình, khả năng sản xuất và số lượng nhiễm sắc thể của hai loại hình trâu có những đặc điểm khác nhau. Trâu sông có 50 cặp nhiễm sắc thể (Ahmad và cs., 2004), chúng tập trung chủ yếu ở vùng Tây Á, sử dụng chủ yếu để khai thác sữa (Drost, 2007) và được chia làm nhiều giống khác nhau như Murrah, Nili-Ravi, Kundi, Surti, Mehsana, Jafarabadi … (Cockrill 1974). Trâu trâu đầm lầy có 48 cặp nhiễm sắc thể (Supanuam và cs., 2009), chúng sống tập trung ở vùng Đông Nam Á, được sử dụng chủ yếu để cày kéo và chỉ có một giống do ít được chọn lọc cải tạo nhưng có những tên gọi địa phương khác nhau như trâu Ngố, trâu Gié ở Việt Nam, trâu Carabo ở Philipin, trâu Krbau ở Malaysia…(Lê Viết Ly và Mai Văn Sánh, 2004)

Trâu Việt Nam là trâu đầm lầy (Berthouly và cs., 2010), sống tập trung chủ yếu ở 2 vùng trung du - miền núi phía Bắc (chiếm 56,77%) và vùng Bắc Trung Bộ - Duyên hải miền Trung (chiếm 30,54%) (Cục Chăn nuôi, 2010). Ngoại hình trâu Việt Nam có lông thưa, da dày, màu xám tro sẫm, đa số có vệt khoang trắng ngang phía dưới cổ và một vệt phía trên ngực. Đầu to, trán phẳng và hẹp, mặt ngắn, mõm rộng. Sừng dài, thon, cong hình bán nguyệt, đuôi sừng nhọn. Tai to rộng, cổ dài thẳng. Thân ngắn, vai đầy, ngực lép, bụng to, mông thấp, đuôi ngắn, chân thấp và mảnh, móng xoè. Trâu cái có vú bé và lùi về phía sau, trâu đực có dương vật dính chặt vào phần bụng, trừ đoạn ngắn phía đầu dương vật vận động tự do, bìu dái gọn, thích hợp cho việc cày kéo. Trâu thường có những vòng lông xoắn trên mình gọi là khoáy. Số lượng khoáy biến động từ 1 đến 9, các khoáy có sự khác nhau về vị trí, kích thước, hình dáng và chiều xoáy của lông (Lê Viết Ly và Mai Văn Sánh, 2004; Mai Văn Sánh, 2008).

1.2. KHAI THÁC TINH DỊCH VÀ MỘT SỐ CHỈ TIÊU SỐ LƯỢNG, CHẤT LƯỢNG TINH DỊCH TRÂU



1.2.1. Khai thác tinh dịch

Phương pháp khai thác tinh dịch tốt là phương pháp giúp thu thập được số lượng, chất lượng tinh dịch tốt, không ảnh hưởng đến sức khỏe sinh sản vật nuôi. Hiện nay, có 3 phương pháp khai thác tinh dịch phổ biến ở vật nuôi gồm: i) Sử dụng âm đạo giả; ii) kích thích bằng điện qua trực tràng; iii) mát xa qua trực tràng. Việc sử dụng các phương pháp này tùy thuộc vào loài vật nuôi và tình trạng sức khỏe của cá thể đực giống. Phương pháp khai thác tinh bằng âm đạo giả được sử dụng cho hầu hết các loại gia súc nhưng ở gia cầm thì chỉ có thể sử dụng phương pháp mát xa để lấy tinh dịch (Dorji, 2009).

Khai thác tinh dịch bằng âm đạo giả là phương pháp được sử dụng chủ yếu trên gia súc do đảm bảo điều kiện xuất tinh gần với tự nhiên nên tinh dịch thu được có chất lượng tốt. Âm đạo giả được cấu tạo sao cho gần tương đương với âm đạo của gia súc cái của từng loài. Với trâu, bò âm đạo giả thường gồm các bộ phận sau: i) vỏ có hình ống làm bằng cao su dày (hoặc bằng nhựa), có đường kính trong 6-7cm và dài 40cm, có lỗ cắm van để bơm nước ấm và không khí vào nhằm điều khiển nhiệt độ và áp suất cho gần giống với điều kiện của âm đạo thật. ii) Ruột làm bằng cao su có độ đàn hồi lớn, hình ống dài 60-70cm, đường kính 6-7cm. iii) phễu hứng tinh làm bằng cao su mỏng dài khoảng 20cm, miệng có đường kính 5-6cm, miệng loe to, phía cuối thu nhỏ, đường kính 1,2-1,5cm. iv) ống hứng tinh làm bằng nhựa hoặc thủy tinh, thể tích 15ml, có chia vạch và có gờ để nối vào phễu (Đinh Văn Cải và Nguyễn Ngọc Tấn, 2007). Khi lấy tinh gia súc, âm đạo giả được lắp các bộ phận vào với nhau, sau đó rót nước ấm (40-450C) vào khoảng giữa 2 lớp vỏ và ruột âm đạo giả nhằm tạo áp lực và nhiệt độ tương đương với âm đạo tự nhiên. Đồng thời, bôi vaseline vào lòng âm đạo giả để tạo độ trơn cho âm đạo (Đinh Văn Cải và Nguyễn Ngọc Tấn, 2007; Dorji, 2009). Nhiệt độ nước ấm trong âm đạo giả phụ thuộc vào cá thể gia súc và điều kiện thời tiết mùa vụ trong năm. Nhiệt độ quá cao có thể gây tổn thương cho dương vật gia súc, nhiệt độ quá thấp sẽ làm giảm kích thích hưng phấn của gia súc và làm giảm số lượng, chất lượng tinh dịch khai thác (Dorji, 2009).

Khai thác tinh dịch bằng âm đạo giả cần phải có quá trình huấn luyện gia súc tạo phản xạ có điều kiện nhảy giá nhân tạo. Có thể sử dụng gia súc (cùng giống) làm giá nhảy hoặc có thể sử dụng các vật liệu chắc chắn (gỗ, sắt …) tạo giá nhảy có hình dáng phù hợp với gia súc (Đinh Văn Cải và Nguyễn Ngọc Tấn, 2007; Dorji, 2009). Tuổi huấn luyện khai thác tinh thường bắt đầu khi gia súc thành thục về tính dục, với bò đực có thể khai thác tinh từ 12 tháng tuổi đến 14 tháng tuổi (Hafez và Hafez, 2000) nhưng trâu đực (Swamp buffalo) đến 24 tháng tuổi mới dậy thì (McCool và  Entwistle, 1989) và bắt đầu khai thác tinh vào 29 tháng tuổi (Nordin và cs., 1985). Thời gian huấn luyện gia súc nhảy giá khai thác tinh thành thục phụ thuộc vào một số yếu tố như phương pháp huấn luyện, kỹ thuật viên huấn luyện, cá thể … Nhìn chung, khi được huấn luyện các nhiệm vụ từ đơn giản đến phức tạp, nhóm gia súc có tốc độ học tập nhanh nhất so với các nhóm vật nuôi khác (Kilgour, 1987).

Theo Barszcz và cs. (2012), khi đưa gia súc vào khai thác tinh nhân tạo cần chuẩn bị gia súc làm quen và đánh hơi xung quanh, cho nhảy dứ vào giá nhảy hoặc con đực khác để kích thích hưng phấn sinh dục nhằm mục đích tăng cường số lượng, chất lượng tinh dịch khi khai thác bằng âm đạo giả.

Tuy nhiên, có những gia súc đực không thích ứng với việc khai thác tinh bằng âm đạo giả do tuổi quá non hoặc quá già nên kém hưng phấn sinh dục, gia súc bị đau hoặc yếu chân, bị thương tật không nhảy giá được … Do vậy, việc sử dụng dụng cụ khai thác tinh bằng điện (electroejaculation) là biện pháp thích hợp nhất (Dorji, 2009). Đây là kỹ thuật sử dụng một điện cực đưa vào trực tràng để kích thích các dây thần kinh của hệ thống sinh sản qua khung xương chậu bằng một loạt các xung điện yếu và ngắn. Tuy nhiên, biện pháp này có nhược điểm là tinh dịch thường bị nhiễm bẩn với nước tiểu, dễ làm tổn thương dây thần kinh hông của gia súc (Dorji, 2009), sức kháng đông của tinh trùng kém hơn so với khai thác tinh bằng âm đạo giả (Quinn và cs., 1968).

Mát xa qua trực tràng cũng là một phương pháp khai thác tinh hiệu quả ở gia súc (Palmer và cs., 2004.). Phương pháp này được cho là khá thuận lợi khi sử dụng trên gia súc và không cần mất công đào tạo (Wolfe, 2001), do đó có thể sử dụng khi không có điều kiện khai thác tinh bằng âm đạo giả hoặc dụng cụ khai thác tinh bằng điện. Tuy nhiên, số lượng và chất lượng tinh dịch gia súc khai thác bằng phương pháp này kém hơn so với 2 phương pháp nêu trên (Persson, 2007).

1.2.2. Một số chỉ tiêu số lượng và chất lượng tinh dịch trâu

Đối với trâu, việc khai thác tinh dịch chủ yếu sử dụng phương pháp dùng âm đạo giả và thường thực hiện vào buổi sáng, trước khi cho ăn. Có thể lấy một lần hoặc lấy đúp 2 lần (lần 2 cách lần 1 từ 15 phút đến 30 phút), tùy thuộc vào độ hưng phấn sinh dục của gia súc (Jainudeen và cs., 1982, Koonjaenak và cs., 2007a, Vale, 2010; Bhakat và cs., 2011). Một số chỉ tiêu số lượng, chất lượng tinh dịch được kiểm tra, đánh giá gồm lượng xuất tinh (ml), nồng độ tinh trùng (tỷ/ml), hoạt lực tinh trùng (%), pH tinh dịch, tỷ lệ tinh trùng kỳ hình (%), tỷ lệ tinh trùng sống (%). Các chỉ tiêu này có ý nghĩa trong việc phát hiện các trường hợp sinh sản yếu hoặc vô sinh ở gia súc (Rodriguez-Martinez, 1998).



1.2.2.1. Lượng xuất tinh

Lượng xuất tinh (V) là thể tích tinh dịch của một lần lấy tinh (ml/lần) và được đo bằng ống nghiệm có vạch ml. Nghiên cứu trâu đầm lầy ở Malaysia có độ tuổi từ 2 đến 6 tuổi, Jainudeen và cs. (1982) thấy lượng xuất tinh trung bình đạt 2,9 ml. Một nghiên cứu tương tự của Nordin và cs. (1990) với trâu đầm lầy ở các độ tuổi khác nhau từ 29 đến 32 tháng tuổi, 33 đến 41 tháng tuổi, 42 đến 53 tháng tuổi, 54 đến 65 tháng tuổi và trên 65 tháng tuổi, lượng xuất tinh trung bình lần lượt là 1,5ml, 1,8ml, 2,1ml, 3,5ml và 3,7ml.

Theo Vale (1994a), trâu đực trẻ ở Braxin có lượng xuất tinh từ 1ml đến 3 ml, nhưng với trâu đực lớn tuổi, lượng xuất tinh có thể đạt 6ml. Trâu Murrah ở Ấn Độ có độ tuổi từ 2,31 đến 7,36 năm tuổi có lượng xuất tinh đạt 2,58ml, dao động từ 1,79ml đến 3,61ml (Bhakat và cs., 2011).

Tuy nhiên Javed và cs. (2000) nghiên cứu thấy rằng, giữa các độ tuổi của trâu Nili-Ravi không có sự khác nhau về lượng xuất tinh, trâu dưới 5 tuổi có lượng xuất tinh đạt 4,35ml, từ 6 tuổi đến 10 tuổi có lượng xuất tinh đạt 4,96ml và trên 11 tuổi có lượng xuất tinh đạt 4,77ml.

Sajjad và cs. (2007) cho biết, trâu sông 14 năm tuổi vẫn có lượng xuất tinh đạt 3,59 ml và còn có thể sản xuất tinh dịch chất lượng đảm bảo tới 15 năm tuổi. Còn ở Thái Lan, trâu đầm lầy 18 năm tuổi vẫn sản xuất tinh phục vụ công tác TTNT (Koonjaenak và cs., 2007a).

Kết quả nghiên cứu của Manik và Mudgal (1984) công bố, trâu Murrah có lượng xuất tinh dao động từ 3,56ml đến 4,34ml ở mùa xuân, ở mùa hạ lượng xuất tinh dao động từ 3,98ml đến 4,28ml, ở mùa thu lượng xuất tinh dao động từ 3,48ml đến 4,38ml và ở mùa đông lượng xuất tinh dao động từ 3,88ml đến 4,02ml.

Koonjaenak và cs. (2007a) nghiên cứu ở Thái Lan cho biết, trong mùa mưa (từ tháng 7 đến tháng 10) trâu đầm lầy có lượng xuất tinh đạt 3,6ml, mùa đông (từ tháng 11 đến tháng 2) có lượng xuất tinh đạt 3,2ml, mùa hạ (từ tháng 3 đến tháng 6) có lượng xuất tinh đạt 3,8ml. Tuy nhiên lượng xuất tinh của trâu giữa các mùa không có sự khác nhau.

Nghiên cứu bổ sung một số loại thức ăn cho trâu đực từ 15 tháng tuổi, Dahiya và Singh (2013) cho biết, trâu đực sử dụng thức ăn có khô dầu hạt bông có lượng xuất tinh ban đầu đạt 2,13ml ở 31,6 tháng tuổi, sử dụng thức ăn có khô dầu hạt cải và bột cá có lượng xuất tinh đạt 0,75ml ở 33,6 tháng tuổi và sử dụng thức ăn có khô dầu lạc có lượng xuất tinh đạt 1,07ml ở 32,75 tháng tuổi.



1.2.2.2. Hoạt lực tinh trùng

Hoạt lực tinh trùng (A) thể hiện số lượng tinh trùng hoạt động tiến thẳng trong tinh dịch và được đánh giá ước tính trực quan theo tỷ lệ phần trăm thông qua kính hiển vi phản pha hoặc hệ thống phân tích tinh dịch được hỗ trợ bởi máy tính (Computer Aided Semen Analysis – CASA). Hệ thống CASA đã cung cấp các thông số mới trong việc đánh giá khả năng vận động của tinh trùng như tốc độ, hướng và tần số vận động của tinh trùng (Fabbrocini và cs., 1995; Sansone và cs., 2000; Agnieszka và cs., 2012). Hoạt lực tinh trùng là một trong những chỉ tiêu quan trọng và là chỉ tiêu chủ yếu trong đánh giá chất lượng của tinh dịch, nếu chỉ tiêu hoạt lực tinh trùng không đạt tiêu chuẩn sẽ không thể sản xuất được tinh đông lạnh có chất lượng tốt, cho dù các chỉ tiêu khác của tinh dịch vẫn đảm bảo tiêu chuẩn.

Aguiar và cs. (1994) quan sát thấy có 78,6% tinh trùng di động tiến thẳng trong tinh dịch của trâu ở Brazil. Trâu ở Italia có hoạt lực tinh trùng dao động từ 40% đến 82% (Galli và cs., 1993). Kumar và cs. (1993a) thấy rằng hoạt lực tinh trùng trâu Murrah ở Ấn Độ dao động từ 60,8% đến 69% và có khoảng 30% số mẫu tinh trùng không di động, nhưng sau khi pha loãng tinh trùng di động trở lại bình thường. Bhakat và cs. (2011) cũng công bố kết quả tương tự với trâu Murrah ở Ấn Độ từ 2,31 đến 7,36 năm tuổi, hoạt lực tinh trùng đạt 66,63%.

Nghiên cứu trên trâu Nili-Ravi, Zafar và cs. (1988) quan sát thấy hoạt lực tinh trùng đạt 63% ở mùa nóng khô, đạt 64% ở các mùa nóng ẩm, mùa ấm áp và mùa lạnh. Tuy nhiên Javed và cs. (2000) công bố kết quả quan sát hoạt lực tinh trùng ở trâu Nili-Ravi thấp hơn, trung bình chỉ đạt 56,89%, trâu dưới 5 tuổi có hoạt lực tinh trùng đạt 55,20%, trâu từ 6 tuổi đến 10 tuổi có hoạt lực tinh trùng đạt 59,50%, trâu trên 11 tuổi có hoạt lực tinh trùng đạt 56,84%.

Mandal và cs. (2000) thấy rằng, ở mùa hạ trâu Murrah có hoạt lực tinh trùng đạt 63,86%, sang mùa mưa và mùa đông hoạt lực tinh trùng trâu tăng lên tương ứng là 67,66% và 67,99%. Một nghiên cứu khác của Bhosrekar và cs. (1991) công bố trước đó cho thấy kết quả đánh giá hoạt lực tinh trùng trâu Murrah rất cao, đạt 86% ở mùa hạ, mùa mưa, mùa thu và đạt 85% ở mùa đông.

1.2.2.3. Nồng độ tinh trùng

Nồng độ tinh trùng (C) được tính là số lượng tinh trùng có trong một ml tinh dịch. Chỉ tiêu này cùng với lượng xuất tinh được dùng để xác định lượng môi trường pha loãng và số lượng tinh đông lạnh sản xuất được. Để đánh giá nồng độ tinh trùng có thể dùng buồng đếm hồng cầu, buồng đếm Neubauer, buồng đếm Makler, máy đo quang phổ hoặc máy đo dòng chảy tế bào (Flow cytometer). Tuy nhiên việc sử dụng máy đo quang phổ và máy đo dòng chảy tế bào là những phương pháp có hiệu quả cao, thời gian nhanh và giảm được lỗi kỹ thuật do con người (Anzar và cs., 2009; Atiq và cs., 2011).

Ở Brazil, nồng độ tinh trùng trâu là 1,17 tỷ/ml (Aguiar và cs., 1994) và dao động từ 0,6 tỷ/ml đến 1,2 tỷ/ml (Vale, 1994a). Ở Italia, Galli và cs. (1993) cho biết nồng độ tinh trùng trâu dao động từ 0,69 tỷ/ml đến 1,29 tỷ/ml. Còn ở Ấn Độ, trâu Murrah có nồng độ tinh trùng dao động từ 0,52 tỷ/ml đến 1,03 tỷ/ml (Kumar và cs., 1993a ). Tuy nhiên, tác giả Bhakat và cs. (2011) cũng nghiên cứu ở Ấn Độ đã công bố kết quả cao hơn, trâu Murrah từ 2,31 đến 7,36 năm tuổi có nồng độ tinh trùng dao động từ 0,85 tỷ/ml đến 1,13 tỷ/ml, trung bình đạt 0,99 tỷ/ml.

Nordin và cs. (1985) cho biết, trâu đầm lầy từ 30 đến 72 tháng tuổi, nồng độ tinh trùng 1,13 tỷ/ml, kết quả này tương đương với nghiên cứu của Jainudeen và cs. (1982) trên trâu đầm lầy ở Malaysia từ 2 đến 6 năm tuổi, nồng độ tinh trùng đạt 1,06 tỷ/ml.

Theo Javed và cs. (2000) cho biết, trâu Nili-Ravi dưới 5 tuổi có nồng độ tinh trùng đạt 1,07 tỷ/ml, từ 6 tuổi đến 10 tuổi có nồng độ tinh trùng đạt 1,05 tỷ/ml và trên 11 tuổi có nồng độ tinh trùng đạt 0,90 tỷ/ml. Đến 14 năm tuổi, trâu Nili-Ravi có nồng độ tinh trùng vẫn đạt 0,99 tỷ/ml (Sajjad và cs., 2007).

Kết quả nghiên cứu bổ sung thức ăn cho trâu đực trẻ từ 15 tháng tuổi cho thấy, trâu đực sử dụng thức ăn có khô dầu hạt bông, khai thác tinh ở 31,6 tháng tuổi và có nồng độ tinh trùng đạt 1,18 tỷ/ml. Trâu đực sử dụng thức ăn có khô dầu hạt cải và bột cá, khai thác tinh ở 33,6 tháng tuổi và có nồng độ tinh trùng đạt 0,35 tỷ/ml. Trâu đực sử dụng thức ăn có khô dầu lạc, khai thác tinh ở 32,75 tháng tuổi và có nồng độ tinh trùng đạt 0,32 tỷ/ml. Việc bổ sung thức ăn khác nhau cho trâu đực trẻ đã ảnh hưởng đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng tinh do tác động tới nồng độ testosteron trong máu (Dahiya và Singh, 2013).



1.2.2.4. Tỷ lệ tinh trùng kỳ hình

Ở điều kiện bình thường, tinh trùng có hình dạng đặc trưng cho mỗi loài. Tuy nhiên, vì một lý do nào đó trong quá trình sinh tinh hoặc đông lạnh tinh trùng, mà hình dạng tinh trùng có thể bị thay đổi hình thái như khuyết tật ở đầu hoặc đuôi, khuyết tật acrosom, có giọt bào tương bám vào, gẫy đuôi, vỡ ... Có nhiều phương pháp khác nhau được sử dụng để đánh giá hình thái tinh trùng ở gia súc nói chung và trâu nói riêng như cố định bằng formalin, nhuộm bằng eosin - nigrosin (Blom, 1950; Nordin và cs., 1990) và sau đó soi bằng kính hiển vi thường hoặc kính hiển vi điện tử (Suzuki và cs., 1997). Đối với tinh trùng đã được đông lạnh, sự nhuộm màu có thể bị ảnh hưởng tiêu cực của lòng đỏ trứng và glycerol, do vậy cần rửa tinh trùng trước khi đánh giá tỷ lệ kỳ hình (Zambelli và Cunto, 2006).

Ở trâu Nili-Ravi, hình dạng đầu bất thường, đuôi uốn cong và đuôi cuộn là thường gặp nhất (Heuer và cs., 1982). Kỳ hình đầu tinh trùng trâu Nili-Ravi chiếm 5,78%, kỳ hình đuôi tinh trùng dao động từ 3,92% đến 5,7% (Saeed và cs., 1990). Sajjad và cs. (2007) cho biết, trâu Nili-Ravi 14 năm tuổi có tỷ lệ tinh trùng kỳ hình chiếm 11,67%.

Koonjaenak và cs. (2007b) cho biết, ở trâu đầm lầy ở Thái Lan có các dạng kỳ hình phổ biến nhất là tinh trùng hình quả lê, sưng phồng acrosome, giọt bào tương, cong đuôi, cuộn đuôi.



















































: uploads -> files
files -> VIỆn chăn nuôi trịnh hồng sơn khả NĂng sản xuất và giá trị giống của dòng lợN ĐỰc vcn03 luậN Án tiến sĩ NÔng nghiệp hà NỘI 2014
files -> Btl bộ ĐỘi biên phòng phòng tài chíNH
files -> Bch đOÀn tỉnh đIỆn biên số: 60 -hd/TĐtn-tg đOÀn tncs hồ chí minh
files -> BỘ NÔng nghiệP
files -> PHỤ LỤC 13 MẪU ĐƠN ĐỀ nghị HỌC, SÁt hạch đỂ CẤp giấy phép lái xe (Ban hành kèm theo Thông tư số 46/2012/tt-bgtvt ngày 07 tháng 11 năm 2012 của Bộ trưởng Bộ gtvt) CỘng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam độc lập Tự do Hạnh phúc
files -> TRƯỜng cao đẲng kinh tế KỸ thuật phú LÂm cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam
files -> CHƯƠng trình hoạT ĐỘng lễ HỘi trưỜng yên năM 2016 Từ ngày 14 17/04/2016
files -> Nghị định số 79/2006/NĐ-cp, ngày 09/8/2006 của Chính phủ Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Dược
files -> MỤc lục mở ĐẦU 1 phần I. ĐIỀu kiện tự nhiêN, kinh tế, XÃ HỘI 5
files -> BẢng tóm tắt quyền lợI, phạm VI, CÁC ĐIỂm loại trừ VÀ HƯỚng dẫn thanh toán bảo hiểm của hợP ĐỒng nguyên tắc tập thể ngưỜi thân cbcnv vsp


  1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   12


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương