LỊch sử ngành giao thôNG, VẬn tải tỉnh hải dưƠng từ thời phong kiếN ĐẾn năM 2010 Khái quát về giao thông vận tải qua các thời


- Quản lý vận tải, xếp dỡ và công nghiệp GTVT



tải về 1.64 Mb.
trang8/19
Chuyển đổi dữ liệu04.08.2016
Kích1.64 Mb.
1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   19

2.- Quản lý vận tải, xếp dỡ và công nghiệp GTVT

+ Sản lượng vận tải:




Đơn vị

Vận chuyển

Luân chuyển

Tấn hàng

So với 1993 %

Tkm

So với KH %

So với 1993 %

Vận tải hàng hóa
















Cty ô tô VTHH

51.337

106

4.619.370

104

106

Cty VT đường thủy

44.500

75

10.741.000

69

79

Lực lượng ngoài QD

3.909.000

180

98.750.000




188

Vận tải khách

(người)




(ngKm)







Cty ô tô VTHK

350.000

92

50.000.000

94

111

Lực lượng ngoài QD

2.423.000

168

44.543.000




84

Xếp dỡ

(tấn XD)




(Tấn TQua)







Cảng Cống Câu

108.164

220

165.668

147

261




Các đơn vị công nghiệp GTVT

Sản lượng (Tr.đ)

So với KH %

So với 1993 %

XN cơ khí thủy

1.200

80

100

- Ngành đã xây dựng hơng án quản lý vận tải, tuyên truyền, kiểm tra, sử lý những vi phạm, hướng dẫn chủ phương tiện đăng ký và làm nghĩa vụ với Nhà nước. Xây dựng phương án quản lý bến xe để từng bước quản lý trật tự vận tải trong các thị xã. Rà soát, sắp xếp các doanh nghiệp trong ngành, đánh giá kiểm tra các tổ chức ngoài QD, quản lý các HTX vận tải, phát triển lực lượng vận tải.

- Triển khai các quy định ủa Nhà nước về thể lệ dăng ký hành chính tàu sông, cấp giấy phép hành nghề trên sông, giấy pháp vận tải đường bộ. Tổng điều tra lực lượng vận tải ngoài quốc doanh.

Song còn nhiều tồn tại:

- Trật tự vận tải, nhất là vân chuyển hành khách ở các đô thị chưa tốt, tình trạng không đăng ký hành nghề, không chấp hành điều hòa luồng tuyến, chạy vòng vo, đỗ đón trả khách không đúng nơi quy định còn nhiều.

- Chất lượng phương tiện vận tải còn kém, nất là xe khách và xe công nông, cưa an toàn trong vận tải khách.

- Tàu thuyền đóng không theo thiết kế chuẩn, không qua đăng kiểm còn nhiều.

- Các xí nghiệp công nghiệp GTVT không đủ việc làm. Các xí nghiệp Quốc doanh chưa làm chủ ngành nghề, giảm sút uy tín với khách hàng, có xí nghiệp còn tự ý đưa phương tiện sang tỉnh ngoài sửa chữa.

- Lực lượng cơ khí GTVT ngoài quốc doanh đã khôi phục, đại tu được 150 xe ô tô các loại, tắp ráp 500 xe công nông, nhưng chất lượng sản phẩm không cao,, tình trạng kỹ thuật kém.

- Sản lượng xếp dỡ hàng hóa tại cảng Cống Câu đã tăng lên, uy tín của đưn vị xếp dỡ quốc doanh dần được củng cố.



3. Quản lý duy tu bảo dưỡng và đảm bảo trật tự an toàn giao thông

- Đường quốc lộ, đường tỉnh, đường huyện trên địa bàn tỉnh ta còn nhiều đường cấp thấp, hư hỏng nhiều, thời tiết xấu. Kinh phí đầu tư cho duy t bảo dưỡng chưa đủ đáp ứng yêu cầu, nưng toàn bộ mạng lưới giao thông vẫn đảm bảo thông suốt an toàn.

- QL 5 được đại tu kịp thời nên không còn tình trạng ùn tắc.

- QL 18, 183, 37 kịp thời xử lý những đoạn xung yếu như cầu kênh thải, cầu Thiên Đường, 2 đầu bến Bình nên đảm bảo giao thông thông suốt.

- Đường tỉnh nhều đoạn hư hỏng nặng như 39A, 20A, 191, 20B, 186 nhưng đã kịp thời khắc phục xử lý tạm thời đảm bảo giao thông.

- Đường huyện Phù Tiên, Ninh Thanh, Tứ Lộc, Châu Giang, Mỹ Văn, Kim Thi nhều tuyến bị hư hỏng nghiêm trọng. Sở đã phối hợp với các huyện khẩn trương khắc phục.

So với năm 1993 hệ thống giao thông đường bộ năm ay hư hỏng nặng hơn ở các tuyến chưa được đầu tư xây dựng mặt đường, nhiều đoạn gây ách tắc giao thông. Mặt đường cấp thấp bị xuống loại khá nhiều.

- Trật tự an tàn giao thông có tiến bộ, nhiều địa phương đã phối hợp tốt với lực lượng trật tự an toàn giao thông tuyên truyền xử lí vi phạm có hiệu quả, giao đất xây dựng ven đường đã chú ý tới quy hoạch xây dựng và quy định hành lang bảo vệ đường. Tình trạng họp chợ trên đường, đào đường trái phép vẫn còn.

- Tổ chức sửa chữa vừa và thường xuyên chưa kịp thời nên giảm tác dụng ngăn chặn hư hỏng trước mà mưa lũ. Lực lượng tuần đường, bảo dưỡng đường chưa làm hết trách nhiệm, chưa xử lý, kiểm tra trọng tâm.

- Khi có tình trạng ùn tắc giao thông một số đơn vị quản lý đường chưa tập trung cao độ để xử lý, nhiều tình trạng bỏ mặc, chờ vốn. Các xã ven đường chưa phối hợp làm đảm bảo giao thông, dẫn đến tình trạng nhũng nhiễu, phiền hà cho chủ phương tiện

- Khối quản lý vận hành phà đò đảm bảo giao thông vượt sông thông suốt an toàn, bước đầu đã triển khai thực hiện thông tư 62 Liên bộ về quản lý thu chi. Song cũng còn nhiều tồn tại:

+ Phương tiện vượt sông quá cũ, trang bị bến thô sơ lạc hậu.

+ Lực lượng lao động quá đông, trật tự an toàn trên bến chưa tốt.

4. Kết quả sản xuất kinh doanh và nộp ngân sách

Toàn ngành đạt 106% chỉ tiêu pháp lệnh nộp ngân sách. Bảy doanh nghiệp vượt chỉ tiêu kế hoạch. 2 đơn vị không đạt là: Công ty vận tải đường thủy 20,4%, Đoạn đường bộ 93,6%.




Đơn vị

Nộp ngân sách

Số lượng (1000đ)

So với kế hoạch %

So với năm 1993 %

XN khảo sát thiết kế

32.870

193,3

110

Cảng Cống Câu

170.607

142,1

125

Cty Công trình giao thông

554.950

138,7

125

CTy vận tải hàng hóa

179.350

132,8

113

Cty vận tải hành khách

634.000

102,3

125

XN cơ khí thủy I

73.850

117,2

100

XN cơ khí thủy II

59.450

106,1

90

Đoạn đường bộ

198.484

93,6

66

CTy vận tải đường thủy

63.450

20,4

20

Toàn ngành

1.967.011

106




Thu cước phà đò

4.034.358

93,4

139

Thu lệ phí giao thông

1.187.975

59

103

- Cty công trình giao thông: Có nhiều lợi thế trong kinh doanh, ích cực khai thác việc làm, có đội ngũ CBCNV lành nghề, thiết bị từng bước được đổi mới, trang bị hiện đại. Hoạt động tài chính tương đối tốt. Nhưng chưa phấn đấu hạ được giá thành.

- Xí nghiệp KSTK: Có nhiều việc làm, nhiều cố gắng trong kinh doanh, chưa quan tâm trang bị thiết bị hiện đại, tổ chức sản xuất chưa phù hợp với yêu cầu.

- Cảng Cống Câu: Đã ấy lại được nhịp độ sản xuất, tích cực khai thác việc làm, mở mang ngành nghề. Nhưng ngành nghề chính vẫn chưa chiếm ưu thế.

- Xí nghiệp cơ khí thủy I: Sản lượng và doanh số đã tăng lên, song chưa phát huy được thế mạnh ngành nghề, vẫn thiếu việc làm, hiệu quả kinh doanh thấp.

- Xí nghiệp cơ khí thủy II: Từ khó khăn năm 1993 dẫn đến thiếu vốn giảm sút uy tín với các cơ quan quản lý và bạn hàng. Hiệu quả kinh doanh thấp.

- Công ty vận tải khách: Trong điều kiện cạnh tranh thị trường, đã phấn đấu giữ vững nhịp độ SXKD, thay thế dần thế hệ phương tiện, bảo tồn được vốn nhưng năng suất lao động thấp, giá thành cao, kinh doanh chưa có lãi.

- Công ty ô tô vận tải hàng hóa: Có nhiều khó khăn về nguồn hàng. Hiện tại kinh doanh không có lãi, không thực hiện được tái đầu tư mở rộng.

- Công ty vận tải thủy: Phương tiện vận chuyển cũ nát, năng suất thấp, kinh doanh lỗ, càng ngày càng khó khăn trong SXKD. Cần kịp thời sắp xếp lại, chuyển đổi hình tức quản lý.

5.- Thực hiện chế độ chính sách xã hội

+ Tổ chức lao động

- Ngành xây dựng quy chế quản lý và phân cấp công tác quản lý cán bộ, trển khai chế độ bảo hiểm xã hội, hoàn thành vận dụng và sắp xếp lương mới đối với CBCNV, xếp hạng xí nghiệp cho 12 đơn vị, dào tạo nghiệp vụ nâng cao 15 kỹ sư và nghiệp vụ chuyên ngành cho 40 cán bộ giao thông xã, phối hợp mở lớp Đại học tại chức giao thông.

- Củng cố bộ máy lãnh đạo 2 đơn vị, đề bạt 2 giám đốc đơn vị, kỷ luật 1 giám đốc, 1 phó giám đốc, 1 kế toán trưởng xí nghiệp.

- Xét và đề nghị khen thưởng 3 đơn vị huyện, 2 doanh nghiệp và nhiều xã có thành tích xây dựng phong trào GTVT năm 1994.

+ Đăng kiểm kỹ thuật:

Tăng cường kiểm tra giám định chất lượng phương tiện vận tải. Kiểm tra xuất xưởng 27 phương tiện, định kỳ 398 lần chiếc.

+ Công tác thanh tra:

Thực hiện QĐ 114 của Thủ tướng chính phủ, củng cố lại 11 Ban chỉ đạo các cấp, tăng cường lực lượng quản lý tài chính, thống nhất quản lý các loại phí và lệ phí, phối hợp các ngành tăng cường kiểm tra chống các phương tiện chuyên chở hàng lậu.

- Thanh tra Sở tổ chức các cuộc thanh tra kinh tế, xã hội, thanh tra tình hình sản xuất, kinh doanh. Tổ chức 3 cuộc thanh tra ở 3 đơn vị sản xuất kinh doanh, 1 doanh nghiệp nhà nước và 2 doanh nghiệp ngoài quốc doanh.

+ Đời sống việc làm

Toàn ngành 6 tháng đầu năm việc làm tương đối ổn định, nhưng 6 tháng cuối năm không đủ việc làm. Tổng số 4007 lao động thì 1399 lao động không đủ việc thường xuyên. 6/8 doanh nghiệp quốc doanh thiếu việc làm, 7/12 đơn vị sự nghiệp kinh tế dôi thừa lao động.

Đời sống công nhân gặp nhiều khó khăn, bình quân tàn ngành chỉ đạt 166.000 đ/ tháng đối với người có việc.

Bình quân đơn vị cao nhất 300.000 đ/ tháng.

Bình quân đơn vị thấp chỉ có 125.000đ/tháng (đối với người có việc)

(Nguồn: "Báo cáo tổng kết công tác GTVT năm 1994 và nhiệm vụ chủ yếu năm 1995 tỉnh Hải Hưng" số 22/BC-TK. Hải Hưng, Sở Giao thông vận tải, 1995. 19 tr. Văn bản phát hành ngày 12/01/1995)

BÁO CÁO TỔNG KẾT CÔNG TÁC GIAO THÔNG VẬN TẢI NĂM 1995

Thực hiện kế hoạch năm 1995

I/ Xây dựng và phát triển giao thông

1/ Đường Quốc gia

a. Đường do Sở quản lý:

Cải tạo nâng cấp rải nhựa 8 km, sửa chữa cầu Kênh Thải đường 18 đoạn Phả Lại - Sao Đỏ. Góp phần nâng cấp hoàn chỉnh đường 18 đoạn Hải Hưng quản lý.

Xây dựng 1 phần bến phà Yên Lệnh. Với tổng kinh phí đầu tư là 5,6 tỷ đồng bằng 114% năm 1994. Làm tốt giải phóng mặt bằng đường 5, đường 183, đường 18. Góp phần thông xe cầu Bình, cầu Triều Dương đúng tiến độ.

b. Đường do các đơn vị khác quản lý:

Phối hợp tạo điều kiện cho các nhà thầu đẩy nhanh tiến độ thi công 15 km QL5, cầu Phú Lương, Lai Vu và 20 km quốc lộ 183.

2/ Đường tỉnh

Đã hoàn chỉnh quy hoạch phát triển GTVT năm 2010, hướng dẫn các phòng GTVT huện xâu dựng quy hoạch GTVT cấp huyện và xã.

Đã nâng cấp rải nhựa 32 km đường tỉnh, 1 cầu BTCT đang thi công chuyển tiếp bến phà Yên Lệnh tương ứng kinh phí 16,3 tỷ đồng. Hoàn thành kế hoạch được giao. So với 1994 bằng 170% về số km xây dựng, 132% về kinh phí đầu tư.

Lập xong dự án xây dựng cầu An Thái, khẩn trương chuẩn bị khởi công vào đầu năm 1996.

Lập xong dự án thiết kế bến phà Vạn Kiếp nối khi di tích Côn Sơn - Kiếp Bạc với tỉnh Hà Bắc.

Phối hợp các huyện, thị xã cải tạo nâng cấp rải nhựa 6 km đường ủy thác và 5,2 km đường đô thị, so với năm 1994 bằng 124%.

Đẩy nhanh tiến độ cải tạo cầu đường đã triển khai các công trình do nhà thầu ứng vốn trước thi công 16,7 km đường nhựa trên các tuyến đường quan trọng, tương ứng kinh phí 5 tỷ đồng bằng 30% kế hoạch năm.

Ngành đã tổ chức đấu thầu xây lắp 11 km đường trên 3 tuyến đường. Thủ tục trình tự chăt chẽ, đúng quy định, kiểm tra giám sát bảo đảm chất lượng công trình.

3/ Đường huyện quản lý

Rải nhựa nâng cấp 12 km đường nhựa, so với năm 1994 bằng 120% nhưng chỉ chiếm 2,8% tổng số đường huyện quản lý, so với mục tiêu mỗi năm nâng cấp 5% đạt rất thấp.

4/ Đường giao thông nông thôn

Đã đầu tư 154,35 tỷ đồng, bằng 154% so với mục tiêu đề ra và bằng 210% năm 1994. Trong đó:

- Cơ sở và nhân dân đóng góp 150,15 tỷ đồng (kể cả kinh phí, vật liệu và nhân công)

- Ngân sách nhà nước hỗ trợ 4,200 tỷ đồng bằng 150% năm 1994.

- Đã xây dựng được :

- 81 km đường nhựa, bằng 210% năm 1994

- 138 km đường bê tông xi măng, bằng 176% năm 1994

- 276 km đường lát gạch nghiêng, bằng 104% năm 1994

- 670 km đường đá cộn, cấp phối bằng 140% năm 1994

- 271 km đường gạch vỡ, xỉ lò.

- 159 cầu bê tông nhỏ.

- 1794 cống các loại.

- 3 đập tràn.

Giao thông nông thôn tiếp tục phát triển mạnh, loại mặt đường cấp cao, cầu cống vĩnh cửu được xây dựng nhiều hơn. Nhiều làng xã đã xây dựng hoàn chỉnh mạng lưới giao thông. Nhiều cụm dân cư nhỏ tự vận động đóng góp công của xây dựng đường đến từng gia đình.

II. Quản lý, sửa chữa các công trình giao thông, đảm bảo trật tự an toàn giao thông

Kế hoạch vốn sửa chữa cầu đường bộ:

Trung ương 2.665 tr.đ so với năm 1994 bằng 105%

Địa phương 8.022 tr.đ so với năm 1994 bằng 125%

Công tác đảm bảo giao thông phà đò có nhiều tiến bộ. Các bến phà được củng cố tổ chức, xây dựng lại quy chế quản lý. Giảm bớt 668 lao động dôi thừa. Từng bước thực hiện chế độ thu chi theo quy định Nhà nước. Chống thất thu có hiệu quả, thu cước 6,4 tỷ đồng đạt 101% kế hoạch, so với 1994 bằng 158%.

Đảm bảo giao thông thông suốt an toàn. hát hiện kịp thời xử lý đúng trọng tâm những đoạn hư hỏng nặng. Lực lượng quản lý phối hợp với các địa phương thực hiện Nghị định 36/CP đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

Sửa chữa phương tiện vượt sông có nhiều cố gắng, đạt kết quả tốt hơn năm 1994 nhưng chưa đạt yêu cầu.

Quản lý duy tu đảm bảo giao thông đường sông có tiến bộ. Phao tiêu biển báo được trang bị tương đối đầy đủ. Công việc quản lý báo hiệu, thông tuyến và xử lý các vi phạm trật tự an toàn giao thông thủy kịp thời. Trên các tuyến sông địa phương thông suốt an toàn, thuận tiện. Thanh thải nhiều chướng ngại vật để mở rộng luồng.

Trật tự an toàn giao thông có chuyển biến rõ. Ngành tích cực triển khai pháp lệnh bảo vệ công trình giao thông, đào tạo đội ngũ quản lý giao thông cấp huyện, xã. Củng cố phát triển lực lượng thanh tra các đơn vị quản lý đường và thanh tra giao thông của Sở. Triển khai kịp thời NĐ 36/CP; chỉ thị 317/TTg của Tủ tướng chính phủ về đảm bảo TT- ATGT đường bộ và TT-ATGT đô thị.

Tất cả các tuyến đường đều cắm mốc chỉ giới hành lang bảo vệ đường bộ bằng bê tông. Biển báo hiệu ở các đô thị và các tuyến quan trọng được bổ sung hoàn chỉnh.Tổ chức phân luồng ở các nút giao thông, lắp hệ thống đèn hiệu tại TX Hải Dương. Sắp xếp lại các chợ cạnh đường, vạch rõ chỉ giới, xây dựng hàng rào chợ để chống lấn chiếm…

Giải tỏa 79 ngôi nhà bê tông, 1840 nhà cấp 4, gần ba chục nghìn lều quán ảnh ATGT. Kiểm tra, khám định kỳ 3170 lượt xe cơ giới, trong đó 20% số xe chưa đủ liêu chuẩn lưu hành. Tai nạn giao thông giảm 27,7% so với trước khi triển khai NĐ 36/CP.

III Quản lý vận tải, xếp dỡ và công nghiệp

1. Sản lượng:




Đơn vị

Vận chuyển

Luân chuyển

Tấn hàng

So với 1994

Tấn Km

So với KH 1995 %

So với 1994 %

Vận chuyển hàng hóa

4.200.000

105

138.051.000




120

- Cty ô tô VTHH

45.000

94

4.051.000

96

86

- Cty VT thủy

16.000

35

3.000.000

21

28

- Ngoài QD và C.dung

4.139.000

105

131.000.000




132

Vận tải hành khách

(Người)




(NgKm)







Tổng số

2.897.000

104

105.000.000




11,6

- Cty ô tô VTHK

500.000

1,42

55.500.000

103

111

- Ngoài QD và C.dung

2.297.000




49.500.000




111

2. Quản lý vận tải:

- Lực lượng vận tải giảm tốc độ phát triển về số lượng, nhưng từng bước nâng cao chất lượng phương tiện, năng suất và phục vụ.

- Trật tự cận tải có tiến bộ rõ. Ngành đã hướng dẫn các địa phương vận động các hộ kinh doanh vận tải cá thể thành lập các tổ chức vận tải. Đến nay toàn tỉnh có 18 Công ty TNHH và doanh nghiệp tư nhân, 14 HTX kinh doanh vận tải.

3. Xếp dỡ hàng hóa

Thiết bị xếp dỡ được củng cố và tăng cường. Doanh nghiệp xếp dỡ phát huy tốt vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước. Sản lượng đạt 235.000 T thông qua bằng 217% năm 1994 và 381.000 T xếp dỡ bằng 229% năm 1994.

4. Công nghiệp vận tải

Ngành đã chỉ đạo củng cố lực lượng cơ khí đường thủy quốc doanh, phân các phương tiện sửa chữa của ngành cho 2 xí nghiệp. Tháo gỡ khó khăn, tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp.

Sản lượng của 2 xí nghiệp được nâng lên: XNCKT I đạt 1850 tr.đ bằng 123% kế hoạch, XNCKT II đạt 1928 tr.đ bằng 79% kế hoạch, so với năm 1994 bằng 160%.

Tuy nhiên cả 2 xí nghiệp đều trong tình trạng thiết bị sản xuất cũ kỹ, công nghệ lạc hậu, thiếu công nhân lành nghề…

IV- Kết quả sản xuất kinh doanh và thu nộp ngân sách.

Các doanh nghiệp dù đã cố gắng thích nghi với cơ chế thị trường, song hiệu quả kinh doanh còn thấp. Có đơn vị đã phải ngừng sản xuất.

Toàn ngành đạt 96% kế hoạch, trong đó 6 đơn vị vượt kế hoạch, 3 đơn vị không đạt kế hoạch:


Đơn vị

Nộp ngân sách 1995 (tr.đ)

So với KH năm 1995 %

So với 1994

%


Tổng số nộp ngân sách

1489,65

96

107

- Cảng Cống Câu

191,00

128

163

- Cty VT hành khách

300,00

113

89

- XN cơ khí thủy I

80,00

190

186

- CTy công trình giao thông

620,00

103

138

- XN khảo sát thiết kế

50,00

200

165

- Cty ô tô VT hàng hóa

73,65

109

61

- XN cơ khí thủy II

40,00

88

80

- Cty vận tải thủy

39,00

43

61

- Đoạn đường bộ

96,00

36

54













Thu cước phà đò

6400,00

101

158

Các đơn vị không hàn thành nghĩa vụ nộp ngân sách Nhà nước: Công ty vận tải thủy, Xí nghiệp cơ khí thủy II, Đoạn đường bộ.





1   ...   4   5   6   7   8   9   10   11   ...   19


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương