KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang60/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   56   57   58   59   60   61   62   63   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Hiện nay, việc quản lý và sử dụng cộng tác viên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL được quy định tại các VBQPPL như: Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra, xử lý VBQPPL (Điều 35, 36, 40), Nghị định số 16/2013/NĐ-CP ngày 06/02/2013 về rà soát, hệ thống hóa VBQPPL (Điều 28, 29, 30, 34), Thông tư số 20/2010/TT-BTP ngày 30/11/2010 của Bộ Tư pháp quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL (Điều 14).

Các VBQPPL nêu trên đã quy định cụ thể về điều kiện, tiêu chuẩn đối với cộng tác viên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL; cơ chế hoạt động của cộng tác viên; cơ quan có trách nhiệm xây dựng và quản lý đội ngũ cộng tác viên… Căn cứ vào quy định tại các VBQPPL nêu trên, cơ quan quản lý, sử dụng cộng tác viên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL và các cộng tác viên đã có đủ cơ sở pháp lý để thực hiện kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Bên cạnh đó, để quản lý đội ngũ cộng tác viên và triển khai công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL một cách thuận lợi, hiệu quả tại cơ quan mình, các Bộ, ngành, địa phương có thể ban hành những văn bản nội bộ quy định về cơ chế hoạt động của đội ngũ cộng tác viên phù hợp với đặc điểm, yêu cầu tại cơ quan, đơn vị mình để đảm bảo thực hiện có chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL. Trên thực tế, nhiều địa phương đã ban hành quy chế tổ chức và quản lý cộng tác viên kiểm tra văn bản tại cơ quan mình và đang thực hiện rất tốt các Quy chế này, như: Hưng Yên, Hải Phòng, Hà Giang, Cao Bằng, Bắc Kạn, Lào Cai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Vĩnh Long, Sóc Trăng…

Tiếp thu kiến nghị của cử tri, trong thời gian tới, Bộ Tư pháp sẽ tiếp tục theo dõi tình hình thực tế của việc quản lý và sử dụng đội ngũ cộng tác viên kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa VBQPPL trên cả nước; tổng hợp phản ánh, kiến nghị của các địa phương, trường hợp xét thấy cần thiết, Bộ sẽ đề xuất Chính phủ ban hành quy định riêng để hướng dẫn việc quản lý và sử dụng cộng tác viên kiểm tra, rà soát và hệ thống hóa VBQPPL.



12. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị: Đề nghị Chính phủ sửa đổi Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg ngày 07/5/2009 của Thủ tướng Chính phủ quy định về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp theo hướng tăng mức bồi dưỡng cho cán bộ làm công tác pháp y.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Để đảm bảo chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp phù hợp với thực tế như kiến nghị của cử tri và thực hiện Kế hoạch triển khai thi hành Luật giám định tư pháp, Bộ Tư pháp đã xây dựng, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 01/2014/QĐ-TTg ngày 01/01/2014 thay thế Quyết định số 74/2009/QĐ-TTg quy định về chế độ bồi dưỡng giám định tư pháp. Theo đó, mức bồi dưỡng giám định tư pháp đã được nâng lên từ 1,5 - 2,5 lần. Để triển khai có hiệu quả Quyết định 01/2014/QĐ-TTg, Bộ Tư pháp cũng đã tổ chức 02 hội nghị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh với sự tham gia của đại diện các cơ quan tiến hành tố tụng, các tổ chức giám định tư pháp, Sở Tư pháp các địa phương và một số Bộ, ngành, cơ quan, tổ chức có liên quan.



13. Cử tri tỉnh Hòa Bình kiến nghị: Hiện nay, rất nhiều văn bản hướng dẫn triển khai thực hiện Luật ban hành không đúng tiến độ, dẫn đến các chế độ, chính sách chậm đến với người dân. Đề nghị Quốc hội xem xét sớm sửa Luật ban hành VBQPPL, quy định rõ về thời gian ban hành các văn bản hướng dẫn triển khai.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Trong những năm qua, công tác xây dựng VBQPPL được Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên hàng đầu và đã được các Bộ, cơ quan và các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương triển khai quyết liệt, đạt được nhiều kết quả tích cực. Thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014, các Bộ, cơ quan đã tập trung soạn thảo đúng tiến độ, trình Quốc hội, UBTVQH thông qua 10/11 luật7; cho ý kiến 13/16 dự án luật8. Các Bộ, cơ quan đã chủ động, tích cực trong việc soạn thảo, trình Chính phủ các dự án luật, pháp lệnh, từng bước hạn chế việc điều chỉnh chương trình. Trong quá trình xây dựng các luật, pháp lệnh, các cơ quan chủ trì soạn thảo đã chú trọng đến việc đánh giá tác động của chính sách; thực hiện cơ chế huy động sự tham gia của các cơ quan, đoàn thể, hiệp hội, doanh nghiệp và nhân dân, nhất là đối tượng chịu sự tác động của văn bản. Công tác xây dựng, ban hành văn bản thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, nhất là các văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh có chuyển biến tích cực. Công tác thẩm định VBQPPL của Bộ Tư pháp đã có nhiều đổi mới trong quy trình, cách thức thẩm định, đã tạo được chuyển biến tích cực về chất lượng thẩm định, góp phần nâng cao chất lượng ban hành VBQPPL, đồng thời hạn chế việc các luật, pháp lệnh giao Chính phủ, các Bộ, ngành ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành.

Tuy nhiên, đúng như ý kiến của các cử tri nêu, trong thời gian qua, bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác xây dựng pháp luật ở nước ta còn có một số bất cập, hạn chế, trong đó nổi lên như: (1) việc xây dựng các luật, pháp lệnh vẫn còn chưa bảo đảm tiến độ, chất lượng dẫn đến phải điều chỉnh chương trình; số lượng văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh còn nhiều; (2) việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết thi hành luật, pháp lệnh còn chậm, chưa bảo đảm yêu cầu triển khai thi hành luật, pháp lệnh; văn bản quy định chi tiết được ban hành không bảo đảm tính kịp thời có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của luật, pháp lệnh còn diễn ra phổ biến. (3) Còn tình trạng một số văn bản chưa bảo đảm chất lượng, có nội dung thiếu tính khả thi, chưa bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật. Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng trên là do:

Về khách quan:

- Hàng năm, số lượng luật, pháp lệnh mà Quốc hội giao Chính phủ chủ trì soạn thảo là tương đối lớn, khoảng 90% tổng số các dự án luật, pháp lệnh trong Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội. Nhiều Bộ, ngành được giao chủ trì soạn thảo cùng lúc 2 - 3 dự án luật để trình Quốc hội trong một kỳ họp, tạo ra sức ép công việc rất lớn. Bên cạnh đó, một số Bộ, cơ quan ngang Bộ vừa phải chủ trì xây dựng các dự án luật, pháp lệnh theo Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội, vừa phải soạn thảo một số lượng lớn văn bản quy định chi tiết luật, pháp lệnh.

- Nội dung quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các luật, pháp lệnh nhiều, thường là các vấn đề mới, phức tạp, có trường hợp còn thiếu sự định hướng về chính sách, có nhiều ý kiến khác nhau, dẫn đến việc kéo dài thời gian soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết. Bên cạnh đó, một số luật, pháp lệnh không do Chính phủ trình nhưng có nội dung giao cho Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ quy định chi tiết nên trong quá trình soạn thảo, ban hành văn bản quy định chi tiết các cơ quan của Chính phủ còn lúng túng, bị động.

- Nhiều quy định của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã bộc lộ những bất cập, hạn chế, không còn phù hợp như quy định về lập chương trình xây dựng luật, pháp lệnh; trình tự, thủ tục xây dựng, ban hành VBQPPL; việc xác định thời điểm có hiệu lực của VBQPPL còn máy móc, chưa phù hợp với thực tiễn.



Về chủ quan:

- Lãnh đạo một số Bộ, ngành chưa thực sự quyết liệt trong việc chỉ đạo công tác xây dựng VBQPPL nói chung và văn bản hướng dẫn thi hành luật, pháp lệnh nói riêng. Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành trong xây dựng, thẩm định VBQPPL cũng chưa chặt chẽ, hiệu quả.

- Đội ngũ cán bộ làm công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL ở Bộ Tư pháp và các Bộ, ngành còn thiếu về số lượng, năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tiễn còn nhiều hạn chế, trong khi số lượng văn bản ban hành nhiều dẫn đến quá tải. Quy trình xây dựng VBQPPL, nhất là khâu dự báo, đánh giá tác động kinh tế - xã hội và lấy ý kiến tham vấn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan chưa được tuân thủ nghiêm.

Với trách nhiệm là cơ quan giúp Chính phủ quản lý nhà nước về công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra và theo dõi thi hành pháp luật nói chung, Bộ Tư pháp thấy rằng, để xảy ra tình trạng như cử tri phản ánh là có phần trách nhiệm của Bộ Tư pháp. Để khắc phục các bất cập, vướng mắc nêu trên, trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, Bộ Tư pháp phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang Bộ thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:



­- Nâng cao ý thức trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm tham mưu xây dựng, triển khai thực hiện Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh. Thực hiện nghiêm Nghị quyết số 67/2013/QH13 của Quốc hội về tăng cường công tác triển khai thi hành luật, pháp lệnh và ban hành văn bản quy định chi tiết hướng dẫn thi hành và Kế hoạch của Chính phủ triển khai Nghị quyết này.

­- Nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL. Bổ sung hợp lý số lượng cán bộ, công chức làm công tác xây dựng, thẩm định VBQPPL; tăng cường tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, năng lực phân tích, xây dựng chính sách pháp luật và kỹ năng soạn thảo, thẩm định văn bản pháp luật cho những người làm công tác xây dựng pháp luật, bao gồm cả cán bộ, công chức pháp chế các Bộ, Ngành.

- Có biện pháp thu hút sự tham gia của nhân dân, huy động trí tuệ của chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý, sự phản biện từ các tổ chức xã hội, từ các phương tiện thông tin đại chúng… vào quá trình xây dựng, thẩm định; cải tiến, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác phối hợp giữa Bộ Tư pháp với các Bộ, Ngành và giữa các đơn vị thuộc Bộ Tư pháp trong việc xây dựng, thẩm định VBQPPL.

- Về lâu dài, để nâng cao chất lượng xây dựng, thẩm định VBQPPL một cách căn cơ hơn, Bộ Tư pháp đã phối hợp với các Bộ, ngành xây dựng Luật ban hành VBQPPL (hợp nhất), với định hướng làm cho quy trình xây dựng pháp luật dân chủ, minh bạch, chuyên nghiệp hơn, trách nhiệm giải trình cao hơn; quy định rõ việc văn bản quy định chi tiết phải có hiệu lực cùng thời điểm có hiệu lực của văn bản được quy định chi tiết hoạc hiệu lực của điều, khoản, điểm được quy định chi tiết. Đồng thời, nghiên cứu làm rõ hơn thẩm quyền giải thích pháp luật của các chủ thể ban hành VBQPPL; bổ sung vai trò của Hội đồng thẩm phán TANDTC trong việc tổng kết xét xử giám đốc thẩm để áp dụng thống nhất pháp luật (án lệ), qua đó sẽ góp phần hạn chế ban hành thông tư, thông tư liên tịch quá nhiều như hiện nay. Dự án Luật này đã được Chính phủ thông qua, trình UBTVQH và dự kiến sẽ được trình Quốc hội xem xét cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8 (tháng 10/2014).

14. Cử tri tỉnh Bình Dương kiến nghị: Cử tri phản ánh hiện nay các thủ tục công chứng còn rườm rà, phức tạp, lệ phí công chứng khá cao nhưng chất lượng và trách nhiệm của công chứng viên chưa được đề cao, dẫn đến sai sót gây thiệt hại về quyền và lợi ích của người dân khi tham gia công chứng. Tuy nhiên, việc xác định trách nhiệm bồi thường còn nhiều bất cập. Cử tri đề nghị nhà nước phải có chế tài để hạn chế thiếu sót của hoạt động công chứng.

Cử tri tỉnh Long An kiến nghị: Đề nghị Nhà nước quản lý chặt chẽ hoạt động công chứng đặc biệt là công chứng từ, hoạt động này hiện đang tiềm ẩn nhiều rủi ro, có thể gây thiệt hại cho Nhà nước và người dân nhất là trên lĩnh vực ký hợp đồng tín dụng, hợp đồng với người được ủy quyền, hợp đồng thế chấp tài sản, hợp đồng thế chấp quyền sở hữu nhà ở, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất …

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Công tác quản lý nhà nước đối với hoạt động công chứng luôn được Chính phủ, Bộ Tư pháp quan tâm, chú trọng. Sau khi Luật công chứng năm 2006 được Quốc hội thông qua, Bộ Tư pháp đã tham mưu cho Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 03 Nghị định và 03 Quyết định; ban hành và phối hợp với Bộ Tài chính ban hành 04 Thông tư và 01 Quyết định. Bộ Tư pháp cũng đã kịp thời ban hành nhiều công văn chỉ đạo và hướng dẫn tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện Luật công chứng; tổ chức triển khai, phổ biến, tuyên truyền, quán triệt Luật và các văn bản liên quan trên phạm vi cả nước với nhiều hình thức khác nhau, đã góp phần tích cực trong việc nâng cao nhận thức của xã hội về hoạt động công chứng.

Cùng với việc tổ chức triển khai thi hành Luật, công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và những sai phạm trong hoạt động công chứng cũng được Bộ Tư pháp quan tâm. Hàng năm, Bộ Tư pháp xây dựng kế hoạch tổ chức các đợt thanh tra về tổ chức và hoạt động công chứng ở các tỉnh, thành phố, đồng thời, chỉ đạo các Sở Tư pháp tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động công chứng để kịp thời phát hiện và xử lý nghiêm minh những hành vi vi phạm pháp luật, vi phạm Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. Qua công tác thanh tra, đã phát hiện và chấn chỉnh kịp thời những sai phạm trong hoạt động công chứng, xử lý gần 300 trường hợp vi phạm. Mặt khác, việc tăng cường bồi dưỡng đạo đức nghề nghiệp của công chứng viên cũng được Bộ Tư pháp chú trọng. Ngày 30/10/2012, Bộ Tư pháp đã ban hành Thông tư số 11/2012/TT-BTP về Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng. Bộ quy tắc này được ban hành là những chuẩn mực đạo đức, hành vi ứng xử của công chứng viên trong hành nghề công chứng. Qua theo dõi cho thấy, Bộ quy tắc đã phát huy tác dụng trong thực tiễn hoạt động công chứng.

Nhằm khắc phục một số điểm hạn chế, bất cập của Luật công chứng năm 2006, đảm bảo tốt hơn quyền và lợi ích của các cá nhân, tổ chức tham gia hợp đồng, giao dịch, tạo hành lang pháp lý đầy đủ, chặt chẽ hơn cho hoạt động công chứng, Luật công chứng (sửa đổi) đã được Quốc hội thông qua ngày 20/6/2014 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015. Cùng với những quy định nhằm nâng cao chất lượng và sự phát triển bền vững của đội ngũ công chứng viên (chương II), Luật có nhiều quy định mới chặt chẽ, minh bạch điều chỉnh tổ chức và hoạt động công chứng, trong đó có tổ chức và hoạt động của các Văn phòng công chứng, cụ thể là quy định từ Điều 22 đến Điều 33 về Văn phòng công chứng; Điều 37 về bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của công chứng viên, Điều 38 về bồi thường, bồi hoàn trong hoạt động công chứng; Điều 62 về cơ sở dữ liệu công chứng; Điều 71, 72 và 74 về xử lý vi phạm đối với công chứng viên, tổ chức hành nghề công chứng và cá nhân, tổ chức hành nghề công chứng bất hợp pháp. Bên cạnh đó, quy định về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm phối hợp của các cơ quan quản lý nhà nước về công chứng, các hành vi bị nghiêm cấm đối với công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng, quyền và nghĩa vụ của tổ chức hành nghề công chứng… cũng được sửa đổi, bổ sung toàn diện trong Luật này. Đặc biệt, một trong những điểm mới đáng chú ý của Luật công chứng (sửa đổi) là quy định trong Luật về tổ chức xã hội - nghề nghiệp của công chứng viên với chức năng quan trọng là giám sát công chứng viên trong việc tuân thủ quy định của pháp luật về công chứng, quy tắc đạo đức hành nghề công chứng.

Để Luật công chứng (sửa đổi) triển khai kịp thời, hiệu quả, các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn một số điều của Luật cũng đang được khẩn trương xây dựng và ban hành trong năm 2014, tạo cơ sở pháp lý quan trọng, vững chắc cho tổ chức và hoạt động công chứng phát triển theo định hướng xã hội hóa; bên cạnh đó với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động công chứng, Bộ Tư pháp cũng sẽ tăng cường công tác kiểm tra để hạn chế thấp nhất các rủi ro trong hoạt động này, đảm bảo quyền và lợi ích của các tổ chức, cá nhân tham gia hợp đồng, giao dịch dân sự.

15. Cử tri tỉnh Hải Dương kiến nghị: Đề nghị tiếp tục nghiên cứu sửa đổi Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 về thủ tục thi hành án dân sự khi Quốc hội chưa thông qua Luật THADS sửa đổi.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Quá trình triển khai thực hiện Nghị định số 58/2009/NĐ-CP ngày 13/7/2009 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật THADS về thủ tục THADS, Bộ Tư pháp cũng đã nhận thấy những hạn chế, bất cập. Trên cơ sở đó, Bộ Tư pháp đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 125/2013/NĐ-CP ngày 14/10/2013 sửa đổi, bổ sung Nghị định số 58/2009/NĐ-CP. Về cơ bản, Nghị định số 125/2013/NĐ-CP đã giải quyết được những hạn chế, bất cập trước đây liên quan đến thủ tục THADS quy định trong Nghị định số 58/2009/NĐ-CP. Hiện nay, một số quy định phù hợp của Nghị định số 125/2013/NĐ-CP đang tiếp tục được nghiên cứu, đưa vào quy định của dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự.

16. Cử tri tỉnh Hải Dương kiến nghị: Đề nghị Bộ Tư pháp phối hợp với Bộ, ngành có liên quan chỉ đạo, hướng dẫn việc chuyển ngạch Chấp hành viên trung cấp đối với những người có đủ điều kiện chuyển ngạch và tổ chức thi tuyển Chấp hành viên trung cấp, sơ cấp theo quy định.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

a) Về hướng dẫn việc chuyển ngạch Chấp hành viên trung cấp đối với những người có đủ điều kiện chuyển ngạch

Ngày 09/6/2014, Bộ Nội vụ đã có Công văn số 1970/BNV-CCVC về việc thống nhất để Bộ Tư pháp chuyển ngạch Chấp hành viên trung cấp đối với các Chấp hành viên cấp huyện có đủ điều kiện, tiêu chuẩn theo quy định. Hiện, Bộ Tư pháp đang chỉ đạo đơn vị chức năng thuộc Bộ tiến hành các thủ tục theo quy định và dự kiến sẽ hoàn thành việc chuyển ngạch Chấp hành viên trung cấp đối với những người có đủ điều kiện trong năm 2014.



b) Về tổ chức thi tuyển chấp hành viên sơ cấp

Trong năm 2014 (đến hết tháng 7/2014), Bộ Tư pháp đã tổ chức thi tuyển Chấp hành viên sơ cấp cho 590 công chức của 63 Cục THADS tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Căn cứ kết quả thi tuyển, Bộ Tư pháp sẽ bổ nhiệm vào ngạch Chấp hành viên sơ cấp đối với những công chức đạt kết quả theo quy định.



c) Về tổ chức thi nâng ngạch Chấp hành viên trung cấp

Căn cứ quy định về thi nâng ngạch công chức, trên cơ sở ý kiến của Bộ Nội vụ, Bộ Tư pháp đã hoàn thiện Đề án thi nâng ngạch lên Thẩm tra viên chính, Chấp hành trung cấp năm 2014 trình Bộ Nội vụ phê duyệt và giao chỉ tiêu theo quy định. Sau khi Đề án được phê duyệt, Bộ Tư pháp sẽ phối hợp với Bộ Nội vụ tổ chức kỳ thi nâng ngạch Chấp hành viên trung cấp theo quy định. Dự kiến việc tổ chức thi nâng ngạch sẽ được thực hiện trong Quý IV /2014.



17. Cử tri tỉnh Hải Dương kiến nghị: Đề nghị xây dựng trình Quốc hội ban hành Nghị quyết về việc miễn, giảm thi hành án đối với các khoản thu nộp cho ngân sách nhà nước cho những người phải thi hành án không có điều kiện thi hành, theo đó rút ngắn thời hạn xét miễn, giảm theo quy định của Điều 61 Luật THADS năm 2008 nhằm giảm tải cho cơ quan thi hành án trong thời gian dài.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Việc xây dựng dự thảo Nghị quyết của Quốc hội về việc miễn thi hành án đối với một số khoản thu nộp ngân sách nhà nước không có điều kiện thi hành đã được Bộ Tư pháp triển khai thực hiện; dự thảo Nghị quyết đã được Chính phủ thông qua và trình Ủy ban thường vụ Quốc hội cho ý kiến.

Tại phiên họp ngày 14/5/2013, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhận thấy nhiều nội dung trong dự thảo Nghị quyết có liên quan đến quy định của Luật THADS, do đó Ủy ban thường vụ Quốc hội đề nghị cần đưa vấn đề này vào nội dung sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự để tạo điều kiện cho việc xét miễn, giảm thi hành án có căn cứ luật định. Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ủy ban thường vụ Quốc hội, Bộ Tư pháp đã báo cáo Chính phủ đưa dự án Luật sửa đổi, bổ sung Luật THADS vào chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2014 của Quốc hội và xây dựng dự án Luật trình Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Quốc hội, trong đó có nội dung liên quan đến miễn, giảm thi hành án như cử tri đã nêu. Dự thảo Luật này đã được Quốc hội khóa XIII cho ý kiến tại kỳ họp thứ 7; hiện Bộ Tư pháp đang phối hợp với các cơ quan của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chính phủ tiếp thu, chỉnh lý dự thảo Luật để trình Quốc hội xem xét thông qua vào kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIII tới đây.

18. Cử tri tỉnh Bắc Ninh kiến nghị: Đề nghị giao UBND cấp cơ sở thẩm quyền công chứng các giao dịch chuyển nhượng bất động sản, nhằm tạo điều kiện cho người dân tăng cường chức năng quản lý nhà nước.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Hiện nay, Luật đất đai, Luật nhà ở đều có quy định người dân được lựa chọn công chứng của tổ chức hành nghề công chứng hoặc chứng thực của UBND cấp huyện, cấp xã đối với hợp đồng, giao dịch, bao gồm cả hợp đồng, giao dịch về bất động sản, cụ thể:

Khoản 3 Điều 167 của Luật đất đai quy định: “Việc công chứng, chứng thực hợp đồng, văn bản thực hiện các quyền của người sử dụng đất được thực hiện như sau: a) Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp kinh doanh bất động sản quy định tại điểm b khoản này; b) Hợp đồng cho thuê, cho thuê lại quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp; hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất, tài sản gắn liền với đất mà một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức hoạt động kinh doanh bất động sản được công chứng hoặc chứng thực theo yêu cầu của các bên; c) Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự; d) Việc công chứng thực hiện tại các tổ chức hành nghề công chứng, việc chứng thực thực hiện tại Ủy ban nhân dân cấp xã.”

Khoản 3 Điều 93 của Luật nhà ở quy định: “Hợp đồng về nhà ở phải có chứng nhận của công chứng hoặc chứng thực của Uỷ ban nhân dân cấp huyện đối với nhà ở tại đô thị, chứng thực của Uỷ ban nhân dân xã đối với nhà ở tại nông thôn, trừ các trường hợp sau đây: a) Cá nhân cho thuê nhà ở dưới sáu tháng; b) Bên bán, bên cho thuê nhà ở là tổ chức có chức năng kinh doanh nhà ở; c) Thuê mua nhà ở xã hội; d) Bên tặng cho nhà ở là tổ chức.”

Tuy nhiên, công chứng và chứng thực là hai việc khác nhau, từ chủ thể, hoạt động cho tới hệ quả pháp lý và khoản thu đối với mỗi hoạt động này. Công chứng là hoạt động của Cơ quan Bổ trợ tư pháp do công chứng viên thực hiện. Còn chứng thực là hoạt động do UBND cấp xã, cấp huyện thực hiện. Một bên là hành vi của Cơ quan bổ trợ tư pháp, một bên là của cơ quan hành chính Nhà nước thực hiện. Chứng thực chỉ chứng nhận sự việc, chữ ký, không chứng nhận nội dung của hợp đồng, giao dịch. Trong khi đó, công chứng phải bảo đảm về nội dung của hợp đồng, giao dịch. Chẳng hạn, khi chuyển nhượng quyền sử dụng đất, công chứng viên phải chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của giao dịch hợp đồng đó, bảo đảm giảm thiểu rủi ro, tăng cường an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch. Khi công chứng thì người dân phải nộp “phí công chứng”, còn khi chứng thực thì phải nộp “lệ phí chứng thực”. Và thông thường thì phí công chứng cao hơn mức lệ phí chứng thực đối với cùng một loại việc. Tuy nhiên, đổi lại, nếu được công chứng thì người dân nhận được sự an toàn pháp lý cao hơn.

19. Cử tri tỉnh Tuyên Quang kiến nghị: Giao cho Ủy ban nhân dân cấp xã thẩm quyền chứng thực các văn bằng chứng chỉ có song ngữ. Cử tri phản ánh, hiện nay thẩm quyền chứng thực đối với văn bằng có song ngữ thuộc Ủy ban nhân dân huyện, không thuận lợi cho nhân dân.

Trả lời: Tại công văn số 3803/BTP-VP ngày 06/9/2014

Theo quy định tại điểm a, khoản 1, Nghị định số 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký thì Phòng Tư pháp cấp huyện có thẩm quyền chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản song ngữ. Do Nghị định số 04/2012/NĐ-CP không quy định rõ như thế nào được hiểu là “giấy tờ, văn bản song ngữ” nên đã dẫn đến cách hiểu và áp dụng không thống nhất tại các địa phương.

Để khắc phục tình trạng trên, ngày 13/6/2014, Bộ Tư pháp đã có Công văn số 3086/HTQTCT-CT về việc hướng dẫn thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ, trong đó có hướng dẫn cách hiểu “Giấy tờ, văn bản song ngữ”, theo đó giấy tờ văn bản song ngữ phải là giấy tờ, văn bản được thể hiện đầy đủ bằng hai ngôn ngữ, trong đó có một ngôn ngữ là tiếng Việt, do cơ quan tổ chức nước ngoài cấp hoặc liên kết với cơ quan, tổ chức Việt Nam cấp”. Đối với văn bằng, chứng chỉ do cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam cấp có xen thêm tiếng nước ngoài (như Bằng tốt nghiệp đại học, cao đẳng do các trường đại học, cao đẳng của Việt Nam cấp) thì không được coi là “giấy tờ, văn bản song ngữ”, UBND cấp xã có thẩm quyền chứng thực. Từ khi có hướng dẫn đến nay, các địa phương thực hiện về cơ bản không còn vướng mắc.

Hiện nay, Bộ Tư pháp đang phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xây dựng, đưa nội dung hướng dẫn nêu trên vào dự thảo Nghị định về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký và chứng thực hợp đồng, giao dịch; dự kiến dự thảo Nghị định sẽ trình Chính phủ trong tháng 9/2014 để xem xét, ban hành thay thế Nghị định số 79/2007/NĐ-CP và Nghị định số 04/2012/NĐ-CP.

Ngoài ra, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, theo quy định tại Điều 77, Luật công chứng năm 2014 (có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2015) cũng đã quy định: “công chứng viên được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản”. Do đó, người dân có quyền lựa chọn yêu cầu chứng thực tại Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã hoặc tại tổ chức hành nghề công chứng.

20. Cử tri tỉnh Bình Dương kiến nghị: Hiện nay khi xử các vụ án tham nhũng làm thất thoát số tài sản, cử tri quan tâm đến việc số tài sản trong các vụ án tham nhũng đó có thu hồi được hay không, chưa có thông tin công khai cho người dân được rõ. Cử tri kiến nghị các cơ quan chức năng cần phải thông báo rõ cho người dân biết về số tài sản được thu hồi, số tài sản không được thu hồi và lý do tại sao không thể thu hồi trong mỗi vụ án tham nhũng đề người dân tham gia giám sát trong công tác phòng chống tham nhũng.




1   ...   56   57   58   59   60   61   62   63   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương