KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang64/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   60   61   62   63   64   65   66   67   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 2487/BTTTT-VP ngày 29/8/2014

Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của hạ tầng CNTT-TT, số lượng thuê bao và các dịch vụ nội dung, ứng dụng trên mạng viễn thông ở Việt Nam phát triển rất nhanh. Bên cạnh những mặt tích cực trong việc đóng góp cho sự phát triển của viễn thông và nền kinh tế Việt Nam nói chung, thực tế vẫn tồn tại một số vấn đề gây bức xúc trong dư luận xã hội, trong đó điển hình là tình trạng lợi dụng phương tiện truyền thông quảng cáo không đúng sự thật để lừa đảo, cung cấp nội dung không lành mạnh (cá cược, cờ bạc, mê tín dị đoan) và nhất là nạn tin nhắn rác, tin nhắn quảng cáo, tin nhắn lừa đảo cho người sử dụng. Tình trạng nêu trên đã gây nhiều phiền toái và bức xúc cho người dân, Bộ TTTT đã chủ động, tích cực phối hợp với các bộ, ngành có liên quan và các doanh nghiệp viễn thông triển khai nhiều biện pháp nhằm hạn chế các tiêu cực này. Bên cạnh những biện pháp điều chỉnh các hành vi quảng cáo sai sự thật, gửi tin nhắn rác… Bộ TTTT đã và đang tiến hành các biện pháp tăng cường quản lý các hoạt động cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động và quản lý thông tin thuê bao di động trả trước góp phần ngăn chặn các hành vi gửi tin nhắn quảng cáo sai sự thật, phát tán tin nhắn rác nói trên, cụ thể như sau:

1. Tăng cường quản lý việc cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động.

Nhằm tăng cường quản lý thông tin trên mạng viễn thông, Bộ TTTT đã trình Chính phủ ban hành Nghị định số 72/2013/NĐ-CP ngày 15/7/2013 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, trong đó lần đầu tiên đưa ra các biện pháp quản lý việc cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động, cụ thể là các nguyên tắc quản lý, điều kiện hoạt động của các tổ chức, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông (gọi tắt là CSP); quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp viễn thông di động, CSP, người sử dụng dịch vụ nội dung thông tin trên mạng viễn thông di động.

Hiện tại, Bộ TTTT đẩy mạnh triển khai Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, trong đó, các văn bản hướng dẫn Nghị định sẽ triển khai nhiều biện pháp quản lý chặt chẽ hơn các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung thông tin (CSP). Cụ thể như sau: Ngoài việc xây dựng Thông tư yêu cầu CSP phải đăng ký hoạt động, phải chịu trách nhiệm về thông tin do mình cung cấp, Bộ TTTT sẽ xây dựng và ban hành các văn bản quy định về việc quản lý đầu số dịch vụ nội dung thông tin (Bộ sẽ thu hồi và trực tiếp cấp các đầu số dịch vụ nội dung cho doanh nghiệp CSP), quy định cụ thể việc kết nối, giá cước kết nối, quyền và nghĩa vụ của các doanh nghiệp viễn thông di động và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nội dung CSP, nhằm thúc đẩy cạnh tranh, phát triển lành mạnh của các doanh nghiệp CSP, góp phần hạn chế tin nhắn rác quảng cáo, tin nhắn lừa đảo và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng dịch vụ viễn thông.

2. Tăng cường quản lý thông tin thuê bao di động trả trước, hạn chế tin nhắn rác, SIM rác.

Qua quá trình tổng hợp phản ánh của các tổ chức, cá nhân và công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm về tin nhắn rác, tin nhắn lừa đảo, Bộ TTTT thấy đa số các tin nhắn rác, tin nhắn quảng cáo lừa đảo đều xuất phát từ các SIM di động trả trước, các SIM “rác” (sim không xác định được danh tính thuê bao). Do đó, việc quản lý tốt thông tin thuê bao di động trả trước sẽ góp phần hạn chế việc phát tán tin nhắn rác và tin nhắn lừa đảo.

Ngày 13/4/2012, Bộ TTTT đã ban hành Thông tư số 04/2012/TT-BTTTT thay thế Thông tư số 22/2009/TT-BTTTT ngày 24/6/2009 về quy định quản lý thuê bao trả trước. Trong đó, quy định thủ tục đăng ký thông tin thuê bao di động trả trước như sau: Các chủ thuê bao phải đến đăng ký trực tiếp tại điểm đăng ký thông tin thuê bao để cung cấp số thuê bao, xuất trình chứng minh nhân dân (hoặc hộ chiếu) đối với người có quốc tịch Việt Nam, hộ chiếu đang còn thời hạn sử dụng đối với người có quốc tịch nước ngoài, giấy giới thiệu cùng với bản sao giấy đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép thành lập của cơ quan, tổ chức đối với người đại diện cho cơ quan, tổ chức cho nhân viên hoặc chủ điểm đăng ký thông tin thuê bao; điền thông tin đăng ký vào “Bản khai thông tin thuê bao di động trả trước” theo mẫu thống nhất do doanh nghiệp ban hành. Khi tiếp nhận đăng ký thông tin thuê bao, nhân viên giao dịch phải yêu cầu chủ thuê bao cung cấp bản sao chứng minh nhân dân, hộ chiếu để lưu giữ, bản gốc để đối chiếu; sao (photocopy) hoặc quét (scan) lại chứng minh nhân dân, hộ chiếu (đối với các điểm đăng ký thông tin thuê bao tại các phường thuộc các quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh); kiểm tra và đối chiếu với thông tin trong “Bản khai thông tin thuê bao di động trả trước”. Trong trường hợp phát hiện bản khai thông tin thuê bao không đúng với chứng minh nhân dân, hộ chiếu xuất trình; hoặc chứng minh nhân dân, hộ chiếu không hợp lệ thì nhân viên giao dịch không được chấp nhận thông tin đăng ký và phải thông báo cho chủ thuê bao biết. Với các quy định như trên, Thông tư 04 đã góp phần đảm bảo tính chính xác của thông tin thuê bao di động trả trước; tăng cường độ chính xác, tin cậy của thông tin thuê bao...

Bên cạnh các giải pháp về hành chính cần có giải pháp về kinh tế nhằm thực hiện đồng bộ, hiệu quả. Ngày 12/10/2012, Bộ TTTT đã ban hành Thông tư số 14/2012/TT-BTTTT quy định giá cước dịch vụ thông tin di động mặt đất, trong đó quy định mức cước hòa mạng cố định áp dụng cho thuê bao di động bao gồm cả thuê bao trả trước và trả sau; các doanh nghiệp di động không được tăng, giảm giá và khuyến mại đối với giá cước hòa mạng và không được nạp sẵn tiền vào SIM trả trước… Cùng với Thông tư 04 về quản lý thuê bao di động trả trước thì Thông tư 14 sẽ tăng cường hạn chế được nạn SIM rác, SIM ảo vốn đang là vấn đề hiện nay, nhằm bảo đảm việc phát triển dịch vụ thông tin di động bền vững và sử dụng hiệu quả tài nguyên viễn thông.

Ngoài ra, để bảo đảm việc triển khai thực hiện đăng ký thuê bao di động theo đúng quy định, Bộ TTTT đã chủ trì xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 174/2013/NĐ-CP ngày 13/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, công nghệ thông tin và tần số vô tuyến điện, trong đó quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với việc đăng ký, lưu giữ và sử dụng thông tin thuê bao tại Điều 30 Nghị định 174/2013/NĐ-CP.

3. Một số biện pháp triển khai trong thời gian tới.

Hiện nay, việc quản lý thuê bao di động trả trước và tin nhắn rác vẫn chưa được tốt, để giải quyết vấn đề này, trong thời gian tới, Bộ TTTT sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác quản lý, cụ thể:



  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền nhằm nâng cao nhận thức của người sử dụng dịch vụ, chủ điểm giao dịch được ủy quyền, doanh nghiệp thông tin di động.

  • Xây dựng Thông tư quy hoạch các dải số dịch vụ nhắn tin ngắn để cung cấp dịch vụ nội dung thông tin.

  • Tăng cường kiểm tra, giám sát và xử lý các hành vi vi phạm các quy định của nhà nước liên quan đến thuê bao di động trả trước và doanh nghiệp cung cấp nội dung thông tin.

14. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Kiến nghị xem xét thanh, kiểm tra giấy phép hoạt động của hệ thống truyền hình chảo vệ tinh Vinasat và kịp thời xử lý vi phạm (nếu có) nhằm đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng, nhất là ở các vùng nông thôn, nơi mà điều kiện kinh tế, giao thông còn nhiều khó khăn, các hãng truyền hình cáp khác chưa thể phủ sóng được. Bởi, hiện nay có tình trạng người dân đăng ký sử dụng Vinasat được một thời gian thì số lượng và chất lượng các kênh truyền hình không ổn định, nhà quản lý tự ý cắt bỏ các kênh, gây ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng.

Trả lời: Tại công văn số 2487/BTTTT-VP ngày 29/8/2014

1. Hiện nay, cả nước có 03 doanh nghiệp được được cấp phép cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền trực tiếp qua vệ tinh (DTH), gồm: Tổng Công ty truyền thông đa phương tiện VTC, Công ty Cổ phần Nghe nhìn Toàn Cầu (AVG), Công ty TNHH truyền hình số vệ tinh Việt Nam VSTV (K+). Trong đó, Tổng Công ty VTC sử dụng hạ tầng mạng viễn thông cố định vệ tinh, gồm vệ tinh Vinasat1, Vinasat2 để cung cấp dịch vụ DTH theo công nghệ DVB-S, DVB-S2; Công ty VSTV sử dụng hạ tầng mạng viễn thông cố định vệ tinh là vệ tinh Vinasat1 để cung cấp dịch vụ DTH theo công nghệ DVB-S, DVB-S2. Riêng Công ty AVG hiện chưa sử dụng vệ tinh Vinasat mà thuê vệ tinh NSS6 của nước ngoài để cung cấp dịch vụ truyền hình trực tiếp qua vệ tinh theo công nghệ DVB-S, DVB-S2.

Như vậy, người dân muốn xem các chương trình truyền hình thông qua dịch vụ truyền hình trả tiền trực tiếp qua vệ tinh (DTH) phải đăng ký thuê bao của 03 doanh nghiệp cung cấp dịch vụ nêu trên. Vinasat chỉ là tên gọi của vệ tinh Việt Nam và hiện có 2 doanh nghiệp Việt Nam sử dụng vệ tinh Vinasat để cung cấp dịch vụ truyền hình trực tiếp qua vệ tinh của doanh nghiệp là VSTV và VTC.

2. Hiện nay, việc quản lý hoạt động truyền hình trả tiền được thực hiện theo Quyết định số 20/2011/QĐ-TTg ngày 24/3/2011 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền, theo đó:

- Tại Điều 21 Quy chế quy định các gói dịch vụ trên truyền hình trả tiền mà đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền phải cung cấp đến thuê bao thông qua hợp đồng, bao gồm Gói dịch vụ cơ bản và Gói dịch vụ nâng cao. Gói dịch vụ cơ bản bao gồm các kênh chương trình tối thiểu với mức giá thấp nhất trong các gói dịch vụ và phải được thể hiện trong hợp đồng cung cấp dịch vụ đến các thuê bao (hộ gia đình). Gói dịch vụ cơ bản phải bao gồm các kênh chương trình quảng bá phục vụ nhiệm vụ chính trị, thông tin tuyên truyền thiết yếu (gọi tắt là kênh thiết yếu) của quốc gia, địa phương. Danh mục các kênh thiết yếu được ban hành kèm theo Thông tư số 09/2012/TT-BTTTT ngày 06/7/2012 của Bộ trưởng Bộ TTTT, hiện gồm: 72 kênh, trong đó có 10 kênh thiết yếu của quốc gia và 62 kênh thiết yếu của địa phương.

Các đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền phải cung cấp đủ các kênh thiết yếu của quốc gia đến tất cả các thuê bao truyền hình trả tiền; đối với các kênh thiết yếu của địa phương thì phải cung cấp đến thuê bao truyền hình trả tiền trên địa phương đó trong trường hợp đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền sử dụng công nghệ truyền dẫn phát sóng có khả năng chèn, thay thế kênh chương trình để phủ sóng theo từng địa bàn hành chính.

- Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền cũng quy định rõ truyền và nghĩa vụ của đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền (Điều 25); quyền và nghĩa vụ của thuê bao truyền hình trả tiền (Điều 27). Vì vậy, khi sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền, người tiêu dùng cần phải thực hiện ký kết hợp đồng thuê bao với nhà cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền để bảo đảm quyền lợi và nghĩa vụ của mình. Trong hợp đồng, cần lưu ý đến các điều khoản ràng buộc trách nhiệm của 2 bên; điều khoản quy định về trường hợp bất khả kháng (trong đó bao gồm trường hợp có yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước) thì nhà cung cấp dịch vụ cần thông báo kịp thời, rõ ràng, thông báo trước cho thuê bao của mình.

Ví dụ, trước khi có Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền, số lượng các kênh truyền hình nước ngoài trên truyền hình trả tiền tại Việt Nam là 75 kênh. Tuy nhiên, hiện nay, số lượng kênh truyền hình nước ngoài được phép cung cấp trên truyền hình trả tiền tại Việt Nam chỉ còn 40 kênh (được cấp phép biên tập theo quy định của Quy chế quản lý hoạt động truyền hình trả tiền). Bộ TTTT đã có văn bản thông báo rộng rãi về danh mục 40 kênh truyền hình nước ngoài này và yêu cầu các nhà cung cấp dịch vụ chỉ được cung cấp các kênh chương trình nước ngoài này trên hệ thống truyền hình trả tiền của mình; đồng thời, đề nghị các Sở TTTT tăng cường công tác kiểm tra, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm quy định về việc cung cấp kênh chương trình nước ngoài trên truyền hình trả tiền.

Vì vậy, trong thời gian qua, số lượng các kênh chương trình nước ngoài trên truyền hình trả tiền bị cắt giảm cũng có thể là do các nhà cung cấp dịch vụ phải thực hiện theo quy định của Quy chế truyền hình trả tiền như đã nêu trên, nhưng lại không thông báo cho các thuê bao truyền hình trả tiền của mình được biết nên dẫn đến tình trạng người dân không hiểu được lý do tại sao tự dưng một số kênh bị cắt bỏ. Ngoài ra, từ khi thực hiện Quy chế truyền hình trả tiền, ngoài các kênh thiết yếu được phát miễn phí bản quyền, còn tất cả các kênh truyền hình khác phải tuân thủ theo các quy định của pháp luật về bản quyền. Có thể một số đơn vị cung cấp dịch vụ truyền hình trả tiền đã vi phạm các quy định này nên buộc phải cắt bỏ, nhưng lại không thông báo kịp thời, rõ ràng đến các thuê bao của mình.

Thời gian tới, để bảo đảm quyền lợi của người tiêu dùng, Bộ TTTT sẽ yêu cầu các đơn vị cung cấp dịch vụ phải thực hiện nghiêm việc thông báo với các thuê bao truyền hình trả tiền mỗi khi có sự điều chỉnh về số lượng kênh trên dịch vụ của mình.

3. Ngày 10/3/2014, Bộ TTTT đã ban hành Thông tư số 02/2014/TT-BTTTT ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng tín hiệu truyền hình số vệ tinh DVB-S và DVB-S2 tại điểm thu, ký hiệu QCVN 79:2014/BTTTT. Quy chuẩn này quy định mức giới hạn đối với các chỉ tiêu kỹ thuật của tín hiệu truyền hình số vệ tinh DVB-S và DVB-S2 tại giao diện đầu vào máy thu. Theo đó, các doanh nghiệp cung cấp dịch vụ truyền hình số vệ tinh theo tiêu chuẩn DVB-S và DVB-S2 tại Việt Nam phải tuân thủ các chỉ tiêu được quy định tại Quy chuẩn này, đồng thời, Quy chuẩn này sẽ là sở cứ để cơ quan quản lý nhà nước xác định chất lượng tín hiệu truyền hình trực tiếp qua vệ tinh do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tại vị trí đầu vào máy thu của thuê bao nhằm đảm bảo quyền lợi của người sử dụng dịch vụ.

Khi người dân sử dụng dịch vụ truyền hình trả tiền của 1 trong 3 doanh nghiệp được cấp phép cung cấp dịch vụ như đã nêu ở trên mà thấy tình trạng số lượng và chất lượng tín hiệu các kênh truyền hình không ổn định, đề nghị phản ánh với cơ quan quản lý nhà nước (ở địa phương là Sở TTTT; hoặc gửi về Bộ TTTT); trong đó nêu rõ đơn vị cung cấp dịch vụ để cơ quan quản lý nhà nước kịp thời xử lý vi phạm (nếu có) nhằm đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng.

4. Ở địa hình vùng lõm, vùng không thu được sóng phát thanh, truyền hình từ công nghệ phát sóng mặt đất, do điều kiện kinh tế còn khó khăn, do trình độ còn hạn chế nên một số hộ dân (nhất là ở vùng nông thôn, miền núi, vùng sâu, vùng xa) đã sử dụng chảo thu tín hiệu từ vệ tinh không rõ nguồn gốc, “chảo lậu” dẫn đến tình trạng số lượng và chất lượng các kênh truyền hình không ổn định.

Để đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng, Bộ TTTT khuyến nghị các hộ dân nên lắp đặt, sử dụng chảo có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng, do các đại lý đã được ủy quyền của các nhà cung cấp dịch vụ lắp đặt (VTC, VSTV, AVG).

Bộ TTTT đã và sẽ tiếp tục chỉ đạo đơn vị cung cấp dịch vụ và các cơ quan báo chí tăng cường tuyên truyền để người dân biết và phân biệt việc sử dụng chảo của các đơn vị cung cấp dịch vụ chính thức và “chảo lậu”. Đồng thời, Bộ TTTT cũng yêu cầu các Sở TTTT, căn cứ chức năng, nhiệm vụ của mình, khi nhận được phản ánh của người dân, cần kịp thời nắm bắt tình hình để chủ động thanh tra, kiểm tra hoặc báo cáo để Bộ TTTT biết, chủ động chỉ đạo, phối hợp hành động, đảm bảo quyền lợi hợp pháp của cả hai bên (nhà cung cấp dịch vụ và người dân) theo đúng quy định của pháp luật hiện hành.

15. Cử tri thành phố Hà Nội kiến nghị: Cử tri cho rằng, mô hình Điểm Bưu điện - Văn hóa xã đã được triển khai thực hiện từ năm 1998, đến nay đã bộc lộ nhiều bất cập, hoạt động kém hiệu quả. Đề nghị Bộ TTTT nghiên cứu cải tiến, đổi mới mô hình hoạt động để phù hợp với tình hình mới hiện nay.

Trả lời: Tại công văn số 2487/BTTTT-VP ngày 29/8/2014

Điểm Bưu điện - Văn hóa xã (BĐ-VHX) là một bộ phận thuộc mạng bưu chính công cộng được Nhà nước đầu tư và giao cho Tổng công ty Bưu điện Việt Nam quản lý. Nhằm mục đích ngày càng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Điểm BĐ-VHX, Bộ TTTT với tư cách là Bộ chủ quản cùng với doanh nghiệp đã triển khai nhiều nội dung công việc nhằm đổi mới mô hình hoạt động để phù hợp với tình hình hiện nay, cụ thể:

1. Đối với Bộ TTTT.

1.1 Thành lập Tổ công tác liên ngành triển khai Đề án Điểm BĐ-VHX.

Bộ TTTT thành lập Tổ công tác liên ngành triển khai Đề án Điểm BĐ-VHX theo Quyết định số 993/QĐ-BTTTT ngày 07/3/2013 của Bộ trưởng Bộ TTTT, gồm các đơn vị có liên quan của Bộ TTTT, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Bộ Tư pháp và Tổng công ty Bưu điện Việt Nam.

Tổ công tác liên ngành có nhiệm vụ triển khai các nội dung công việc: Nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách nhằm hỗ trợ và tạo điều kiện cho việc tiếp tục duy trì và phát triển hoạt động hiệu quả của các Điểm BĐ-VHX; đề xuất các nội dung chương trình, dự án mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở để triển khai tại Điểm BĐ-VHX; chỉ đạo, hướng dẫn việc kết hợp triển khai thực hiện các chương trình, đề án đưa thông tin truyền thông về nông thôn tại Điểm BĐ-VHX; xây dựng cơ chế phối hợp liên ngành luân chuyển sách báo giữa các Điểm BĐ-VHX, thư viện và tủ sách pháp luật tại địa phương để phục vụ nhu cầu đọc của người dân tại Điểm BĐ-VHX; chỉ đạo Tổng công ty Bưu chính Việt Nam triển khai rà soát, sắp xếp lại hệ thống Điểm BĐ-VHX trên phạm vi toàn quốc, nâng cấp cơ sở vật chất đảm bảo điều kiện hoạt động cho Điểm BĐ-VHX, đa dạng hóa các loại hình dịch vụ mới cung cấp tại Điểm BĐ-VHX; đề xuất các nội dung liên quan đến chính sách đất đai, xây dựng phương án đào tạo, bồi dưỡng và điều kiện đãi ngộ đối với người lao động tại Điểm BĐ-VHX...

Cho đến thời điểm này, Tổ công tác liên ngành đã hoàn thành một số nội dung công việc và dự kiến trong thời gian tới sẽ ban hành “Quy hoạch hệ thống Điểm BĐ-VHX giai đoạn 2014-2020” trên cơ sở kết quả rà soát, sắp xếp các Điểm BĐ-VHX trên phạm vi toàn quốc.

1.2. Thực hiện chủ trương đưa các Chương trình, dự án, đề án của Nhà nước, của các bộ, ngành liên quan về triển khai tại Điểm BĐ-VHX, bao gồm:



a. Chương trình mục tiêu quốc gia đưa thông tin về cơ sở tại các Điểm BĐ-VHX.

Theo Chương trình này, các Điểm BĐ-VHX sẽ là nơi tiếp nhận một số ấn phẩm, sách báo tuyên truyền của dự án để phục vụ nhân dân địa phương.

Nhân viên tại mỗi Điểm BĐ-VHX tham gia chương trình được hỗ trợ thêm từ 120.000-160.000đ/tháng từ nguồn kinh phí Trung ương.

b. Dự án "Nâng cao năng lực sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam" của quỹ Bill-Melinda Gates.

Theo văn kiện dự án, dự án sẽ được triển khai tại 1.900 điểm, bao gồm 1.000 điểm BĐ-VHX và 900 điểm thư viện các cấp.

Cho đến thời điểm này, dự án đã hoàn thành việc triển khai tại 12 tỉnh (bước 1) và 16 tỉnh bước 2 với tổng số 1.299 điểm, bao gồm 675 Điểm BĐ-VHX và 624 thư viện các cấp.

Bộ TTTT đang tiếp tục chuẩn bị các công việc cần thiết để tiếp tục triển khai tại 12 tỉnh thuộc bước 3 với tổng số 601 điểm, bao gồm 325 Điểm BĐ-VHX và 276 thư viện các cấp.

Tham gia triển khai dự án, mỗi Điểm BĐ-VHX được trang bị 01 máy in, 05 bộ máy tính và các thiết bị phụ trợ phục vụ việc tra cứu thông tin trên mạng cho bà con.

Nhân viên Điểm BĐ-VHX được quỹ Bill-Melinda Gates cấp bổ sung thêm 200.000đ/tháng vào thu nhập hàng tháng.



c. Triển khai Chương trình phối hợp công tác liên ngành trong việc tăng cường tổ chức hoạt động phục vụ đọc sách báo tại các Điểm BĐ-VHX giai đoạn 2013-2020.

Chương trình này đã được các Sở TTTT phối hợp với các Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bưu điện tỉnh, thành phố trên cả nước triển khai tích cực. Qua hơn 01 năm triển khai thực hiện, Chương trình đã được các bên liên quan đánh giá cao, góp phần nâng cao văn hóa đọc tại địa phương và thu hút được đông đảo người dân đến với Điểm BĐ-VHX.

1.3. Ban hành Thông tư số 17/2013/TT-BTTTT ngày 02/8/2013 quy định về hoạt động của Điểm BĐ-VHX.

Thông tư là sở cứ pháp lý quan trọng cho công tác quản lý hệ thống Điểm BĐ-VHX trên toàn quốc. Đồng thời là sở cứ để doanh nghiệp được Nhà nước giao quản lý hệ thống Điểm BĐ-VHX phối hợp với các cơ quan liên quan trong quá trình phục vụ và kinh doanh tại các Điểm BĐ-VHX.

1.4. Xây dựng phương án triển khai Chương trình viễn thông công ích về Điểm BĐ-VHX.

Để tăng cường hiệu quả hoạt động của các Điểm BĐ-VHX, Bộ TTTT đã thực hiện chủ trương triển khai Chương trình viễn thông công ích tại các điểm này. Cho đến thời điểm này, các bên liên quan đã họp bàn và thống nhất một số vấn đề như sau:

+ Đưa Điểm BĐ-VHX vào thành phần của tiểu dự án truyền thông của Chương trình viễn thông công ích.

+ Xác định tiêu chí lựa chọn Điểm BĐ-VHX tham gia chương trình.

+ Xác định cụ thể nội dung hỗ trợ để tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong quá trình tiếp nhận, triển khai chương trình.

+ Thống nhất phương thức quản lý để đảm bảo chức năng kiểm soát của Nhà nước về triển khai chương trình…

1.5. Ngoài ra, để tiếp tục hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống Điểm BĐ-VHX, Bộ TTTT đã có công văn số 2801/BTTTT-BC ngày 24/9/2013 chỉ đạo Tổng công ty Bưu điện Việt Nam thực hiện một số công việc như:

- Khẩn trương xây dựng và hoàn thiện Quy hoạch hệ thống Điểm BĐ-VHX trên toàn quốc, trình Bộ TTTT xem xét ban hành.

- Đầu tư, nâng cấp cơ sở vật chất, công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ; xây dựng và điều chỉnh chế độ đãi ngộ thích hợp cho người lao động tại các Điểm BĐ-VHX.

- Phối hợp chặt chẽ với cơ quan quản lý nhà nước về viễn thông, với doanh nghiệp viễn thông để việc lựa chọn các Điểm BĐ-VHX làm điểm đăng ký thông tin thuê bao di động trả trước, điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng thuộc Chương trình viễn thông công ích được hiệu quả.

2. Đối với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam

Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Bộ TTTT, Tổng công ty Bưu điện Việt Nam đã có Chỉ thị số 03/CT-BĐVN ngày 08/3/2014 gửi các bưu điện tỉnh, thành phố về việc Triển khai chiến dịch đổi mới hoạt động tại Điểm BĐ-VHX. Đồng thời Tổng công ty cũng đã tổ chức rà soát, đánh giá, quy hoạch toàn bộ hệ thống Điểm BĐ-VHX trên toàn quốc; xây dựng kế hoạch nâng cấp cơ sở vật chất, đầu tư trang thiết bị cho các điểm này. Dự kiến kế hoạch nâng cấp, đầu tư cơ sở vật chất sẽ được triển khai từ quý I/2015.

Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng đã nghiên cứu, triển khai cung cấp các dịch vụ hành chính công tại các Điểm BĐ-VHX như: Chi trả lương hưu và trợ cấp bảo hiểm xã hội, chuyển phát chứng minh nhân dân, cấp đổi hộ chiếu, chuyển phát hồ sơ xét tuyển đại học... qua đó đã góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các Điểm này cũng như tăng thêm thu nhập cho người lao động.
BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
1. Cử tri tỉnh Quảng Bình kiến nghị:Cử tri phản ánh chế độ đối với những nhà nghiên cứu, nhà khoa học còn thấp, chưa tương xứng với công lao đóng góp và đặc thù công việc. Đề nghị quan tâm và có chính sách ưu đãi phù hợp.

Trả lời: Tại công văn số 2218/BKHCN-VP ngày 20/6/2014

Trong thời gian gần đây, được sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ trong việc xây dựng chính sách đối với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ (KH&CN), Bộ Khoa học và Công nghệ đã nghiên cứu, tham mưu và đề xuất ban hành nhiều văn bản quan trọng như Quyết định sổ 418/QĐ-TTg ngày 11/4/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược phát triển KH&CN giai đoạn 2011 - 2020; Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 Ban chấp hành Trung ương khóa XI về phát triển KH&CN phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế (Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012), Nghị quyết số 46-NQ/CP ngày 29/3/2012 của Chính phủ ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết 20-NQ/TW... Nội dung các văn bản quan trọng này đều nhấn mạnh cần thiết phải có cơ chế đặc thù, chế độ đãi ngộ đặc biệt đối với cán bộ KH&CN. Ngày 18/6/2013, Quốc hội khoá XIII đã thông qua Luật khoa học và công nghệ (sửa đổi), trong đó vấn đề trọng dụng, sử dụng cá nhân hoạt động KH&CN đã được thể chế hoá thành luật.

Thực hiện Nghị quyết 46-NQ/CP và triển khai Luật khoa học và công nghệ năm 2013, Bộ Khoa học và Công nghệ đã xây dựng và trình Chính phủ ban hành Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân hoạt động KH&CN, Nghị định có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2014.

Theo Nghị định này, cá nhân hoạt động KH&CN tuỳ theo công lao, mức đóng góp và thành tích đạt được sẽ được hưởng các chính sách ưu đãi như: tuyến dụng đặc cách không qua thi tuyển; bổ nhiệm, thăng hạng chức danh nghiên cứu khoa học, chức danh công nghệ không qua thi thăng hạng, không phụ thuộc vào năm công tác; chính sách đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, kỹ năng; tạo điều kiện làm việc thuận lợi; nâng lương vượt bậc; kéo dài thời gian công tác. Bên cạnh chính sách ưu đãi trong sử dụng đối với đội ngũ viên chức KH&CN nói chung, Nghị định quy định chính sách trọng dụng đặc biệt đối với 03 nhóm đối tượng đặc thù là nhà khoa học đầu ngành, nhà khoa học được giao chủ trì nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia đặc biệt quan trọng và nhà khoa học trẻ tài năng. Nội dung cụ thể của chính sách trọng dụng nhằm tạo điều kiện đế phát huy tối đa, năng lực và giải phóng khả năng nghiên cứu, sáng tạo, cống hiến của các đối tượng này.

Bên cạnh Nghị định số 40/2014/NĐ-CP nói trên, hiện nay Bộ Khoa học và Công nghệ đang phối hợp với Bộ Tài chính xây dựng Dự thảo Thông tư hướng dẫn về định mức và phương thức cấp tiền lương, tiền công, tiền chi hoạt động bộ máy trong nhiệm vụ của tổ chức KH&CN. Theo tinh thần Dự thảo Thông tư này phương thức cấp tiền lương, tiền công, tiền chi hoạt động bộ máy cho các tổ chức KH&CN thay đổi từ phương thức cấp theo đầu biên chế sang phương thức cấp theo nhiệm vụ của tổ chức KH&CN, xác định tiền lương và tiền công cho từng cá nhân tham gia thực hiện nhiệm vụ tương xứng với mức đóng góp của từng người.

Như vậy, có thể nói, liên quan đến nội dung chính sách đối với cán bộ KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tham mưu cho Đảng và Chính phủ ban hành nhiều văn bản quan trọng và vẫn đang tiếp tục xây dựng bố sung.



2. Cử tri tỉnh Quảng Bình kiến nghị: Hiện nay, việc sử dụng túi ni lông không thể thiếu trong đời sống sinh hoạt của người dân; tuy nhiên túi ni lông khó phân hủy nên gây ô nhiễm môi trường, gây tắc nghẽn hệ thống nước thải. Đề nghị Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu, có giải pháp sản xuất loại bao bì đựng tự tiêu hủy nhằm bảo vệ môi trường.



1   ...   60   61   62   63   64   65   66   67   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương