KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)


Đối với 05 lĩnh vực ưu tiên



tải về 6.12 Mb.
trang84/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   78   79   80   81   82   83   84   85   86

Đối với 05 lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ), NHNN tiếp tục chỉ đạo, định hướng các TCTD tập trung nguồn vốn cho vay các lĩnh vực này, đồng thời, quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với các lĩnh vực ưu tiên là 8%/năm, thấp hơn 2-3% so với lãi suất cho vay các lĩnh vực khác. Đặc biệt, đối với nông nghiệp, nông thôn, NHNN đã ban hành nhiều chính sách đặc thù, đồng thời chỉ đạo các TCTD triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi đối với những lĩnh vực trọng yếu của sản xuất nông nghiệp như thủy sản, lúa gạo, cà phê, tháo gỡ khó khăn cho thiên tai, bão lũ… Bên cạnh đó, NHNN cũng đang phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai chương trình thí điểm cho vay đối với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao nhằm hỗ trợ, khuyến khích các doanh nghiệp và nông dân tích cực tham gia các mô hình sản xuất mới, nâng cao giá trị gia tăng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới.

Tính đến cuối tháng 7/2014, dư nợ cho vay các lĩnh vực ưu tiên đều tăng đáng kể so với cuối năm 2013: cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp nông thôn tăng khoảng 4,5%, cho vay xuất khẩu tăng khoảng 5,83%, cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 1,79%, cho vay doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng khoảng 9,33%, cho vay công nghiệp hỗ trợ tăng 4,08%.

Trong thời gian tới, NHNN sẽ bám sát chỉ đạo của Chính phủ, tiếp tục rà soát cơ chế, thủ tục cho vay để xem xét chỉnh sửa hoặc bổ sung những quy định về chính sách tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên cho phù hợp hơn với tình hình thực tế; đồng thời tiếp tục triển khai nhiệm vụ và giải pháp về hoạt động ngân hàng để hỗ trợ các doanh nghiệp được vay vốn ngân hàng thuận lợi, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh.

22. Cử tri tỉnh Yên Bái kiến nghị: Đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội có chính sách đặc thù nâng thời hạn tính lãi vay ngân hàng từ 3 năm như hiện nay lên 5 năm mới thu lãi để đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, vùng xa, vùng sâu khi vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất mới đủ điều kiện để trả lãi vay.

Trả lời: Tại công văn số 6110/NHNN-VP ngày 21/8/2014

Xóa đói giảm nghèo là một chủ trương lớn của Đảng, Nhà nước ta nhằm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng miền, các dân tộc và các nhóm dân cư, góp phần phát triển đất nước bền vững và thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Thực hiện chủ trương trên, ngành Ngân hàng, trong đó nòng cốt là Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), đã và đang thực hiện cho vay 15 chương trình tín dụng chính sách theo chỉ định của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và nhiều chương trình khác từ nguồn vốn ủy thác của địa phương, cá nhân và các tổ chức nước ngoài. Các chương trình này đã tạo điều kiện để các hộ nghèo tiếp cận tốt hơn các dịch vụ xã hội cơ bản; cơ sở hạ tầng của các huyện, xã nghèo được tăng cường, đời sống người nghèo được cải thiện, nhất là ở khu vực miền núi, vùng cao, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Hiện nay, người nghèo mà đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực khó khăn đang được hưởng các chính sách ưu đãi quy định tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Theo đó, các đối tượng này được hưởng một số cơ chế, chính sách đặc thù như: Chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập; Chính sách giáo dục, đào tạo, dạy nghề, nâng cao dân trí; Chính sách cán bộ đối với các huyện nghèo; Chính sách, cơ chế đầu tư cơ sở hạ tầng ở thôn, bản, xã và huyện.

Ngày 4/9/2009, NHNN đã ban hành Thông tư số 06/2009/TT-NHNN quy định chi tiết chính sách cho vay ưu đãi lãi suất đối với các huyện nghèo theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP. Theo quy định tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP và Thông tư 06/2009/TT-NHNN, hộ nghèo trên địa bàn các huyện nghèo được vay ưu đãi một lần tối đa 5 triệu đồng/hộ với lãi suất 0% trong thời gian 2 năm để mua giống gia súc; gia cầm; giống thủy sản hoặc phát triển ngành nghề tiểu thủ công nghiệp.

Bên cạnh đó, ngày 31/12/2013, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2621/QĐ-TTg sửa đổi, bổ sung một số mức hỗ trợ phát triển sản xuất theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP, theo đó hộ nghèo, khi tham gia dự án chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi được cấp có thẩm quyền phê duyệt, phù hợp với quy hoạch sản xuất, được hưởng chính sách vay vốn ưu đãi tại NHCSXH với mức vay tối đa là 10 triệu đồng/hộ, lãi suất vay bằng 50% lãi suất cho vay hộ nghèo thông thường, thời gian hỗ trợ lãi suất là 3 năm.

Trong điều kiện Ngân sách Nhà nước còn nhiều khó khăn, việc cân đối để đảm bảo nguồn vốn cho vay các chương trình tín dụng ưu đãi và hỗ trợ lãi suất như đã nêu trên thể hiện sự quan tâm và nỗ lực lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo, đặc biệt là đồng bào dân tộc thiểu số vùng cao, vùng xa, vùng sâu. NHNN mong cử tri quan tâm, chia sẻ khó khăn chung của đất nước và tuyên truyền, giải thích để góp phần thực hiện tốt chương trình tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác.

NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI
1. Cử tri các tỉnh An Giang, Đắk Nông, Gia Lai, Hà Giang, Hải Dương, Hậu Giang, Nam Định, Tiền Giang kiến nghị: Cử tri rất hoan nghênh việc Nhà nước có chính sách cho vay với lãi suất thấp đối với hộ nghèo và cận nghèo ở nông thôn, đây là nguồn vốn quan trọng để người nông dân nông thôn có điều kiện đầu tư sản xuất để thoát nghèo bền vững. Đề nghị tăng định mức cho vay hộ nghèo và cận nghèo (tối đa lên 50 triệu đồng/hộ), vì mức cho vay như hiện nay không đủ vốn để làm ăn, cải thiện cuộc sống. Đồng thời giảm lãi suất cho vay phù hợp với thời điều kiện về thời gian, vì lãi suất của các ngân hàng thương mại đã giảm, nhưng lãi suất của ngân hàng chính sách chưa giảm.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

a) Về đề nghị nâng mức cho vay đối với hộ nghèo, cận nghèo:

Hàng năm, NHCSXH luôn tích cực kiến nghị, đề xuất với các Bộ, ngành liên quan trình Chính phủ cân đối nguồn vốn để cho vay phát triển sản xuất, kinh doanh đối với hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách khác phù hợp với nhu cầu và khả năng sử dụng vốn của hộ nghèo, cận nghèo. Xét theo tình hình thực tế, ngày 26/4/2014 Chủ tịch Hội đồng quản trị NHCSXH đã ký Quyết định số 34/QĐ-HĐQT về nâng mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Theo đó, kể từ ngày 01/5/2014, mức cho vay tối đa đối với hộ nghèo và hộ cận nghèo đáp ứng nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh, nhằm góp phần thực hiện chính sách an sinh xã hội, giảm nghèo bền vững lên 50 triệu đồng/hộ vay.

b) Về giảm lãi suất cho vay:

Lãi suất cho vay các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH. Theo Chiến lược phát triển NHCSXH đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, trong giai đoạn 2011-2020, Chính phủ sẽ tiếp tục thực hiện cơ chế ưu đãi về lãi suất cho vay của NHCSXH phù hợp với khả năng tài chính của Nhà nước và của các đối tượng vay vốn trong từng thời kỳ. Ngày 06/6/2014, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 872/QĐ-TTg về điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH. Theo đó, lãi suất cho vay hộ nghèo; giải quyết việc làm; đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài; học sinh, sinh viên từ 0,65%/tháng (7,8%/năm) xuống còn 0,6%/tháng (7,2%/năm); hộ cận nghèo từ 0,78%/tháng (9,36%/năm) xuống còn 0,72%/tháng (8,64%/năm).

2. Cử tri tỉnh Hòa Bình và TP Hà Nội kiến nghị: Hiện nay, mặt bằng lãi suất cho vay của các ngân hàng, tổ chức tín dụng đã giảm thấp so với giai đoạn 2011- 2013, lãi suất cho vay hoạt động sản xuất kinh doanh hiện các tổ chức tín dụng áp dụng từ 9 - 13%/năm. Tuy nhiên, còn một số chương trình tín dụng cho vay các đối tượng chính sách còn ở mức cao như: Cho vay nước sạch vệ sinh môi trường lãi suất 9,6%/năm, lãi suất cho vay thương nhân vùng khó khăn 9,6%/năm, chương trình cho vay hộ cận nghèo 10,14%, chương trình tín dụng vốn KFW 10,8%/năm. Cử tri đề nghị ngành chức năng nghiên cứu có chính sách mang tính đồng bộ, bền vững như hỗ trợ về nhà ở, dạy nghề, tạo việc làm, cho vay vốn ưu đãi với lãi suất thấp đối với hộ nghèo (hiện nay lãi suất cho vay 0,65%/tháng đối với hộ nghèo là quá cao). Đề nghị nghiên cứu, xem xét giảm lãi suất cho vay đối với các chương trình trên, tạo điều kiện cho các đối tượng chính sách giảm bớt khó khăn trong sản xuất kinh doanh.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

Lãi suất cho vay các chương trình tín dụng chính sách của NHCSXH do Thủ tướng Chính phủ quy định trong từng thời kỳ theo đề nghị của Hội đồng quản trị NHCSXH. Ngày 09/10/2013, Thủ tướng Chính phủ có Quyết định số 1826/QĐ-TTg về điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH gồm các chương trình cho vay: hộ cận nghèo; hộ sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn; thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn và chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn. Theo đó, từ ngày 9/10/2013, lãi suất cho vay đối với hộ cận nghèo từ 10,14%/năm xuống còn 9,36%/năm; lãi suất cho vay đối với chương trình hộ gia đình sản xuất, kinh doanh tại vùng khó khăn; thương nhân hoạt động thương mại tại vùng khó khăn và chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn từ 10,8%/năm xuống còn 9,6%/năm. Tiếp đó, để phù hợp với tình hình kinh tế hiện nay, ngày 06/6/2014, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 872/QĐ-TTg về điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH.



3. Cử tri các tỉnh Gia Lai, Yên Bái kiến nghị: Cử tri đề nghị Chính phủ tiếp tục có chính sách hỗ trợ người nghèo vay tiền thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội để các địa phương tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở giai đoạn 2011 - 2015. Đồng thời, đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội có chính sách đặc thù nâng thời hạn vay cho đồng bào các dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng sâu, vùng xa khi vay vốn ngân hàng để phát triển sản xuất mới có đủ điều kiện để trả lãi vay.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

  1. Về mở rộng chính sách

Nhằm phát huy hiệu quả thiết thực của chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ và chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung, trong thời gian qua, Bộ Xây dựng đã nghiên cứu, dự thảo về các chính sách tiếp tục hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở trình Thủ tướng Chính phủ.

Ngày 18/7/2014, Văn phòng Chính phủ có văn bản số 277/TB-VPCP Thông báo kết luận của Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải tại cuộc họp về Chính sách hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 (Chương trình hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg giai đoạn 2) và Chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung. Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý tiếp tục thực hiện hỗ trợ nhà ở đối với hộ nghèo theo chuẩn nghèo mới giai đoạn 2011-2015 và Chính sách hỗ trợ hộ nghèo xây dựng nhà ở phòng, tránh bão, lụt khu vực miền Trung triển khai tại 14 tỉnh, thành phố khu vực miền Trung; giao Bộ Xây dựng tiếp tục phối hợp với Văn phòng Chính phủ tiếp thu ý kiến các Bộ, ngành liên quan chỉnh sửa, hoàn thiện các dự thảo chính sách nêu trên để sớm trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt.

Khi Thủ tướng Chính phủ có quyết định về việc tiếp tục thực hiện các Chính sách nêu trên, NHCSXH sẽ tiếp tục triển khai kịp thời, có hiệu quả để đạt được mục tiêu của Chương trình.


  1. Về nâng thời hạn vay cho đồng bào dân tộc thiểu số

NHCSXH căn cứ vào mục đích sử dụng vốn và căn cứ vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh và khả năng trả nợ của hộ vay để cùng hộ vay thỏa thuận về thời hạn cho vay. Hiện nay, thời hạn cho vay các chương trình tín dụng được quy định với thời hạn cho vay tối đa là 60 tháng (5 năm), phù hợp với phương án, dự án sản xuất, kinh doanh và cây trồng, vật nuôi như: cho vay nuôi trâu, bò cày kéo, trồng mới cây ăn quả tối đa là 60 tháng, trồng cây lấy gỗ với thời hạn cho vay là trên 60 tháng; ngoài ra, hộ vay vốn còn được gia hạn nợ do nguyên nhân khách quan tác động đến quá trình sản xuất, kinh doanh và thời gian thu hồi sản phẩm tối đa 12 tháng đối với cho vay ngắn hạn, tối đa bằng ½ thời hạn cho vay đối với vay vốn trung hạn.

4. Cử tri tỉnh Bến Tre kiến nghị: Ngày 09/10/2013 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1826/QĐ-TTg về điều chỉnh lãi suất cho vay đối với một số chương trình tín dụng chính sách tại Ngân hàng Chính sách xã hội. Tuy nhiên, Quyết định này chỉ áp dụng lãi suất đối với khoản vay mới, còn các khoản vay người dân đã vay trước đây thì không được điều chỉnh giảm lãi suất. Cử tri kiến nghị Nhà nước nên quan tâm giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay trước đây để người dân nghèo ở vùng nông thôn đỡ khó khăn hơn, đảm bảo công bằng giữa những hộ đã vay trước đây và những hộ mới cho vay sau này.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

Về việc điều chỉnh giảm lãi suất cho vay đối với các khoản vay cũ, NHCSXH xin tiếp thu và sẽ đề xuất với Chính phủ trong thời gian tới.



5. Cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu, xem xét có chính sách cho vay đối với các hộ nghèo, hộ cận nghèo tại các huyện, xã theo Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ với mức lãi suất cho vay tại các huyện theo Nghị quyết 30a.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

Để bổ sung thêm chính sách cho vay đối với hộ nghèo và hộ cận nghèo sinh sống tại 23 huyện nghèo theo Quyết định số 293/QĐ-TTg ngày 05/02/2013 của Thủ tướng Chính phủ như chính sách cho vay đối với huyện nghèo theo Nghị quyết 30a, Chính phủ phải có quyết định và cân đối nguồn vốn cho vay. Việc mở rộng thêm đối tượng thụ hưởng chính sách, NHCSH xin tiếp thu để cùng với các Bộ, ngành kiến nghị với Chính phủ xem xét về vấn đề này.



6. Cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị: Hiện nay, Nhà nước có nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp cho các hộ nghèo, tuy nhiên các chính sách này cũng có mặt hạn chế là tạo ra tâm lý trông chờ, ỷ lại của một bộ phận người nghèo. Do vậy, đề nghị nghiên cứu, thay đổi chính sách, chuyển từ hỗ trợ trực tiếp cho hộ nghèo, hộ cận nghèo sang hình thức cho vay không tính lãi để tạo điều kiện cho họ có vốn phát triển sản xuất, vươn lên thoát nghèo, khắc phục tình trạng trông chờ, ỷ lại, không muốn thoát nghèo.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

Chính phủ ban hành Nghị định số 78/NĐ-CP ngày 04/10/2002 về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác và Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 15/QĐ-TTg ngày 23/02/2013 về tín dụng đối với hộ cận nghèo. Theo đó, hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách khác được vay vốn ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói, giảm nghèo, ổn định xã hội. Chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo, cận nghèo do Chính phủ quy định. NHCSXH xin tiếp thu kiến nghị của cử tri và đề xuất vào thời gian thích hợp.



7. Cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị: Cử tri kiến nghị, cần ban hành các chính sách đặc thù quy định đối với hộ sau khi thoát nghèo vẫn được hưởng các chính sách vay vốn học sinh, sinh viên, vay vốn phát triển sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu lao động với lãi suất và mức vay bằng với hộ nghèo trong vòng 36 tháng để người dân tiếp tục phát triển sản xuất đảm bảo thoát nghèo bền vững.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

Trong thời gian qua, Đảng, Nhà nước và Chính phủ đã có rất nhiều nỗ lực trong công tác giảm nghèo tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo, người đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận với nguồn vốn cho vay ưu đãi để từng bước thoát nghèo bền vững. Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác giảm nghèo vẫn còn khó khăn khi thoát khỏi diện hộ nghèo, các hộ cận nghèo, hộ thoát nghèo chưa định hướng được phương án sản xuất, kinh doanh nhằm ổn định kinh tế thoát nghèo bền vững; năng lực sản xuất, áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế, nhiều nơi vẫn theo tập quán sống không tập trung, xa chợ, xa trung tâm, gây khó khăn trong việc trao đổi và tiêu thụ sản phẩm làm ra, chưa đủ khả năng để tiếp cận vốn với các ngân hàng thương mại khác, đặc biệt nếu trả nợ NHCSXH xong thì có nguy cơ tái nghèo. Hiện nay, NHCSXH đang tham gia cùng Ngân hàng Nhà nước xây dựng cơ chế cho vay đối với hộ mới thoát nghèo để trình Chính phủ ban hành. Theo đó, hộ mới thoát nghèo, thoát cận nghèo tiếp tục được vay vốn ưu đãi tại NHCSXH để: (1) phát triển sản xuất, kinh doanh, (2) vay vốn chương trình cho vay học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn theo Quyết định số 157/2007/QĐ-TTg, (3) vay vốn chương trình cho vay các đối tượng chính sách đi lao động có thời hạn ở nước ngoài.



8. Cử tri tỉnh Vĩnh Long kiến nghị: Cử tri đề nghị Ngân hàng Chính sách xã hội tiếp tục cho vay đối với hộ vừa thoát nghèo với một khoảng thời gian nhất định, nhằm để các hộ này có vốn đầu tư vào kinh doanh, sản xuất thật sự thoát nghèo theo hướng bền vững.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

Giảm nghèo bền vững là một trọng tâm của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo. Tại công văn số 4391/VPCP-KTTH ngày 31/5/2013 Văn phòng Chính phủ đã thông báo ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Văn Ninh về việc chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi, theo đó giao Ngân hàng Nhà nước Việt Nam nghiên cứu, đề xuất cho hộ mới thoát nghèo tiếp tục được hưởng chính sách vay vốn tín dụng ưu đãi trong thời hạn nhất định sau khi thoát nghèo. Hiện nay, NHCSXH đang tham gia cùng Ngân hàng Nhà nước xây dựng cơ chế cho vay đối với hộ mới thoát nghèo để trình Thủ tướng Chính phủ ban hành.

9. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Đề nghị xem xét lại việc cho học sinh, sinh viên phải mở thẻ ATM, vì sẽ rất khó quản lý việc chi tiêu của các em, khi có tiền trong thẻ các em sẽ chi tiêu tự do, thay vì để gia đình lĩnh tiền vay, quản lý và cấp lại cho các em sẽ hiệu quả hơn.

Trả lời: Tại công văn số 2931/NHCS-TDNN ngày 20/8/2014

NHCSXH thực hiện việc giải ngân Chương trình Tín dụng đối với học sinh, sinh viên (HSSV) theo các hình thức bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản qua tài khoản thẻ ATM. Năm 2009, NHCSXH đã ký hợp đồng hợp tác với Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và Ngân hàng Thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Vietinbank) về việc phát hành thẻ để thực hiện giải ngân cho chương trình tín dụng HSSV. Việc giải ngân qua thẻ ATM đã tạo điều kiện thuận lợi cho hộ vay khi sử dụng vốn vay để đóng học phí và trang trải các khoản chi phí học tập cho HSSV. Dịch vụ thẻ ATM dành cho HSSV có các tiện ích: có thể rút tiền mặt, thanh toán học phí và các dịch vụ khác bằng chuyển khoản, đồng thời hỗ trợ cho hộ gia đình khi chuyển tiền vay cho HSSV không phải chịu chi phí chuyển tiền, mặt khác, HSSV không phải bảo quản tiền mặt nên đảm bảo an toàn, ngoài ra còn được hưởng lãi theo mức lãi suất không kỳ hạn tính trên số dư của tài khoản thẻ.

NHCSXH không bắt buộc khách hàng nhận tiền vay bằng hình thức chuyển khoản qua thẻ ATM. Hộ vay chương trình tín dụng HSSV có thể lựa chọn: hoặc nhận tiền vay trực tiếp bằng tiền mặt tại nơi cho vay hoặc chuyển khoản qua tài khoản thẻ ATM.

BẢO HIỂM XÃ HỘI VIỆT NAM
1. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị: Đề nghị xem xét điều chỉnh quy trình duyệt thanh quyết toán hồ sơ bệnh án của bệnh nhân có Bảo hiểm y tế, vì với quy trình điều trị của cơ sở y tế, việc duyệt hồ sơ bệnh án sau khi điều trị xong sẽ rất khó khăn trong việc giải quyết các trường hợp vướng mắc, quy trình của bảo hiểm thực hiện sau khi hồ sơ bệnh án của bệnh nhân đã hoàn thành nên có trường hợp xuất toán, gây khó khăn đối với cơ sở y tế trong việc giải quyết phần kinh phí xuất toán này, nếu đồng thời thực hiện sẽ có sự thống nhất của cơ quan bảo hiểm và cơ sở y tế, tránh được trường hợp xuất toán sau khi hồ sơ bệnh án đã hoàn thành.

Trả lời: Tại công văn số 3171/BHXH-CSYT ngày 29/8/2014

Tại Khoản 3, Điều 14 Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế - Tài chính hướng dẫn thực hiện BHYT quy định, việc giám định được thực hiện đồng thời hoặc thực hiện sau khi người bệnh ra viện.

Tại Khoản 4, Điều 40 Luật BHYT năm 2008 quy định, cơ quan BHXH có quyền từ chối thanh toán chi phí khám, chữa bệnh BHYT không đúng quy định.

Vì vậy, để nâng cao trách nhiệm của cơ sở KCB trong việc quản lý và sử dụng kinh phí KCB BHYT, cơ sở KCB phải chỉ định sử dụng thuốc, vật tư y tế, dịch vụ y tế hợp lý, đúng quy định của pháp luật về BHYT. Việc giám định trước hay sau thời gian bệnh nhân điều trị không ảnh hưởng đến quyền lợi của người bệnh BHYT.



2. Cử tri tỉnh Bình Phước kiến nghị: Hiện tại, một số bệnh viện tuyến huyện đã được cấp phép cho triển khai áp dụng một số kỹ thuật cao trong khám chữa bệnh như Chụp CT-Scanner, khám chuyên khoa gan, chạy thận nhân tạo...Tuy nhiên, theo quy định của ngành bảo hiểm Việt Nam, thì bệnh viện tuyến huyện không được bảo hiểm chi trả cho các chi phí khám chữa bệnh kỹ thuật cao như đã nói trên. Điều này làm cho người dân không muốn khám chữa bệnh ở bệnh viện tuyến huyện. Đề nghị Bảo hiếm xã hội Việt Nam chỉ đạo bảo hiểm xã hội các tỉnh, thành phố xem xét quy định chi trả cho bệnh viện tuyến huyện đối với những kỹ thuật khám chữa bệnh đã được cấp phép để thu hút người dân đến khám chữa bệnh, nhằm góp phần giảm thiểu tình trạng quá tải bệnh viện tuyến trên.

Trả lời: Tại công văn số 3170/BHXH-CSYT ngày 29/8/2014

Theo quy định tại Điều 2 Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT ngày 30/8/2005 và Điều 6 Thông tư số 43/2013/TT-BYT ngày 11/12/2013 của Bộ Y tế ban hành quy định về phân tuyến chuyên môn kỹ thuật (thay thế Quyết định số 23/2005/QĐ-BYT kể từ ngày 01/02/2014), các cơ sở KCB được thực hiện các dịch vụ kỹ thuật đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt, theo đó Sở Y tế có trách nhiệm phê duyệt danh mục dịch vụ kỹ thuật tại bệnh viện tuyến huyện. Để khuyến khích phát triến chuyên môn kỹ thuật, Bộ Y tế cũng quy định cơ sở KCB tuyến dưới có thể được phê duyệt thực hiện các dịch vụ kỹ thuật của tuyến trên. Khoản 3 Điều 16 Thông tư liên tịch số 09/2009/TTLT-BYT-BTC ngày 14/8/2009 của liên Bộ Y tế - Bộ Tài chính quy định cơ sở thanh toán BHYT là bảng giá dịch vụ kỹ thuật của cơ sở y tế được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo quy định của pháp luật về thu viện phí.

Hiện nay, cơ quan BHXH đang thanh toán theo chế độ BHYT đối vói các dịch vụ vượt tuyến chuyên môn kỹ thuật thực hiện tại các cơ sở y tế tuyến dưới khi các dịch vụ đó được Sở Y tế hoặc Bộ Y tế phê duyệt thực hiện và được Hội đồng nhân tỉnh hoặc Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt về giá.

3. Cử tri tỉnh Long An kiến nghị: Đề nghị ngành bảo hiểm có giải trình, làm rõ việc ngừng không cho đóng BHXH đối với Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ và một số hội khác, dù trước đây đã đóng đầy đủ, liên tục đến năm 20090 nhưng từ năm 2009 đến nay không cho tiếp tục đóng.




1   ...   78   79   80   81   82   83   84   85   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương