Kinh mi tiên vấN ĐÁp milinda panha


Tương quan giữa thân trước và thân sau



tải về 482.04 Kb.
trang6/16
Chuyển đổi dữ liệu13.06.2018
Kích482.04 Kb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16

8. Tương quan giữa thân trước và thân sau.


Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, kinh Phật nói con người sau khi chết, tiếp tục thác sanh trở lại theo nghiệp lành dữ đã gây, như vậy đó là con người cũ hay là một con người mới nào khác?

-- Tâu Ðại vương, không phải con người cũ, nhưng cũng chẳng phải lìa con người cũ ra mà sanh một con người mới khác.

-- Như thế nghĩa là thế nào?

Na Tiên chụp hỏi lại:


-- Bệ hạ hồi còn bú vú mẹ với bệ hạ cai trị trăm họ bây giờ có khác gì nhau không?

-- Khác chứ! Hồi đó trẫm nhỏ dại, bây giờ trẫm lớn khôn.

-- Như vậy thì lệnh mẫu hoàng hồi đó không phải mẫu hoàng ngày nay! Lệnh phụ hoàng cũng thế! Và bệ hạ cũng chẳng có phụ đạo. Vì ông thầy ấy chỉ dạy đứa bé mươi mười lăm tuổi cách đây mấy chục năm, chứ đâu có dạy bệ hạ bây giờ! Thân trước thân sau khác nhau thì mẹ đứa bé không phải là mẹ nhà vua! Người học trò thuở trước cũng không phải nhà vua trong hiện tại! Và kẻ phạm tội giết người năm ngoái không phải là người bị cáo ra tòa ngày nay! Bệ hạ làm sao buộc tội được người ấy?

-- Bạch Ðại đức, không phải như thế. Nhưng có ai hỏi Ðại đức về khoản nầy thì Ðại đức giải đáp ra sao?

-- Tâu Ðại vương, thân bần tăng lúc nhỏ với thân bần tăng bây giờ cũng là một thân mà thôi. Thân ấy từ nhỏ đến lớn, trải qua nhiều quảng đời khác nhau, nhưng vẫn được liên tục nuôi dưỡng bởi một sinh mạng.

-- Xin cho thí dụ.

-- Ví như một ngọn đèn thắp từ đầu hôm nó có thể cháy mãi cho tới sáng không?

-- Có thể.

-- Lửa ngọn đèn thắp lên từ đầu hôm với lửa ngọn đèn lúc nửa đêm và lửa ngọn đèn lúc gần sáng có phải là một không?

-- Không.

-- Trong ba khoảng thời gian khác nhau ấy, người ta có đốt ngọn đèn nào khác không?

-- Vốn chỉ một ngọn đèn với một cái bấc và cùng một loại dầu từ đầu hôm cho đến tảng sáng.

-- Trong con người cũng như thế đó, tâu Ðại vương. Pháp nầy đi thì pháp kia tới, trước sau tiếp nối nhau, không ngừng mà nuôi dưỡng tinh thần. Từ khi sinh ra cho đến lớn lên rồi già chết, nó lại thú hướng đến một kiếp sống khác, cứ thế triển chuyển tương tục hoài hoài. Cho nên nói rằng thân cũ sanh trở lại thì không đúng, nhưng nói lìa thân cũ ra mà có một thân mới khác cũng không được. Lại ví như sữa tươi mới vắt, để lâu thì thành sữa ôi, thành bơ... Nói sữa tươi là bơ thì hẳn không phải, nhưng nói bơ không do sữa tươi mà ra thì cũng sai. Cũng tương tợ như thế, con người sinh ra với tinh thần và sau khi sinh thì lớn, già, rồi chết. Chết rồi nó lại mang một thân mới mà sinh trở lại. Mất thân trước, nó liền thọ thân sau. Cho nên nói người đầu thai sinh trở lại và người đã chết là một thì không đúng, mà nói chúng tách lìa khỏi nhau cũng chẳng nhằm.

-- Hay thay! Hay thay!


9. Tự biết hết tái sanh


Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, người không còn tái sanh nữa có thể tự mình xác tri việc đó được không?

-- Tâu Ðại vương, có thể được.

-- Bằng cách nào?

-- Ai tự biết mình không còn ân ái, không còn tham dục, không có dụng tâm làm điều dữ, người đó tự biết chắc không còn tái sanh trên cõi đời nầy nữa.

-- Xin cho ví dụ.

-- Ví như người làm ruộng, đầu mùa lo cày bừa, gieo giống, cấy mạ thì đến cuối mùa thu hoạch nhiều lúa cất chứa trong vựa. Qua năm sau nếu người ấy không cày bừa, gieo giống và cấy mạ nữa, mà chỉ tiêu dùng số lúa còn dự trữ của năm trước, như vậy người ấy có thể tự biết rằng mình không gặt lúa nữa không?

-- Biết chứ!

-- Bằng cách nào?

-- Không cày, không gieo, không cấy, tức nhiên không có lúa mà gặt.

-- Bậc tu hành đắc đạo cũng giống như thế. Quên ân ái, xả khổ vui, không tham dục, tức như không cày, không gieo, không cấy. Ðương nhiên là sẽ không gặt quả tái sanh. Vì vậy, bậc đắc đạo biết chắc rằng đời sau mình không còn tái sanh trên thế gian nầy nữa.


10. Trí và Minh.


Vua hỏi:
-- Bạch Ðại đức, người đắc đạo không còn tái sanh trong đời sau thì trí tuệ người ấy trong hiện tại có khác gì người thường không?

-- Tâu Ðại vương, có khác chứ!

-- Thế thì có sáng suốt (minh) không?

-- Có chứ!

-- Trí tuệ và sáng suốt giống và khác nhau chỗ nào?

-- Ngang bằng như nhau.

-- Người có trí tuệ và sáng suốt có biết hết vạn sự vạn vật không? hay là có điều còn không biết?

-- Có điều biết mà cũng có điều không biết.

-- Vì sao thế? Vậy những gì trí tuệ biết được và những gì nó không biết được?

-- Những gì trước đã có học thì nay biết. Những gì trước chưa học thì nay không biết. Ðó là lẽ đương nhiên. Nhưng người có trí tuệ sở dĩ khác với người thường là chỉ ở các điểm sau đây: họ biết rõ người và muôn vật thảy đều quy không, không tự tại; biết rõ những ham muốn của con người gieo trồng đau khổ khiến nẩy sinh thêm nhiều đau khổ khác. Nói tóm lại là người có trí tuệ biết rõ mọi việc thành bại vô thường trên cõi đời nầy.

-- Người có trí tuệ rồi thì bao nhiêu si ám, u mê trước kia đi đâu?

-- Tự tiêu tan hết.

-- Xin cho ví dụ.

-- Ví như người cầm cây đèn đang cháy đi vào phòng tối, trọn phòng liền sáng, bóng tối tự nó tiêu tan không lưu dư dấu vết. Ấy người đắc đạo có trí tuệ cũng như vậy đó: Si ám, u mê tự dứt trừ.

-- Rồi sau đó trí tuệ đi đâu?

-- Nó lại cũng tự biến mất. Nhưng những gì mà nó tạo ra như sự hiểu biết về cuộc đời đau khổ, về bản ngã hư dối..., những cái ấy thì còn.

-- Xin cho ví dụ.

-- Ví như ban đêm thắp đèn lên để chép sách, sau khi đèn tắt, chữ trên trang giấy vẫn còn lưu lại dấu vết.

-- Ðại đức bảo rằng trí tuệ sau khi thành tựu công việc lại tự biến đi, như thế là ra làm sao? Xin ví dụ cho nghe.

-- Tâu Ðại vương, ví như để đề phòng một trận hỏa tai, người ta sắp sẵn năm chum đầy ấp nước. Kế đó, hỏa tai xảy ra nước trong năm chum được dùng để cứu lửa. Nước vào, lửa tắt. Tai qua, nạn khỏi, vĩnh viễn không còn sợ diễn lại nữa. Bãy giờ người ta có còn đem để năm chum nước ấy trở lại chỗ cũ nữa không?

-- Hẳn là không, vì không còn ích lợi nữa.

-- Cũng thế, người có trí tuệ dùng năm điều thiện để tiêu trừ các điều ác, giống như kẻ kia dùng năm chum nước để diệt trừ ngọn lửa. Năm điều thiện đó là: tín tâm, trì giới, tinh tấn, niệm thiện và nhứt tâm. Ai phụng hành được năm điều thiện ấy thì đắc đạo và có trí tuệ. Có trí tuệ thì biết rõ thân mình và muôn vật thảy đều vô thường, không tự tại, trống rỗng, không thật. Và cái trí tuệ sau khi thông đạt rồi thì tự nó lại tiêu biến, nhưng những gì mà nó đã thông đạt thì vẫn còn.

-- Xin cho một ví dụ khác.

-- Ví như ông thầy thuốc trị bệnh cho người ốm, dùng năm loại dược thảo mà bào chế rồi cho người ốm uống. Uống xong, người ốm lành bệnh. Sau đó ông thầy thuốc có còn đem năm thứ thuốc ấy mà tiếp tục cho người kia uống nữa không?

-- Hẳn là không. Vì không còn ích lợi gì nữa.

-- Năm loại dược thảo ví như năm điều thiện. Ông thầy thuốc ví như người tu hành đắc đạo. Căn bệnh ví như cắc điều ác. Người ốm ví như kẻ ngu si. Người ốm lành bệnh ví như kẻ được cứu ra khỏi sanh tử luân hồi. Sau khi thành tựu sứ mạng, trí tuệ của người đắc đạo tự tiêu biến, nhưng những gì nó tạo ra đều vẫn còn.

-- Xin cho thêm một ví dụ nữa cho rõ nghĩa hơn.

-- Ví như một tướng quân xuất trận tay cầm cung tên mà xông ra chống giặc. Tướng quân bắn ra năm mũi tên, giặc thua chạy. Vậy sau đó, ông ta có còn bắn thêm nữa không?

-- Hẳn là không, vì không còn cần nữa.

-- Năm điều thiện giống như năm mũi tên. Người tu hành đắc đạo giống như tướng quân xuất trận. Các điều ác giống như quân giặc. Tướng quân nhờ năm mũi tên mà chiến thắng quân giặc. Cũng thế, người tu hành dắc đạo nhờ năm điều thiện mà chiến thắng các điều ác, chúng không còn nẩy sanh trở lại nữa, mà cái trí tuệ diệt trừ các điều ác cũng tiêu biến luôn. Nhưng những gì nó tạo ra thì vẫn thường tại, bất diệt.

-- Hay thay! Hay thay!


: downloads -> giang-kinh -> kinh-khac
giang-kinh -> GIỚi thiệu kinh trung a hàM Điền Quang Liệt Định Huệ Dịch Nguồn
giang-kinh -> Kinh tứ thập nhị chưƠng tt. Thích Viên Giác Dịch
giang-kinh -> Kinh đẠi phậT ĐẢnh như lai mật nhơn tu chứng liễu nghĩA
giang-kinh -> Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương Sớ Sao
giang-kinh -> PHẬt thuyết a di đÀ kinh yếu giải giảng ký 佛說阿彌陀經 要解講記
giang-kinh -> ÐẠo phật ngày nay một diễn dịch mới về ba bộ kinh pháp hoa
giang-kinh -> VỊ trí thánh ðIỂn hoa văn trên phật giáo thế giớI
giang-kinh -> Bàn Về Bốn Bộ a-hàm Lương Khải Siêu
kinh-khac -> Kinh hiền nhân theo lời tựa, Kinh nầy do ông Ngô-nguyệt-Chi Hán dịch, và thầy Lê-phước-Bình (ht thích Hành-Trụ) Việt dịch Nguồn


1   2   3   4   5   6   7   8   9   ...   16


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương