Kinh lời vàng tác giả: Dương Tú Hạc Dịch Giả: ht. Trí Nghiêm


Phụ lục - 26 Điều Duyên khởi



tải về 0.93 Mb.
trang11/11
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích0.93 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11

Phụ lục - 26 Điều Duyên khởi 
 


Sau đây dịch giả trích dịch 26 lời phụ lục duyên khởi của "Phật giáo Thánh kinh" do Huỳnh Mạnh Lâm trước tác: Ông là người đã từng trợ biên quyển kinh này với ba Dương Tú Hạc:

Nay tôi có mấy điều ý kiến về phương diện vĩ đại của quyển kinh này, xin liệt kê như sau:  

Biên tập lấy những đoạn dễ hiểu, nghĩa lý rõ ràng tinh yếu của ba tạng: Kinh, Luật, Luận 

Tuyệt nhiên chẳng thêm bớt một câu nào theo ý kiến riêng của mình 

Quyển kinh này là mở đầu cho việc làm mà xưa nay chưa từng có 

Có thể khiến cho những ai có ý chí muốn nghiên cứu Phật học, để học Phật, chỉ đọc quyển kinh này có thể rút ngắn khỏi phải mất thời gian 10 năm nghiên cứu 

Chẳng có một phần, một chương hay một bài nào mà giáo lý chẳng thích hợp việc nhu cầu thiết yếu cho Đời và Đạo 

Các vị Nguyên thủ mà được Kinh này. Thời khiến họ có thể càng phát huy thêm việc trị nước an dân cho đại cuộc quốc gia. 

Những bậc phụ tá Công thần mà được Kinh này, thời khiến họ có thể trung can thêm với Tổ quốc, mà phục vụ đắc lực cho quốc gia dân tộc 

Là người con mà được Kinh này, thời hiếu đạo chẳng đến nỗi suy vong 

Kẻ làm cha mà được Kinh này, thời khiến họ có thể phát huy thêm lòng từ ái 

Người làm mẹ mà được Kinh này, thời khiến họ có thể mở rộng thêm lòng thương bao la 

Kẻ giàu sang mà được Kinh này, thời khiến họ có thể càng giàu sang thêm 

Người nghèo cùng mà được Kinh này, thời khiến họ có thể diệt trừ hột giống nghèo hèn 

Kẻ hiền lành mà được Kinh này, thời khiến họ có thể từ chỗ lành mà đi đến chỗ lành 

Kẻ ác mà được Kinh này, thời khiến họ có thể chừa lỗi làm lành tức khắc 

Kẻ nam nhi mà được Kinh này, thời khiến họ có thể dứt trừ lòng tà dâm, quay về chánh đạo 

Kẻ nữ nhi mà được Kinh này, thời khiến họ có thể trọn vẹn nhiệm vụ giúp chồng dạy con 

Những người đã tin Phật pháp mà được Kinh này, thời khiến họ có thể phát lòng đại dũng mãnh tinh tiến 

Những người chẳng tin Phật pháp mà được Kinh này, thời khiến họ có thể phát sanh lòng Chánh tín tức thì 

Người tu hành được Kinh này, thời khiến họ chẳng đến nỗi sai đường lạc lối 

Các thầy Kinh sư mà được Kinh này, thời rất có tài biện luận, không bị ngăn ngại 

Các thầy Luật sư mà được Kinh này, thời Luật hạnh càng thêm trang nghiêm 

Những người tu pháp môn niệm Phật mà được Kinh này thời khiến họ mau vào cảnh giới niệm Phật chánh định 

Những kẻ tu thiền định mà được Kinh này, thời khiến họ mau chứng được Bản thể Chơn như Thật tướng 

Những kẻ học Mật Tông mà được Kinh này, thời khiến họ được dung hòa Mật giáo và Hiển giáo 

Kẻ hoa niên mà được Kinh này, thời khiến họ mau thành gia lập nghiệp 

Những người già cả mà được Kinh này, thời càng thêm phước thọ 

Tóm lại, tuy nhiên Phật Pháp sâu rộng mênh mông như bể cả, nếu ai thật lòng có thể đối với những lúc đi, đứng, ngồi, nằm mà chăm lòng tinh cứu, rồi nương theo giáo pháp mà tu trì, thời nhất định có thể khiến họ được vui sướng là hiểu rõ chơn nghĩa Phật Pháp dể như thể chẻ tre. Là có những điều này xin thưa rõ:

Phật Pháp chẳng những chẳng mê tín mà là phá trừ mê tín nữa là khác.

Phật Pháp chẳng những chẳng tiêu cực mà chính là tích cực nữa là khác.

Phật Pháp chẳng những chẳng tránh trốn cuộc đời hiện thật, mà chánh xác quên mình cứu người là khác.

 

Phật Pháp chẳng dạy người bỏ đời mà còn dạy người phát nguyện vào đời độ sanh nữa là khác.



Viết tại Đài Bắc ngày 14 tháng 3 năm Đinh Dậu, Năm Dân Quốc thứ 46 (1957).

Ngửa mong Đức Phật Thế Tôn,

Khắp vì Thế gian ra đời;

Xin ngài rủ lòng thương xót,

Quyết khiến tôi được thấy hình,

Rủ lòng che hộ cho tôi,

Khiến giống Pháp ngày thêm lớn;

Đời này và các đời sau,

Xin Phật thường nhiếp thọ cho.

Kinh Thắng Mang

Cúi xin các Phật thường gia hộ,

Hay dứt tất cả tâm điên đảo.

Nguyện tối sớm ngộ nguồn chơn tánh,

Mau chứng Như Lai Đạo Vô thượng.

Kinh Tâm Địa Quán
Nguyện đem công đức này,

Hướng về khắp tất cả

Chúng tôi và chúng sanh

Đều trọn nên Phật đạo.


Kinh Pháp Hoa

Đôi nét về Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm


Thân thế:

Hòa Thượng Thích Trí Nghiêm thế danh là Phan Diệp, sinh ngày 9 tháng Giêng năm Tân Hợi (1911) tại Thôn Chánh Lộc, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, (thuộc Huyện Sông Cầu ngày nay), Tỉnh Phú Yên. Thân phụ là Cụ Ông Phan Châm. Thân mẫu là Cụ Bà Nguyễn thị Tham. Ngài là người con thứ hai trong gia đình có năm anh chị em. Gia đình Ngài là một gia đình có truyền thống nhiều đời uy tín Tam Bảo.



Xuất gia tu học:

Ngài húy là Tâm Bổn, tự là Truyền Lai, hiệu là Trí Nghiêm dòng Lâm Tế đời thứ 43.



  • Năm 15 tuổi (1926) xuất gia thọ giới với Ngài Vĩnh Hảo Đại Sư (cũng là cậu ruột của Ngài) tại chùa Phước Long, Xã Xuân Lộc, Huyện Đồng Xuân, Tỉnh Phú Yên. 

  • Năm 22 tuổi (1933), Ngài thọ Đại Giới, tại Giới Đàn Chùa Bảo Sơn Phú Yên do Hòa thượng Vạn Ân làm Đàn Đầu. 

  • Năm 27 tuổi (1938) Ngài được trúng tuyển vào tu học tại Phật Học Đường Bảo Quốc Huế. Tại đây Ngài đã được sự truyền dạy của Hòa Thượng Thích Trí Độ, một vị Đốc Giáo danh đức thời bấy giờ. Chính nơi đây đã đào tạo nhiều vị Tăng tài lỗi lạc cho Phật Giáo nước nhà hiện nay. Ngài đã tu học tại Phật Học Đường này 8 năm. 

Đạo Nghiệp :

- Năm 1944 (34 tuổi), sau khi mãn học, Ngài đã bắt đầu công việc hoằng hóa bằng việc lưu hành diễn giảng Giáo lý tại các Tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên…



  • Năm 1945 (35 tuổi), Ngài trở về Phú Yên làm trụ trì chùa Thiên Tôn ở Tuy An 9 năm. Trong thời gian này Ngài đã tham gia Phật Giáo Cứu Quốc thuộc liên khu V. 

  • Năm 1955 Ngài lại tiếp tục công cuộc hoằng hóa, chuyên lo giảng dạy Phật Pháp tại các Tỉnh Hội Phật Học : Phú Yên, Khánh Hòa. Lúc này Ngài được coi là vị Giảng Sư kỳ cựu của Hội Phật Học Miền Trung. 

  • Năm 1956, Ngài chủ trương xây dựng Trường Bồ Đề Tuy Hòa và Cô nhi viện Phước Điền Tuy Hòa, Phú Yên. 

  • Năm 1957, theo thỉnh cầu của Giáo Hội, Ngài ra giữ chức Hội Trưởng Hội Phật Học Thừa Thiên Huế. 

  • Năm 1960, Ngài vào thường trú để lo Phật sự tại chùa Long Sơn, trụ sở Tỉnh Giáo - Hội Phật Giáo Khánh Hòa Nha Trang hiện nay. 

  • Năm 1964, Ngài là thành viên của Hội Đồng Giáo phẩm Trung Ương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất. 

  • Năm 1966, Ngài giữ chức Chánh Đại Diện Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Hòa - Nha Trang. 

  • Năm 1968, Ngài là Chứng Minh Đạo Sư của Tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam thống nhất Khánh Hòa - Nha Trang. 

  • Năm 1968, Ngài là Đệ nhị Tôn Chứng tại Đại Giới Đàn Hải Đức Nha Trang (lần 2). 

  • Năm 1973, Ngài làm Giáo Thọ tại Đại Giới Đàn Phước Huệ Phật Học Viện Hải Đức Nha Trang. 

  • Năm 1974, Ngài làm giám luật Ban Quảng trị Viện Cao đẳng Phật học Hải Đức Nha Trang. 

  • Năm 1977, Ngài được Đại Lão Hòa Thượng Thích Giác Nhiên, Đệ nhị Tăng Thống GH. PG. VN TN. tấn phong Hòa Thượng. 

  • Năm 1980 - Dịch xong bộ Đại Bát Nhã Kinh 

  • 1980 - đến nay tiếp tục nghiên cứu và phiên dịch Kinh điển Đại Thừa tại tại Am Hoàng Trúc - thành phố Nha Trang. 

  • Phiên dịch kinh luận: 

Mặc dù bận nhiều Phật sự về lãnh đạo và hoằng hóa, nhưng Ngài vẫn tinh tấn chăm lo phiên dịch kinh luận để tiếp dẫn hậu lai.

1- Kinh Lời Vàng : Nguyên danh kinh là "Phật Giáo Thánh kinh", 1 quyển, do nữ cư sĩ Trung Hoa là Dương Tú Hạc biên soạn.


2- Kinh Phổ Môn giảng lục : 1 quyển, do Bảo Tịnh Pháp Sư giảng (dịch năm 1969).
3- Kinh Pháp Hoa giảng lục : 1 bộ, 7 quyển, 2 tập, do Thái Hư Pháp Sư giảng (dịch năm 1969)
4- Luận Thành Thật : 20 quyển, do Ha Lê Bạt Ma Tát soạn.
5- Kinh Đại Bát Nha? 24 tập, 600 quyển, 5 triệu chữ (5.000.000), do Huyền Trang Hán dịch. Khởi dịch từ năm 1973 đến năm 1980 mới hoàn tất.

Bốn kinh luận đầu đã in, riêng "Kinh Lời Vàng" và "Kinh Pháp Hoa - giảng lục" đã được tái bản một hai lần, " Kinh Đại Bát Nha?ot; đã in 2 lần, lần mới nhất là năm 1998 tại Sài gòn.

Ngoài ra, còn 10 bộ kinh nhỏ chưa in.

Hiện nay, Ngài là Chứng minh Đạo Sư của tỉnh Giáo Hội Phật Giáo Khánh - Hòa Nha Trang.



Melbourne, Xuân Tân Tị 2001
Tỳ Kheo Thích Nguyên Tạng, lược ghi
HẾT


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10   11


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương