Khóa luận tốt nghiệp 2010 Mục tiêu phát triển kinh tế xã hội trong thời kì tới 85


Triển vọng thu hút FDI của Việt Nam



tải về 0.84 Mb.
trang9/10
Chuyển đổi dữ liệu09.07.2016
Kích0.84 Mb.
1   2   3   4   5   6   7   8   9   10

Triển vọng thu hút FDI của Việt Nam


FDI năm 2009 của Việt Nam có vốn đăng ký chỉ bằng 30%, nhưng vốn thực hiện chỉ giảm 16% so với năm 2008. Đó là kết quả đáng khích lệ nếu so với mức giảm gần 2/3 FDI toàn cầu vào các nước đang phát triển và 25-30% ở một số nước trong khu vực (các con số đó đều là vốn thực hiện).

Năm 2010 có những tín hiệu lạc quan hơn về FDI vào nước ta. Theo một báo cáo gần đây về FDI toàn cầu, trong các nước đang phát triển, nhóm các nước mới nổi  Brazil, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc (BRIC) là thị trường đầu tư hấp dẫn nhất, sau đó đến Việt Nam và một vài nước khác.

Đánh giá đó dựa trên triển vọng trung hạn và dài hạn về dung lượng thị trường và môi trường đầu tư. Nước ta đã có tổng GDP gần 100 tỷ USD, đã vượt qua mức thu nhập bình quân đầu người của nhóm nước có thu nhập thấp, với thị trường nội địa được xếp hạng có mức tăng trưởng hàng đầu thế giới, là nền kinh tế có độ mở lớn trong giao dịch thương mại thế giới - tổng kim ngạch ngoại thương bằng 1,5 lần GDP, có môi trường đầu tư đang dần được cải thiện bằng những nỗ lực của Chính phủ về hoàn thiện thể chế trước và sau khi gia nhập WTO, phân cấp quản lý nhà nước cho chính quyền địa phương theo hướng phi tập trung hóa, cải cách thủ tục hành chính và đấu tranh chống tham nhũng, lạm quyền của công chức nhà nước.

Độ tín nhiệm của Việt Nam cũng được nâng cao hơn trước, thể hiện rõ nhất là mặc dù các nước lớn đều phải đối phó với khủng hoảng toàn cầu, nhưng khoản viện trợ phát triển chính thức (ODA) cho Việt Nam được các nhà tài trợ cam kết vào cuối năm 2009 là 8,063 tỷ USD, con số khá hấp dẫn với nhiều nước đang phát triển.

Việc nước ta tiếp tục thực hiện các cam kết quốc tế trong khung khổ WTO, AFTA, FTA ASEAN - Trung Quốc theo hướng dỡ bỏ dần hàng rào quan thuế và hài hòa hóa hải quan, mở cửa thị trường nội địa từ ngày 1/1/2009 “các công ty có vốn đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực phân phối được phép cung cấp dịch vụ đại lý hoa hồng, bán buôn, bán lẻ tất cả các sản phẩm được sản xuất tại Việt Nam và các sản phẩm nhập khẩu hợp pháp vào Việt Nam, ngoại trừ: xi măng và clinke, lốp (trừ lốp máy bay), giấy, sắt thép, thiết bị nghe nhìn, rượu và phân bón”; những ngoại trừ này được bãi bỏ sau 3 năm kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO tức là từ ngày 1/1/2010, tạo ra lực hấp dẫn hơn đối với các nhà đầu tư quốc tế. 

Báo cáo triển vọng đầu tư thế giới của UNCTAD vào tháng 9/2009 dự báo FDI toàn cầu năm 2010 là 1.400 tỷ USD, cao hơn 200 tỷ USD so với năm 2009 và năm 2011 là 1.800 tỷ USD vượt qua mức của năm 2008 là  1.700 tỷ USD. FDI thế giới có xu thế gia tăng trong 2 năm tới là tiền đề để  nước ta có thể thu hút nhiều FDI hơn.

Trên đây là những tín hiệu đáng mừng cho triển vọng thu hút FDI vào Việt Nam. Song, khi bàn về triển vọng thu hút FDI vào Việt nam, các nhà kinh tế thường đề cập đến sự kiện Việt Nam gia nhập WTO như một nhân tố chính yếu làm tăng sức hấp dẫn cho Việt Nam trong mắt nhà đầu tư, bên cạnh đó, sức cạnh tranh của Trung Quốc trong hoạt động thu hút FDI toàn cầu thường được nhắc đến như là một trở lực chính đối với dòng FDI vào Việt Nam.

Trung Quốc đang thắng thế trong việc thu hút FDI so với ASEAN nói chung và Việt Nam nói riêng... Và rằng Trung Quốc sẽ còn rất hấp dẫn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài với lực lượng lao động khổng lồ, có thể đáp ứng khá đầy đủ cho các vị trí công việc (kể cả nhân lực cấp cao). Chất lượng lao động của họ còn không ngừng được cải thiện với sự hiện đại hóa nền giáo dục, sự trở về ngày càng nhiều của các du học sinh... Trong khi đó, các báo cáo cho thấy các nước ASEAN, và kể cả Việt Nam, đang bị thiếu hụt trầm trọng lao động bậc cao và chi phí lao động, đất đai cũng đã tăng mạnh. Ngoài ra, các khảo sát cũng cho thấy môi trường đầu tư và kinh doanh, chi phí giao dịch và triển vọng kinh doanh ở Trung Quốc thường được đánh giá cao hơn các nước ASEAN (trừ Singapore)... Nhưng sau sự kiện gia nhập WTO, như kinh nghiệm của Trung Quốc đã cho thấy, Việt Nam trở nên hấp dẫn hơn trong mắt nhà đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, tương lai thu hút FDI vào VN sẽ còn được cải thiện thêm khi mà hiệu quả tức thời của việc gia nhập WTO của Trung Quốc đã dần yếu đi, lập lại thế cân bằng mới, giống như thời điểm trước năm 2000.

Tuy nhiên, bản thân sự hấp dẫn về qui chế thành viên WTO của một nước chỉ có tính ngắn hạn, và về dài hạn, điều hấp dẫn các công ty đa quốc gia chính là những yếu tố làm cho họ có thể phát huy được các lợi thế của họ so với các công ty bản địa, trong đó có lợi thế về công nghệ và quản lý và lợi thế về nội bộ hóa các giao dịch trong mạng lưới công ty thành viên.

Điều này cũng sẽ đúng với Việt Nam. Ngay sau khi gia nhập WTO, FDI vào Việt Nam đã có sự tăng đột biến cả về vốn đăng ký và vốn thực hiện nhưng trong những năm tới, FDI vào có thể sẽ lại giảm đi nếu Việt Nam không có những bước đi thích hợp nhằm tăng tính hấp dẫn của mình trong dài hạn, trong số đó có việc nâng cao chất lượng lực lượng lao động, cơ sở hạ tầng, mạng lưới cung cấp, các tổ chức thể chế hiệu quả, cải thiện tích cực môi trường kinh doanh, hạ chi phí giao dịch, phá giá nội tệ, khuyến khích vật chất hợp lý cho FDI vào một số ngành...

Nếu xét theo một khía cạnh khác, sự nổi lên của Trung Quốc như một mảnh nam châm thu hút FDI không chỉ có nghĩa là các nước khác trong khu vực bị thua thiệt. Sự hấp dẫn tăng lên của Trung Quốc còn tạo ra một tác động tích cực có tác dụng kéo thêm FDI đến khu vực, ít nhất là để thỏa mãn nhu cầu nhập khẩu khổng lồ của Trung Quốc, do sản xuất (cả cho xuất khẩu) và tiêu dùng tăng lên.

Hơn thế nữa, vì hàng rào thuế quan đã được hạ xuống nên các công ty đa quốc gia không cần phải thiết lập nhà máy ở Trung Quốc mà có thể chọn các địa điểm khác phù hợp hơn để sản xuất và sau đó nhập khẩu vào Trung Quốc. Việt Nam cũng sẽ là một trong những nước được hưởng lợi nếu nắm bắt được cơ hội này (với các biện pháp tăng tính hấp dẫn trong dài hạn nêu trên). Thuận lợi nhất vẫn là những ngành kinh tế hướng vào khai thác tài nguyên (khoáng sản và nông nghiệp), là điều mà Trung Quốc đang rất thiếu hụt.

Như vậy, những năm tới đây, hoạt động thu hút FDI vào Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội và cả những thách thức. Chuẩn bị tốt để nắm bắt cơ hội thu hút FDI cũng chính là nắm bắt cơ hội để tăng trưởng nhanh và phát triển kinh tế.


  1. Các giải pháp nhằm thu hút FDI và đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu trên cơ sở điều chỉnh mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu ở Việt Nam

Dựa trên mối quan hệ giữa FDI và xuất nhập khẩu được rút ra ở chương II Các giải pháp sau đây được đưa ra theo hai hướng: thứ nhất là thông qua tác động đến FDI để cải thiện hoạt động xuất nhập khẩu; thứ hai là tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu để tăng cường thu hút FDI vào Vệt Nam.

  1. Nhóm biện pháp điều chỉnh hợp lí cơ cấu xuất nhập khẩu, kim ngạch xuất khẩu và cán cân thương mại thông qua tác động đến FDI

Mặc dù FDI và hoạt động xuất nhập khẩu ở Việt Nam có mối quan hệ tương tác lẫn nhau, các tác động của FDI đến hoạt động xuất nhập khẩu được thể hiện rõ nét hơn và dễ nhận biết, mức độ tác động cũng sâu hơn và từ nhiều chiều hơn, đặc biệt là dòng FDI hướng về xuất khẩu. Dòng FDI này có khả năng định hướng và chi phối đáng kể đến cả hoạt động xuất khẩu cũng như nhập khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, không chỉ có FDI hướng về xuất khẩu mới có những tác động đó, FDI nói chung đều có ảnh hưởng đến hoạt động ngoại thương của Việt Nam do tác động thay thế hoặc hỗ trợ thương mại, thêm vào đó là tác động lan tỏa tích cực sang khu vực kinh tế trong nước mà nó mang lại, gián tiếp ảnh hưởng đến hoạt động xuất nhập khẩu của khu vực này. Sau đây là một số giải pháp cho hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam thông qua tác động đến hoạt động thu hút FDI, nhằm phát huy tác động tích cực và hạn chế các tác động tiêu cực của FDI đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam.

  • Đơn giản hóa các thủ tục hành chính đối với các doanh nghiệp FDI

WB đánh giá việc thành lập doanh nghiệp ở Việt Nam tương đối phức tạp với 11 thủ tục, với hơn một tháng rưỡi. Trong khi đó, New Zealand và Canada chỉ cần một thủ tục và ở khối OECD chỉ cần chưa đầy hai tuần là có thể cấp phép. Trong khi trung bình một doanh nghiệp ở Việt Nam mất trung bình 1.050 giờ riêng cho việc đóng thuế, con số này ở Singapore, nước đứng đầu bảng xếp hạng năm nay, chỉ là 84 giờ.

Kết quả khảo sát ý kiến các doanh nghiệp thuộc hiệp hội các doanh nghiệp Hàn Quốc tại Việt Nam cho thấy có 5% doanh nghiệp Hàn Quốc có ý định giảm qui mô kinh doanh ở Việt Nam và có 2% doanh nghiệp muốn chuyển đầu tư từ Việt Nam sang nước khác. Thủ tục hành chính phức tạp như chuyện giải thích về luật rất khác nhau là một trong những lý do lớn để số doanh nghiệp Hàn Quốc này muốn rời bỏ Việt Nam trong tương lai.

Hội thương gia Đài Loan, những nhà đầu tư có FDI đăng ký lớn nhất tại Việt Nam đánh giá: "Hiệu lực hành chính ở Việt Nam còn thấp. Những thủ tục hành chính quá chậm. Tình trạng quan liêu vẫn còn phổ biến, sự nhận dạng của hải quan về phân loại hàng hóa mâu thuẫn nhau gây phiền phức cho các doanh nghiệp”.

Muốn giữ chân nhà đầu tư và tạo ấn tượng tốt với các chủ đầu tư mới, Việt Nam cần có kế hoạch cải cách thủ tục hành chính đối với doanh nghiệp FDI. Việt Nam nên thiết lập cơ quan phê chuẩn một cửa cho các thủ tục hành chính của doanh nghiệp FDI. Cơ quan nối giữa các Bộ này sẽ đóng vai trò như một đơn vị độc lập và cung cấp chất lượng dịch vụ đảm bảo cho cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài. Những đổi mới này nên được thực hiện tập trung, mà không tính đến vị trí địa lý hay lợi ích chính trị. Cơ quan này sẽ được trao quyền để giải quyết những vấn đề có sự tham gia của nhiều Bộ, ban ngành.

Hình thức đầu tư chủ yếu hiện nay là các chủ đầu tư thành lập các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Do đó, Việt Nam cũng nên thiết lập một cơ quan trung gian đại diện cho Chính phủ nhằm giúp đỡ các Hiệp hội doanh nghiệp FDI bằng cách cung cấp các dịch vụ tư vấn cho các công ty thành viên về các thủ tục hành chính; cung cấp địa chỉ liên lạc cần thiết cũng như tạo điều kiện cho các cuộc đối thoại với các Bộ, ban ngành; ngoài ra cũng là kênh chính thức tiếp nhận các ý kiến phản hồi. Chính phủ cũng nên tổ chức nhiều hơn các hội thảo phổ biến và hướng dẫn các luật mới cho nhà đầu tư. Các cơ quan chức năng cần tư vấn chính xác, hướng dẫn cụ thể hơn cho các nhà đầu tư nước ngoài và tiến hành giảm bớt các khâu trung gian.


  • Cần có một cơ quan nhà nước chuyên theo dõi và nghiên cứu về xu hướng FDI vào Việt Nam và trên thế giới, từ đó kịp thời đưa ra những thay đổi hợp lý trong chính sách FDI thời kì mới.

Trong những năm gần đây, FDI vào Việt Nam có sự chuyển biến đáng kể về hình thức đầu tư. Trước năm 2000, các doanh nghiệp liên doanh chiếm tỷ trọng 60-70% các dự án FDI, nhưng từ 2001 đến nay, các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài chiếm tỷ trọng đó. Hầu như chưa có một nghiên cứu nào từ các cơ quan quản lý nhà nước chỉ ra xu hướng phát triển này đã đặt ra những vấn đề gì cho đất nước, nhất là sức lan tỏa tác động FDI đối với các doanh nghiệp trong nước.

Năm 2010 là năm cuối cùng của chiến lược kinh tế - xã hội 2001-2010, chuẩn bị hành trang cho thập niên thứ hai của thế kỷ XXI, do vậy việc tổng kết FDI bằng những khảo sát có hệ thống hoạt động thực tiễn từ các khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế mở, các địa phương, đánh giá đúng thành tựu và đóng góp của FDI, những khiếm khuyết cần khắc phục, bao gồm cả chính sách, quản lý nhà nước, phân cấp cho các địa phương… để có cơ sở thực tiễn làm căn cứ sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh chính sách FDI phù hợp với định hướng và mục tiêu của chiến lược mới.

Chuyển sang giai đoạn mới cần có những thay đổi về chính sách FDI. Chính sách FDI được chia làm 3 loại: chính sách thu hút FDI, chính sách nâng cấp FDI và chính sách khuyến khích các mối quan hệ giữa TNCs quốc tế với doanh nghiệp trong nước.

Trong hơn 20 năm đổi mới, nước ta đã thay đổi chính sách thu hút FDI theo hướng tiếp cận với thông lệ quốc tế, bảo đảm các nguyên tắc đối xử quốc gia (NT), tối huệ quốc (MFN). Việc Quốc hội thông qua Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp năm 2005 là một bước tiến lớn về chính sách thu hút FDI. Vấn đề đặt ra là các cơ quan hữu quan cần nghiên cứu để có được chính sách nâng cấp FDI theo những định hướng ưu tiên ngành, lĩnh vực và đối tác đầu tư. Đối với các dự án công nghệ cao, cần có chính sách đủ hấp dẫn các nhà đầu tư lớn trong điều kiện cạnh tranh thu hút FDI giữa các nước rất gay gắt.

Kinh nghiệm thành công từ việc mời Intel vào nước ta để thực hiện dự án lớn, trong khi 3 nước khác trong khu vực cũng tìm mọi cách để có được dự án này, đã cho thấy không chỉ là chính sách chung, mà phải biết nhân nhượng trên cơ sơ bảo đảm lợi ích lâu dài đối với từng dự án của TNCs.

Chính sách khuyến khích các mối liên kết giữa TNCs với các doanh nghiệp trong nước cũng cần được quan tâm đúng mức, do các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay đã lớn mạnh hơn trước rất nhiều.



  • Xây dựng kế hoạch xúc tiến đầu tư tăng cường thu hút FDI vào hoạt động sản xuất xuất khẩu nhằm tăng kim ngạch xuất khẩu, cải thiện tình trạng thâm hụt thương mại.

Để đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu, tăng kim ngạch xuất khẩu đồng thời cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân thương mại trong nhiều năm nay, cần tăng cường thu hút FDI hướng vào xuất khẩu. Để thu hút được nhiều FDI hướng vào xuất khẩu, công tác vận động, xúc tiến đầu tư nhằm vào các chủ đầu tư có tiềm năng xuất khẩu lớn đóng một vai trò hết sức quan trọng. Một số lượng không nhỏ các TNC chuyên đầu tư vào sản xuất xuất khẩu, với mạng lưới phân phối khắp toàn cầu, họ có khả năng tiêu thụ một khối lượng lớn hàng hóa thông qua việc thực hiện các hoạt động xuất khẩu hàng từ quốc gia này sang quốc gia khác. Hiện nay, các TNC của Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan là các TNC có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong số các chủ đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Theo đánh giá của Bộ Công thương, trong thời gian tới, các nhà đầu tư này vẫn có xu hướng tiếp tục dịch chuyển những ngành sản xuất cần nhiều lao động từ nước họ sang Việt Nam. Họ cũng chính là những chủ đầu tư nắm công nghệ nguồn, có tiềm lực lớn về tài chính, có thể phát triển những sản phẩm tinh chế, có hàm lượng kĩ thuật cao. Do đó trong thời gian tới, để đẩy mạnh hoạt động xúc tiến đầu tư nhằm vào phát triển xuất khẩu thì Bộ Kế hoạch và Đầu tư phải phối hợp với Bộ Công thương đề ra ngay một kế hoạch xúc tiến đầu tư hướng vào các chủ đầu tư có tiềm năng xuất khẩu lớn, cân nhắc việc tăng ưu đãi cho đầu tư hướng vào xuất khẩu; xây dựng khu vực đầu tư trọng điểm, xúc tiến đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn cụ thể. Nhà nước nên thực hiện chủ chương đa phương hóa đối tác đầu tư nước ngoài vào hoạt động xuất khẩu để chủ động trong mọi tình huống. Đặc biệt cần chú trọng hoạt động xúc tiến đến các đối tác đầu tư thuộc khu vực Bắc Mĩ và Tây Âu vì đây là hai khu vực tập trung nhiều các TNC có tiềm lực kinh tế mạnh và đầu tư cho xuất khẩu lớn nhất trên thế giới.

Chính phủ cũng cần phối hợp chặt chẽ quan hệ giữa bộ Ngoại Giao, bộ Kế hoạch và Đầu tư với Bộ Công thương trong việc nghiên cứu thị trường đầu tư thế giới và khu vực, tiến hành các hoạt động xúc tiến đầu tư và xúc tiến thương mại từ bên ngoài thông qua các cơ quan đại diện ngoại giao và thương mại của Việt Nam tại nước ngoài ở một số địa bàn trọng điểm. Tranh thủ sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau của các tổ chức xúc tiến đầu tư quốc tế, trước hết là trong khuôn khổ các nước ASEAN, APEC, hợp tác ASEM, hợp tác với các cơ quan xúc tiến đầu tư của Nhật, Mĩ, các nước EU và các tổ chức quốc tế khác để đẩy mạnh tuyên truyền giới thiệu về hoạt động FDI và xuất nhập khẩu của Việt Nam, tạo dựng một hình ảnh mới của Việt Nam trong mắt nhà đầu tư. Phối hợp với các cơ quan xúc tiến thương mại của các nước ở Việt Nam để tranh thủ giới thiệu về chính sách thương mại, pháp luật, quảng bá các chương trình đầu tư, ưu đãi trong đầu tư hướng vào xuất khẩu của Việt Nam. Nhà nước cũng nên khuyến khích việc thành lập các hiệp hội doanh nghiệp FDI đầu tư vào xuất khẩu tại Việt Nam, ngoài ra chúng ta cần tăng cường công tác nghiên cứu tình hình kinh tế, xuất nhập khẩu, chính sách FDI của các nước, các tập đoàn, các công ty xuyên quốc gia để có kế hoạch vận động xúc tiến đầu tư cho phù hợp.



  • Khuyến khích các doanh nghiệp FDI sử dụng nguyên liệu trong nước, và khuyến khích đầu tư vào các ngành sản xuất nguyên, nhiên vật liệu Việt Nam chưa sản xuất được

Mục tiêu của giải pháp này là nhằm hạn chế nhập khẩu nguyên, nhiên liệu từ nước ngoài, giảm xuất thô, tăng xuất tinh, đồng thời tăng tỉ lệ nội địa trong sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam. Đây là một trong những cách thức rất hiệu quả để tạo ra được liên kết hợp lý giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp FDI. Các doanh nghiệp trong nước có thể phát triển theo hướng trở thành vệ tinh cung cấp nguyên vật liệu cho các doanh nghiệp FDI nhằm thúc đẩy không chỉ sự phát triển của các ngành sản xuất xuất khẩu trực tiếp mà còn hướng tới phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu tại chỗ. Các sản phẩm của Việt Nam có thế mạnh có thể xuất khẩu một cách gián tiếp thông qua các doanh nghiệp FDI. Để làm được điều này, chúng ta cần:

  • Thành lập các tổ chức đứng ra thu mua nông sản nguyên vật liệu từ các hộ cá thể để cung cấp cho các doanh nghiệp FDI, giúp doanh nghiệp có thêm thông tin về tình hình sản xuất nguyên liệu trong nước mà họ đang tìm kiếm.

  • Tiếp tục tăng cường hỗ trợ từ phía nhà nước về vốn, công nghệ cho các vùng nguyên liệu, tạo điều kiện cho các nhà cung cấp nguyên liệu trong nước thực hiện tốt các cam kết về số lượng, chất lượng nguyên liệu.

  • Thường xuyên thực hiện các nghiên cứu để kịp thời đưa ra dự đoán về nhu cầu đối với các loại nguyên liệu từ nông sản, tránh trường hợp nông dân mất mùa giá cao, được mùa giá thấp, khó duy trì vùng nguyên liệu. Đồng thời giám sát việc thực hiện các cam kết về giá của bên thu mua, bảo vệ quyền lợi của người sản xuất nguyên liệu.(hiện tượng ép giá khi sản lượng thu hoạch cao là một trong những nguyên nhân chính khiến các vùng nguyên liệu công nghiệp từ nông sản nước ta không tồn tại lâu)

Ngoài ra, việc tăng cường thu hút đầu tư nước ngoài vào các ngành sản xuất nguyên liệu cho hàng xuất khẩu cũng là một giải pháp cũng rất hợp lý bởi trình độ công nghệ của nước ta còn thấp, sẽ mất nhiều thời gian và cũng khó khăn hơn nếu để các doanh nghiệp trong nước chủ động nghiên cứu để sản xuất nguyên liệu cho hàng xuất khẩu mà không có đầu tư công nghệ của các chủ đầu tư nước ngoài. Nhà nước có thể thu hút FDI vào các ngành này bằng cách tạo ưu đãi hơn cho nhà đầu tư như thuế, hỗ trợ vốn, ưu tiên về thủ tục…, kết hợp với các kế hoạch phát triển nguồn nguyên vật liệu thô đầu vào từ khoáng sản, nông sản, lâm sản, thủy sản như đã nói trên. Làm tốt được khâu này, chúng ta sẽ nhanh chóng tăng tỉ lệ nội địa hóa trong hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam do sử dụng nhiều nguyên liệu trong nước, giảm kim ngạch nhập khẩu, giảm tỉ trọng nhập khẩu nguyên liệu sản xuất, đồng thời giảm thâm hụt thương mại với các nước Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc.

Giải pháp này còn góp phần cải thiện cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam theo hướng giảm xuất thô và tăng xuất tinh. Chúng ta đều biết Việt Nam là một nước xuất khẩu dầu thô rồi lại nhập khẩu hầu hết các sản phẩm hóa dầu. Khiếm khuyết lớn trong hoạt động thu hút FDI của Việt Nam là chưa thành công trong việc thu hút FDI vào ngành công nghiệp hóa dầu trong khi sản lượng dầu thô khai thác và xuất khẩu chiếm tỉ trọng đáng kể trong tổng giá trị xuất khẩu cả nước. Nước ta đã tự thực hiện dự án nhà máy lọc dầu Dung Quất, tuy nhiên đã quá thời hạn hoàn thành mà nhà máy vẫn chưa thể đi vào hoạt động do lỗi kĩ thuật và thiếu nhân lực trình độ cao. Nhiều người lo ngại rằng sau khi nhà máy đi vào hoạt động, sản phẩm mà nó tạo ra sẽ không còn phù hợp với nhu cầu tiêu dùng trong nước. Với những lĩnh vực công nghệ cao mà Việt Nam chưa có kinh nghiệm như ngành hóa dầu, chúng ta thực sự cần có sự tham gia của các nhà đầu tư nước ngoài. Trong những năm tới, Việt Nam nên có định hướng thu hút FDI vào những ngành này, tránh việc xuất thô khoáng sản rồi tái nhập khẩu sản phẩm tinh chế từ các khoáng sản đó. Nếu thu hút thành công FDI vào các ngành này, Việt Nam trong vài năm tới sẽ cải thiện cơ cấu xuất nhập khẩu theo hướng rất tích cực, giảm xuất khẩu dầu thô, nhập sản phẩm hóa dầu mà bắt đầu trở thành nước xuất khẩu các sản phẩm hóa dầu sang nước khác.



  • Lên kế hoạch tăng cường thu hút FDI công nghệ cao, từ đó nâng cao trình độ sản xuất của khu vực sản xuất xuất khẩu cũng như toàn bộ nền kinh tế, nâng cao sức cạnh tranh và tăng tỉ trọng nhóm hàng công nghệ, hàng chế tạo trong tổng xuất khẩu nhờ tận dụng tác động lan tỏa công nghệ

Việt Nam là một nước đang phát triển, trình độ công nghệ của khu vực sản xuất còn ở mức thấp, vì nguyên nhân này, các chủ đầu tư khi đầu tư vào Việt Nam đa số đều mang theo công nghệ từ nước họ. Hầu hết những công nghệ này tiên tiến hơn so với công nghệ mà các doanh nghiệp trong nước đang sử dụng, tuy nhiên việc thu hút FDI vẫn cần có sự chọn lọc. Có nhiều công nghệ là mới với nước ta nhưng so với thế giới là đã lỗi thời hoặc sắp lỗi thời. Nếu như hoạt động thu hút FDI không được tiến hành một cách có chọn lọc, tác động lan tỏa công nghệ từ khu vực FDI sang khu vực trong nước sẽ không đáng kể, không đủ để nâng cao sức cạnh tranh của hàng xuất khẩu và cũng không đủ mạnh để tác động tích cực đến cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam. Như vậy, bên cạnh việc tăng cường thu hút FDI có kèm công nghệ, Bộ Kế hoạch đầu tư cần quan tâm đánh giá mức độ tiên tiến của công nghệ mà chủ đầu tư đưa vào, từ đó đưa ra những ưu đãi với các dự án có công nghệ cao hơn mang lại ích lợi lớn hơn cho nền sản xuất xuất khẩu của nước ta. Hơn nữa, tác động lan tỏa công nghệ từ các dự án FDI kèm theo công nghệ cao về dài hạn sẽ tác động tích cực đến cả hoạt động nhập khẩu, không đơn thuần là giảm kim ngạch nhập khẩu mà còn có khả năng chuyển đổi tích cực cơ cấu hàng nhập khẩu.

Để thu hút được các dự án FDI công nghệ cao, Việt Nam cần có sự chuẩn bị chu đáo về cơ sở hạ tầng, đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng được yêu cầu của chủ đầu tư, tránh việc để nhân lực yếu kém trở thành rào cản đối với FDI công nghệ cao vào nước ta. Ví dụ cho hệ quả này là trường hợp của Sanyo. Sau khi Công ty Sanyo thành lập nhà máy sản xuất linh kiện điện tử đầu tiên với vốn FDI, các ngành công nghiệp Việt Nam cơ bản vẫn chỉ sản xuất được những mặt hàng đơn giản, những sản phẩm công nghệ cao cũng mới chỉ là lắp ráp. Chính vì các công đoạn cần kỹ thuật cao lao động Việt Nam chưa thể đảm nhận, nên việc học hỏi, tích lũy kinh nghiệm qua thực tế sản xuất ở các doanh nghiệp FDI của nhân lực trong nước chưa được nhiều. 



  • Khuyến khích đầu tư vào khu vực nông nghiệp nhằm phát huy tối đa tiềm lực xuất khẩu của khu vực này

Khủng hoảng kinh tế thế giới đã làm thay đổi lưu lượng và cấu trúc dòng vốn FDI toàn cầu. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2009 (WIR 2009) của Liên Hiệp Quốc, một xu thế quan trọng đối với các nước đang phát triển là dòng FDI chảy vào khu vực nông - lâm - ngư nghiệp (gọi chung là khu vực nông nghiệp) trong mấy năm trở lại đây đang tăng lên. Theo dự báo trong Báo cáo đầu tư toàn cầu của Diễn đàn Liên Hiệp Quốc về Thương mại và Phát triển UNCTAD, xu thế này sẽ duy trì trong tương lai vì một số nguyên nhân: (1) cầu sản phẩm nông nghiệp ít co giãn so với giá và thu nhập, nên trong thời kỳ khủng khoảng, cầu đối với sản phẩm nông nghiệp vẫn tương đối ổn định; (2) nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm nông nghiệp đã và sẽ tiếp tục tăng nhanh ở cả những nước đông dân và những nước khan hiếm tài nguyên đất; (3) bên cạnh nhu cầu tiêu dùng trực tiếp, hoạt động sản xuất năng lượng sinh học đang tăng nhanh, khiến nhu cầu về mía, ngũ cốc, các hạt có dầu tăng theo.

Việt Nam xuất phát là một nước nông nghiệp, phần đông dân số hiện vẫn tham gia sản xuất nông nghiệp. Là một nước nhiệt đới, đa dạng về nông sản và thủy sản, nước ta có nhiều lợi thế để phát triển hoạt động xuất khẩu sản phẩm nông nghiệp với qui mô lớn. Nhưng trong khi xu thế FDI vào khu vực nông nghiệp của cả thế giới đang ngày một tăng, thì ở Việt Nam lại đang xảy ra điều ngược lại. Nguyên nhân là do chưa được đầu tư thích đáng, nông dân chưa được trang bị những máy móc hiện đại để tiến hành canh tác, thu hoạch trên qui mô lớn, không có hỗ trợ về nghiên cứu để nâng cao chất lượng cây, con giống, cộng thêm các sản phẩm hỗ trợ chất lượng kém (phân bón, thuốc bảo vệ thực vật) dẫn tới chất lượng nông phẩm chưa cao, việc bảo quản cũng gặp nhiều khó khăn. Thu hút FDI vào nông nghiệp sẽ giúp chúng ta cải thiện được nhiều mặt của sản xuất nông nghiệp, nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp, đặc biệt là lợi dụng khả năng tìm kiếm thị trường xuất khẩu của các chủ đầu tư. FDI vào khu vực nông nghiệp nếu được chú trọng đúng mức sẽ đưa sản phẩm nông nghiệp Việt Nam đi khắp thế giới, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu mà không mang lại tác động tiêu cực nào.



  1. : nonghocbucket -> UploadDocument server07 id114188 190495
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> ChuyêN ĐỀ ĐIỀu khiển tán sắC
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> Trong khuôn khổ Hội nghị của fifa năm 1928 được tổ chức tại Amsterdam (Hà Lan), Henry Delaunay đã đưa ra một đề xuất mang tính đột phá đối với lịch sử bóng đá
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> MỤc lục phần I: MỞ ĐẦU
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> «Quản trị Tài sản cố định trong Công ty cổ phần Điện lực Khánh Hòa»
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> ĐỒ Án tốt nghiệp tk nhà MÁY ĐƯỜng hiệN ĐẠi rs
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> Đề tài: Qúa trình hình thành và phát triển an sinh xã hội ở Việt Nam
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> Chuyên đề tốt nghiệp Trần Thị Ngọc – lt2 khct L ời cảM ƠN
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> Địa vị của nhà vua trong nhà nước phong kiến Việt Nam
    UploadDocument server07 id114188 190495 -> BỘ giáo dục và ĐÀo tạo cộng hòa xã HỘi chủ nghĩa việt nam trưỜng đẠi học bách khoa hà NỘI Độc lập-Tự do-Hạnh phúc


1   2   3   4   5   6   7   8   9   10


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương