KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang83/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   78   79   80   81   82   83   84   85   86

Trả lời: Tại công văn số 6111/NHNN-VP ngày 14/8/2014

Theo quy định hiện hành về việc phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài24, tài sản bảo đảm để khấu trừ khi tính số tiền trích lập dự phòng cụ thể phải được định giá, xác định giá trị (trừ các tài sản bảo đảm có giá trị được xác định trên thị trường chính thức như vàng, trái phiếu Chính phủ được niêm yết, chứng khoán doanh nghiệp đã được niêm yết). Cụ thể, TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thuê tổ chức có chức năng thẩm định giá theo quy định của pháp luật để định giá đối với các trường hợp:

(i) Tài sản bảo đảm có giá trị từ 50 tỷ đồng trở lên đối với khoản nợ của khách hàng là người có liên quan của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các đối tượng bị hạn chế cấp tín dụng theo quy định tại Điều 127 Luật các TCTD;

(ii) Tài sản bảo đảm có giá trị từ 200 tỷ đồng trở lên, trừ những trường hợp quy định tại điểm (i).

Việc Thông tư 02 quy định TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thuê tổ chức định giá độc lập để định giá tài sản bảo đảm có làm phát sinh thêm chi phí cho các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và khách hàng vay. Tuy nhiên, quy định nêu trên là hết sức cần thiết nhằm yêu cầu các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài xác định chính xác giá trị thị trường của tài sản bảo đảm được phép khấu trừ khi tính dự phòng cụ thể phải trích và hạn chế việc TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài định giá tài sản bảo đảm cao hơn giá trị thực tế dẫn đến làm giảm số tiền phải trích lập dự phòng cụ thể, phản ánh không xác thực kết quả kinh doanh.

Nhằm tiết giảm chi phí cho các TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cũng như khách hàng vay trong việc định giá tài sản bảo đảm, NHNN đã ban hành Thông tư số 09/2014/TT-NHNN ngày 18/03/2014 sửa đổi bổ sung một số điều của Thông tư 02/2013/TT-NHNN cho phép TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được sử dụng kết quả định giá của tổ chức thẩm định giá trong thời hạn tối đa 12 tháng.

Theo quy định tại Luật các TCTD năm 2010, TCTD và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD theo quy định của pháp luật. Do vậy, trên tinh thần hỗ trợ cùng tháo gỡ khó khăn, khách hàng và TCTD có thể thỏa thuận thống nhất việc chia sẻ nghĩa vụ trả phí cho tổ chức thẩm định giá tài sản bảo đảm.

17. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Đề nghị có chính sách hỗ trợ lãi suất vay ngân hàng đối với loại hình kinh tế Hợp tác xã, nhằm giúp Hợp tác xã có điều kiện thuận lợi, để hoạt động sản xuất kinh doanh hiệu quả, góp phần phát triển đất nước.

Trả lời: Tại công văn số 5883/NHNN-VP ngày 14/8/2014

Trong nền kinh tế nước ta, kinh tế tập thể mà nòng cốt là hợp tác xã là một thành phần quan trọng, không chỉ góp phần thúc đẩy trưởng kinh tế mà còn có đóng góp tích cực trong phát triển văn hoá, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Với vai trò quan trọng đó, thời gian qua, kinh tế hợp tác xã luôn nhận được sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, Chính phủ và các Bộ, ngành. Ngành Ngân hàng cũng luôn quan tâm, tạo thuận lợi cho các hợp tác xã được tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng bình đẳng như các lĩnh vực, thành phần kinh tế khác. Bên cạnh đó, hợp tác xã hoạt động trong một số ngành, lĩnh vực còn được hưởng một số chính sách hỗ trợ đặc thù sau:

- Được vay vốn ngắn hạn với mức lãi suất ưu tiên nếu hợp tác xã hoạt động trong các lĩnh vực ưu tiên như nông nghiệp nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao25.

- Được hỗ trợ 50% lãi suất vay vốn tại các ngân hàng thương mại nhà nước đối với các hợp tác xã tại địa bàn các huyện nghèo để phát triển sản xuất nông nghiệp, đầu tư cơ sở chế biến, bảo quản và tiêu thụ nông sản theo quy định tại Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo.

- Được hỗ trợ 100% lãi suất vốn vay tại ngân hàng thương mại trong hai năm đầu, 50% trong năm thứ ba đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn bằng đồng Việt Nam để mua máy, thiết bị nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp; được hỗ trợ phần chênh lệch giữa lãi suất thương mại đối với các khoản vay dài hạn, trung hạn bằng đồng Việt Nam và lãi suất tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước để thực hiện các dự án đầu tư dây chuyền máy, thiết bị giảm tổn thất trong nông nghiệp theo quy định tại Quyết định 68/2013/QĐ-TTg ngày 14/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nhằm giảm tổn thất trong nông nghiệp.

- Được cơ cấu lại nợ, không thu lãi quá hạn, lãi phạt, ưu tiên thu nợ gốc trước, lãi sau, miễn, giảm lãi vay và được xem xét cho vay mới tại các tổ chức tín dụng đối với hợp tác xã nuôi tôm và cá tra gặp khó khăn trong sản xuất kinh doanh và trả nợ tổ chức tín dụng đến ngày 31/12/2013 để khôi phục sản xuất, kinh doanh theo quy định tại Quyết định 540/QĐ-TTg ngày 16/4/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách tín dụng đối với người nuôi tôm và cá tra.

- Được vay vốn với lãi suất cho vay tối đa ngắn hạn 7%/năm, trung hạn 10%/năm, dài hạn 10,5%/năm đối với các dự án thuộc chương trình cho vay thí điểm theo quy định tại Quyết định 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 của Ngân hàng Nhà nước về Chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp theo Nghị quyết 14/NQ-CP ngày 5/3/2014 của Chính phủ đối với các hợp tác xã đại diện cho nông dân thực hiện ký hợp đồng liên kết theo chuỗi sản xuất, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với doanh nghiệp được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt.

- Được vay vốn không có bảo đảm bằng tài sản tối đa 500 triệu đồng tại các tổ chức tín dụng theo quy định tại Nghị định 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát trển nông nghiệp, nông thôn.

Trong thời gian tới, trên cơ sở bám sát các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục phối hợp với các Bộ, ngành liên quan tạo điều kiện thuận lợi cho các hợp tác xã trong tiếp cận vốn để góp phần tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển sản xuất kinh doanh.



18. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Vừa qua, các khoản nợ xấu của các tổ chức tín dụng (TCTD) là một trong những nguyên nhân cơ bản gây mất cân đối, mất khả năng chi trả của ngân hàng, làm thất thoát tiền của Nhà nước và người dân, ảnh hưởng đến nền kinh tế của đất nước. Cử tri kiến nghị ngành Ngân hàng cần xem xét và xử lý nghiêm đối với cán bộ, nhân viên ngành liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp gây ra nợ xấu của các TCTD vừa qua, nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Trả lời: Tại công văn số 2527/NHNN-VP ngày 14/4/2014

Kể từ năm 2005, Ngân hàng Nhà nước đã ban hành nhiều quy định mới về quản trị rủi ro, an toàn hoạt động ngân hàng và quản lý tín dụng, đặc biệt là quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro tiến tới phù hợp với thông lệ quốc tế, nhờ đó đã góp phần hạn chế nợ xấu gia tăng và xử lý được một phần nợ xấu phát sinh. Tuy nhiên, quy mô nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu vừa qua tương đối cao, nguyên nhân là do nợ xấu của các TCTD tiềm ẩn và đã được tích lũy trong một thời gian dài, đặc biệt là thời kỳ nới lỏng chính sách kinh tế vĩ mô để hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhanh. Từ Quý IV/2011 trở lại đây, nợ xấu bắt đầu lộ diện khi môi trường kinh doanh xấu đi, tín dụng tăng chậm lại và Chính phủ triển khai quyết liệt các giải pháp cơ cấu lại các TCTD. Trong bối cảnh nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn, số lượng doanh nghiệp phá sản, giải thể ở mức cao, sức mua của thị trường còn yếu và chưa được cải thiện nhiều, tỷ lệ hàng tồn kho lớn, các giải pháp đồng bộ của Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương mới đang dần phát huy hiệu quả thì tình hình nợ xấu của các TCTD còn nhiều diễn biến phức tạp.

Bên cạnh đó, cũng có nguyên nhân chủ quan do một số TCTD vi phạm cơ chế, nguyên tắc cấp tín dụng (như thẩm định sơ sài, cho vay không đủ điều kiện cấp tín dụng, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay thiếu chặt chẽ); một số cán bộ ngân hàng năng lực, trình độ yếu kém hoặc cố ý làm trái, câu kết với khách hàng cấp tín dụng sai chế độ.

Từ năm 2012, NHNN đã chủ động ban hành nhiều cơ chế, chính sách, giải pháp và tích cực phối hợp với các Bộ, ngành triển khai nhiều biện pháp nhằm ngăn chặn nợ xấu gia tăng, tăng cường công tác quản lý thị trường tiền tệ, hoạt động ngân hàng và phát hiện, xử lý nghiêm các sai phạm. Trong đó:

- Chủ động xây dựng, báo cáo Bộ Chính trị và trình Chính phủ phê duyệt Đề án tổng thể xử lý nợ xấu của hệ thống các tổ chức tín dụng; triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp xử lý và hạn chế nợ xấu gia tăng.

- Xây dựng, ban hành đồng bộ các văn bản hướng dẫn 2 Luật Ngân hàng năm 2010. Rà soát, phát hiện bất cập, chồng chéo trong hệ thống pháp luật liên quan đến hoạt động tiền tệ, tín dụng, ngân hàng để xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền giải quyết nhằm bảo đảm tính đồng bộ của hệ thống pháp luật. Thực hiện tốt công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát, theo dõi thi hành pháp luật để phát hiện và xử lý kịp thời các bất cập, lỗ hổng của pháp luật về ngân hàng.

- Chỉ đạo các TCTD tăng cường công tác kiểm toán, kiểm soát nội bộ; áp dụng nhiều biện pháp tích cực để ngăn ngừa, phát hiện các vi phạm pháp luật; chủ động phối hợp chặt chẽ với các Cơ quan pháp luật trong việc chuyển giao hồ sơ, vụ việc có dấu hiệu vi phạm để kịp thời ngăn chặn và xử lý; tích cực phối hợp, cung cấp thông tin, tài liệu cho các cơ quan chức năng khi có đề nghị;...

- Tập trung đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của NHNN và các TCTD (cả về nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp). Đẩy mạnh quá trình cơ cấu lại hệ thống các TCTD, nâng cao tính công khai, minh bạch, năng lực cạnh tranh và hiệu quả hoạt động của các TCTD.

- Đặc biệt, NHNN đã chỉ đạo các đơn vị chức năng tăng cường thanh tra, giám sát hoạt động tiền tệ, ngân hàng và tiếp tục đổi mới tổ chức, hoạt động thanh tra, giám sát ngân hàng để giám sát, phát hiện, cảnh báo, xử lý kịp thời các hành vi sai phạm, góp phần phòng ngừa, hạn chế tham nhũng và vi phạm pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng. Các hình thức xử lý bao gồm: Xử lý vi phạm hành chính; Yêu cầu khắc phục sai phạm, xử lý kỷ luật, đình chỉ, tạm đình chỉ, miễn nhiệm các chức vụ của các cá nhân có sai phạm; Chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra xử lý hình sự đối với các vi phạm nghiêm trọng; Khởi kiện khách hàng không trả nợ cho ngân hàng; Thu hồi nợ trước hạn; Yêu cầu bồi thường vật chất;... Kết quả năm 2013, NHNN đã ban hành 150 quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với 138 đơn vị, cá nhân, tổng số tiền phạt 1.490,5 triệu đồng.

Nhờ triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên nên tốc độ gia tăng nợ xấu đã giảm dần; hạn chế những sai phạm trong ngành Ngân hàng; kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh các sai phạm với nguyên tắc xử lý là bảo đảm thu hồi tối đa tài sản cho TCTD, Nhà nước, nhân dân; tổ chức, cá nhân vi phạm phải được xử lý nghiêm minh theo quy định của pháp luật.

Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục phối hợp với các cấp, các ngành có liên quan tiếp tục hoàn thiện hệ thống thể chế, cơ chế, chính sách; kiện toàn bộ máy tổ chức, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; phát triển hệ thống công nghệ ngân hàng, tăng cường công cụ kiểm soát, giám sát hoạt động của TCTD; tăng cường công tác thanh tra, giám sát hoạt động của TCTD; xử lý nghiêm các vi phạm trong lĩnh vực ngân hàng,...; quản lý chặt chẽ chất lượng tín dụng, thị trường tiền tệ, hoạt động ngân hàng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, ngăn chặn nợ xấu và đấu tranh, phòng, chống tội phạm trong lĩnh vực ngân hàng; bảo đảm phát triển hệ thống ngân hàng Việt Nam an toàn, hiệu quả.

19. Cử tri tỉnh Tuyên Quang kiến nghị: Đề nghị có chính sách tín dụng ưu đãi đối với lĩnh vực trồng rừng nguyên liệu cho công nghiệp giấy, bột giấy, tạo điều kiện để người dân vay vốn trồng cây nguyên liệu được hưởng lãi suất ưu đãi so với lãi suất tín dụng thương mại. Vì hiện nay, thời gian trồng, chăm sóc và bảo vệ đến khi rừng được khai thác kéo dài khoảng 7,8 năm, trong khi nguồn vốn vay ngắn hạn, lãi suất cao, khó khăn cho người dân trồng cây nguyên liệu cho công nghiệp giấy và bột giấy.

Trả lời: Tại công văn số 5885/NHNN-VP ngày 14/8/2014

Trồng rừng là một lĩnh vực của sản xuất nông nghiệp và được hưởng các chính sách ưu đãi chung đối với nông nghiệp, nông thôn, cụ thể:

- Được áp dụng chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn theo quy định tại Nghị định số 41/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 và Thông tư 14/2010/TT-NHNN ngày 16/4/2010 của NHNN hướng dẫn thực hiện Nghị định 41/2010/NĐ-CP. Theo đó, người dân được ưu tiên nguồn vốn cho vay và được vay không cần tài sản thế chấp để trồng rừng tối đa đến 50 triệu đồng đối với hộ dân, 200 triệu đồng đối với hộ kinh doanh, 500 triệu đồng đối với hợp tác xã;

- Được hưởng mức lãi suất cho vay ngắn hạn thấp hơn lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất khác khoảng 2%/năm. Hiện nay, trần lãi suất cho vay ngắn hạn đối với lĩnh vực này ở mức khoảng 7- 8%/năm, thậm chí một số TCTD cho vay các doanh nghiệp có tình hình tài chính lành mạnh, minh bạch, có phương án, dự án sản xuất kinh doanh hiệu quả với mức lãi suất chỉ 6-7%/năm.

- Về thời hạn cho vay, theo quy chế cho vay của TCTD đối với khách hàng thì TCTD và khách hàng tự thỏa thuận trên cơ sở chu kỳ sản xuất, kinh doanh, thời hạn thu hồi vốn của dự án, khả năng trả nợ của khách hàng và khả năng nguồn vốn của TCTD. Trường hợp khách hàng vay vốn dài hạn để phục vụ trồng rừng, cần làm việc cụ thể với các TCTD về phương án sản xuất kinh doanh để được vay vốn theo thời hạn phù hợp.

Ngoài ra, tại Nghị quyết 14/NQ-CP phiên họp thường kỳ Chính phủ tháng 2/2014 ngày 5/3/2014, Chính phủ giao NHNN phối hợp Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học và Công nghệ triển khai Chương trình cho vay thí điểm phục vụ nông nghiệp nông thôn. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ, NHNN đã ban hành Quyết định 1050/QĐ-NHNN ngày 28/5/2014 về chương trình cho vay thí điểm phục vụ phát triển nông nghiệp. Theo đó, khách hàng vay vốn phục vụ sản xuất theo các mô hình liên kết theo chuỗi giá trị từ khâu sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm sẽ được vay vốn ngân hàng với lãi suất cho vay tối đa là 7%/năm đối với ngắn hạn, 10%/năm đối với trung hạn và 10,5%/năm đối với dài hạn, các TCTD có thể xem xét cho vay không cần tài sản đảm bảo khi kiểm soát được dòng tiền. Các doanh nghiệp liên kết với hộ dân để sản xuất trồng rừng cũng là đối tượng được hưởng chính sách cho vay theo Quyết định trên.

Bên cạnh cơ chế tín dụng thương mại, Chính phủ còn có cơ chế tín dụng ưu đãi đối với các đối tượng là các doanh nghiệp, nhà đầu tư, tổ chức, hộ gia đình tham gia trồng rừng trong các dự án trồng rừng nguyên liệu bột giấy, ván nhân tạo tập trung gắn liền với các doanh nghiệp chế biến do Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt. Cụ thể: (i) Các đối tượng được vay vốn từ Ngân hàng phát triển theo quy định tại Nghị định số 106/2004/NĐ-CP ngày 01/4/2004 và Nghị định 20/2005/NĐ-CP ngày 28/2/2005 của Chính phủ; (ii) Các hộ nghèo trên địa bàn 62 huyện nghèo trên cả nước được ngân sách Nhà nước hỗ trợ 50% lãi suất tiền vay tại các ngân hàng thương mại nhà nước để trồng rừng sản xuất theo Thông tư số 06/2009/TT-NHNN ngày 09/4/2009 của Ngân hàng Nhà nước hướng dẫn thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ.

Như vậy, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi về nguồn vốn, lãi suất, thủ tục vay, tài sản đảm bảo,… nhằm tạo điều kiện thuận lợi để lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn phát triển, trong đó có các doanh nghiệp, hộ dân trồng rừng nguyên liệu cho công nghiệp giấy và bột giấy. Tuy nhiên, bên cạnh sự hỗ trợ của Nhà nước và của ngành Ngân hàng, bản thân các hộ dân, doanh nghiệp cũng cần xây dựng phương án, dự án sản xuất kinh doanh khả thi, sử dụng vốn vay hiệu quả và nâng cao khả năng tài chính để tạo niềm tin cho các TCTD yên tâm cấp tín dụng.



20. Cử tri TP Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri phản ánh, việc thực hiện gói hỗ trợ 30.000 tỷ đồng mua nhà ở xã hội, hiện nay chỉ mới thực hiện được 10% do điều kiện, thủ tục quá khó khăn, thời gian vay ngắn, mức trả lãi và vốn cao so với mặt bằng lương chung của cán bộ, công chức. Đề nghị Nhà nước xem xét theo hướng cho phép cán bộ, công chức được vay từ gói 30.000 tỷ đồng mua nhà ngoài các dự án nhà ở xã hội, đồng thời xem xét lại các điều kiện, thủ tục vay cho phù hợp để người mua nhà có thể tiếp cận được nguồn vốn.

Trả lời: Tại công văn số 5882/NHNN-VP ngày 14/8/2014

Thực hiện Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường và giải quyết nợ xấu, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã ban hành Thông tư số 11/2013/TT-NHNN quy định về cho vay hỗ trợ nhà ở và Bộ Xây dựng đã ban hành Thông tư số 07/2013/TT-BXD, Thông tư 18/2013/TT-BXD hướng dẫn việc xác định các đối tượng được vay vốn hỗ trợ nhà ở theo Nghị quyết số 02/NQ-CP.

Để triển khai kịp thời, hiệu quả chính sách cho vay hỗ trợ nhà ở, NHNN đã chỉ đạo, yêu cầu 05 ngân hàng thương mại Nhà nước thực hiện các giải pháp cụ thể như: Có văn bản hướng dẫn để thực hiện thống nhất trong toàn hệ thống, tạo điều kiện cho người dân tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi; Đảm bảo đầy đủ nguồn vốn cho vay để giải ngân cho khách hàng; Thường xuyên có báo cáo đánh giá về các khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai, để kịp thời tháo gỡ, giải quyết.

Mặc dù các ngân hàng thương mại Nhà nước đã tích cực triển khai, nhưng kết quả đạt được trong năm 2013 còn hạn chế, việc triển khai giải ngân còn khó khăn chủ yếu do một số nguyên nhân: (i) Nguồn cung nhà ở xã hội và nhà ở thương mại theo Nghị quyết 02/NQ-CP của Chính phủ còn thiếu; (ii) Vướng mắc về thủ tục liên quan đến xác nhận của Uỷ ban nhân dân xã, phường về thực trạng nhà ở theo quy định tại Thông tư 07/2013/TT-BXD của Bộ Xây dựng; (iii) Sự thiếu quyết liệt của các địa phương trong việc giải quyết các thủ tục về công tác chuẩn bị đầu tư của các dự án nhà ở xã hội, thủ tục cho phép chuyển đổi dự án nhà ở thương mại sang nhà ở xã hội, cho phép điều chỉnh diện tích các căn hộ thương mại cho phù hợp với nhu cầu thị trường...

Trước tình hình đó, từ đầu năm 2014 NHNN đã tích cực, chủ động có giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân chương trình như: Thường xuyên chỉ đạo các Ngân hàng thương mại đẩy mạnh cho vay, đảm bảo đúng đối tượng và cải tiến quy trình, thủ tục cho vay nhằm tạo thuận lợi để người dân tiếp cận với nguồn vốn tín dụng; ban hành Quyết định số 21/QĐ-NHNN ngày 02/01/2014 về điều chỉnh giảm lãi suất cho vay hỗ trợ nhà ở từ mức 6%/năm xuống 5%/năm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân giảm chi phí đầu tư, chi phí lãi vay. Mặt khác, NHNN đã chủ động phối hợp với Bộ xây dựng, Bộ Tư pháp, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 01/2014/TTLT-NHNN-BXD-BTP-BTNMT ngày 25/4/2014 về hướng dẫn thủ tục thế chấp nhà ở hình thành trong tương lai. Nhờ đó, tốc độ giải ngân gói cho vay hỗ trợ nhà ở trong 7 tháng đầu năm 2014 đã có nhiều cải thiện. Tính đến 31/7/2014, đã có 6.697 khách hàng đã được tiếp cận với gói tín dụng hỗ trợ nhà ở với tổng số tiền đạt 5.270 tỷ đồng, gấp 2,8 lần so với 31/12/2013, trong đó, dư nợ giải ngân theo tiến độ đạt 2.613,4 tỷ đồng; chiếm tỷ trọng 17,57% tổng nguồn vốn hỗ trợ nhà ở26.

Nhằm tiếp tục tháo gỡ khó khăn, vướng mắc, đẩy nhanh tiến độ giải ngân gói cho vay hỗ trợ nhà ở, hiện nay, Chính phủ đã hoàn thành dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07/01/2013 và gửi lấy ý kiến các thành viên Chính phủ, trong đó có những nội dung mà cử tri kiến nghị như: Bổ sung đối tượng được vay vốn là cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang và người lao động tại đô thị đã có đất ở phù hợp với quy hoạch và đang gặp khó khăn về nhà ở nhưng chưa được Nhà nước hỗ trợ dưới mọi hình thức; Bổ sung đối tượng được vay vốn là hộ gia đình, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng nhà ở xã hội nhằm khuyến khích hộ gia đình, cá nhân góp vốn đầu tư làm tăng nguồn cung nhà ở xã hội; Điều chỉnh thời hạn cho vay hỗ trợ nhà ở được ưu đãi lãi suất đối với khách hàng cá nhân từ 10 năm lên 15 năm; Bổ sung thêm một số ngân hàng thương mại cổ phần có nhu cầu được tham gia chương trình cho vay hỗ trợ nhà ở để đẩy mạnh việc giải ngân gói tín dụng này.

Sau khi Chính phủ chính thức ban hành Nghị quyết sửa đổi bổ sung Nghị quyết 02/NQ-CP, NHNN sẽ khẩn trương có văn bản hướng dẫn triển khai kịp thời nhằm đưa chính sách cho vay hỗ trợ nhà ở thực sự đi vào cuộc sống.

21. Cử tri TP Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị ngành ngân hàng tiếp tục thực hiện các giải pháp lành mạnh hóa thị trường tín dụng, giúp các doanh nghiệp cơ cấu lại các khoản nợ cũ để tăng khả năng tiếp cận tín dụng, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn, phát triển sản xuất, kinh doanh; tập trung vốn cho vay các lĩnh vực ưu tiên để tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, tăng tổng cầu của nền kinh tế.

Trả lời: Tại công văn số 6107/NHNN-VP ngày 21/8/2014

Bám sát chủ trương của Quốc hội và Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, thời gian qua, NHNN đã triển khai quyết liệt các giải pháp tín dụng nhằm hỗ trợ các tổ chức tín dụng (TCTD) mở rộng tín dụng có hiệu quả, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho các lĩnh vực ưu tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tiếp cận vốn vay ngân hàng, tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh và hỗ trợ thị trường. Cụ thể:

- Trên cơ sở mục tiêu tăng trưởng tín dụng định hướng toàn hệ thống cả năm 2014 khoảng 12-14%, NHNN đã thông báo chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng cho từng TCTD và linh hoạt điều chỉnh cho một số TCTD trong quá trình thực hiện trên cơ sở đánh giá tình hình tài chính, khả năng mở rộng tín dụng của các TCTD;

- Ban hành Quyết định 780/QĐ-NHNN ngày 23/04/2012, Chỉ thị 04/CT-NHNN ngày 17/9/2013, văn bản số 7558/NHNN-TD ngày 14/10/2013 và Thông tư 09/2014/TT-NHNN ngày 18/3/2014 chỉ đạo các TCTD xem xét thực hiện một số giải pháp tháo gỡ khó khăn liên quan đến điều kiện và thủ tục tín dụng như: (i) Cơ cấu lại thời hạn trả nợ; xem xét cơ cấu lại các khoản vay trên cơ sở đánh giá các biện pháp khắc phục khó khăn trong hoạt động sản xuất-kinh doanh nhằm đảm bảo thời hạn cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất-kinh doanh và khả năng trả nợ của khách hàng vay, nhưng không nhằm mục đích che giấu nợ xấu của TCTD, che giấu thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và tình hình tài chính không lành mạnh của khách hàng vay; (ii) Đổi mới trong việc xây dựng quy trình cho vay theo hướng đơn giản hóa thủ tục vay vốn, giảm bớt phiền hà cho khách hàng vay vốn, nhưng vẫn đảm bảo an toàn vốn vay, nâng cao khả năng thẩm định để rút ngắn thời gian giải quyết cho vay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng; (iii) Yêu cầu các TCTD phối hợp chặt chẽ với nhau và làm việc với khách hàng để tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trong trường hợp nhiều TCTD cùng cho vay đối với 1 khách hàng; (iv) Xem xét và quyết định xử lý đối với các khoản nợ đến hạn mà khách hàng gặp khó khăn trong việc trả nợ như miễn giảm, lãi vốn vay; không thu lãi quá hạn; ưu tiên thu nợ gốc trước, thu nợ lãi sau...; (iv) Cho phép các TCTD không xem xét các điều kiện về các khoản nợ cũ khi khách hàng vay vốn mới có dự án, phương án kinh doanh có hiệu quả, đảm bảo thu hồi được nợ;

- Thực hiện quyết liệt và đồng bộ nhiều giải pháp nhằm giảm mạnh và liên tục mặt bằng lãi suất thị trường, như giảm các mức lãi suất điều hành của NHNN, quy định trần lãi suất tiền gửi của khách hàng tại các TCTD đồng thời điều chỉnh giảm mạnh lãi suất huy động làm cơ sở để các TCTD giảm lãi suất cho vay, quy định trần và giảm dần mức lãi suất cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên (nông nghiệp, nông thôn, xuất khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp ứng dụng công nghệ cao). Mặt bằng lãi suất cho vay hiện nay đã giảm mạnh27 và ở mức thấp, chỉ bằng 50% lãi suất năm 2011, tương đương với mức lãi suất của giai đoạn 2005-2006. Lãi suất của các khoản vay cũ cũng được các TCTD tích cực giảm28.

- Chỉ đạo triển khai chương trình kết nối doanh nghiệp – ngân hàng trên địa bàn các tỉnh, thành phố nhằm kịp thời nắm bắt và tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp được tiếp cận nguồn vốn vay với lãi suất hợp lý để duy trì, phục hồi, phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, giảm bớt những khó khăn về vốn và chi phí lãi vay cho doanh nghiệp, từ đó giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp;

- Kịp thời ban hành các quy định tín dụng đối với một số đối tượng đặc thù với thủ tục cho vay đơn giản hơn nhằm nâng cao hiệu quả và giảm chi phí hoạt động cho vay, hỗ trợ khách hàng vay vốn đầu tư, sản xuất - kinh doanh và tiêu thụ sản phẩm (mô hình cho vay liên kết ứng dụng công nghệ cao; chính sách cho vay đối với chăn nuôi, thủy sản, cà phê; chính sách cho vay nhà ở đối với người có thu nhập thấp; cơ chế bảo lãnh tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa...);

- Kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng và xử lý nợ xấu nhằm lành mạnh hóa thị trường tín dụng, góp phần khơi thông nguồn vốn; theo đó NHNN chỉ đạo rà soát, đánh giá đầy đủ thực trạng, tình hình và mức độ nợ xấu của các TCTD để chỉ đạo xử lý kiên quyết, đồng bộ bằng các biện pháp tại Đề án xử lý nợ xấu của hệ thống các TCTD được ban hành kèm theo Quyết định số 843/QĐ-TTg ngày 31/5/2013 của Thủ tướng Chính phủ; đẩy mạnh việc mua bán nợ xấu qua Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam và nâng cao vai trò, hiệu quả hoạt động của Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam trong xử lý nợ xấu.

Việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên đã góp phần khơi thông nguồn vốn tín dụng, hỗ trợ tích cực cho các doanh nghiệp, người dân trong việc tiếp cận vốn. Trên thực tế, các doanh nghiệp, khách hàng có nhu cầu vay vốn phục vụ sản xuất kinh doanh và có năng lực tài chính tốt, dự án, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả, khả thi đã tiếp cận vốn dễ dàng hơn với lãi suất hợp lý. Một số doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn tín dụng chủ yếu là do: Năng lực tài chính của doanh nghiệp yếu kém; không chứng minh được tính khả thi và hiệu quả của dự án, phương án sản xuất kinh doanh đề nghị vay vốn; một số doanh nghiệp có số nợ phải trả tồn đọng lớn chưa có biện pháp xử lý; không có tài sản thế chấp, hoặc có tài sản thế chấp nhưng không đảm bảo thủ tục pháp lý theo quy định của pháp luật, nguy cơ rủi ro tín dụng cao... Vì vậy, để tăng khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, ngoài những giải pháp từ phía NHNN và các TCTD, bản thân doanh nghiệp cũng cần cơ cấu lại hoạt động của mình, nâng cao khả năng tài chính, tạo niềm tin đối với các TCTD.




1   ...   78   79   80   81   82   83   84   85   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương