KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang50/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   46   47   48   49   50   51   52   53   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 2848/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Gần đây, nhiều khu, điểm du lịch mới đang được đầu tư xây dựng và đưa vào khai thác phục vụ nhu cầu của khách du lịch. Quá trình đầu tư và khai thác đòi hỏi phải có những cơ chế pháp lý phù hợp để thống nhất quản lý có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương.

Căn cứ tình hình thực tế, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã dự thảo Thông tư quy định chi tiết một số nội dung tại Nghị định số 92/2007/NĐ-CP ngày 01 tháng 6 năm 2007 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch về khu du lịch, điểm du lịch. Hiện dự thảo đang được hoàn thiện theo trình tự, thủ tục và sẽ ban hành trong năm 2014.

4. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Đề nghị điều chỉnh lại tiêu chí về xây dựng Trung tâm văn hóa ở xã cho phù hợp (quy định diện tích là 1.000m2), nếu tính chung cho một tỉnh thì kinh phí rất lớn và chưa phù hợp với nhu cầu thực tế hiện nay.

Trả lời: Tại công văn số 2848/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Ngày 22 tháng 12 năm 2010, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa-Thể thao cấp xã. Tại Điều 6 quy định: “Diện tích đất quy hoạch khu Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã (không tính sân vận động) tại khu vực đô thị, đồng bằng tối thiểu là 2.500m2 và tại khu vực miền núi, hải đảo là 1.500m2”.

Căn cứ tình hình thực tiễn, tiếp thu ý kiến kiến nghị của cử tri và các địa phương, ngày 30 tháng 5 năm 2014, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Thông tư số 05/2014/TT-BVHTTDL sửa đổi, bổ sung Điều 6 của Thông tư số 12/2010/TT-BVHTTDL ngày 22 tháng 12 năm 2010 quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã và Thông tư số 06/2011/TT-BVHTTDL ngày 08 tháng 3 năm 2011 quy định mẫu về tổ chức, hoạt động và tiêu chí của Nhà Văn hóa - Khu Thể thao thôn. Theo quy định mới, diện tích đất quy hoạch Trung tâm Văn hóa-Thể thao xã như sau:

- Khu Hội trường Văn hóa đa năng tại khu vực đồng bằng từ 500m2 trở lên, tại khu vực miền núi từ 300m2 trở lên và tại vùng núi cao, hải đảo và xã đặc biệt khó khăn từ 200m2 trở lên;

- Khu thể thao (chưa tính diện tích sân vận động) tại khu vực đồng bằng từ 2.000m2 trở lên, tại khu vực miền núi từ 1.200m2 trở lên và tại vùng núi cao, hải đảo và xã đặc biệt khó khăn từ 500m2 trở lên.

- Các công trình thể thao có thể ở nhiều vị trí trên địa bàn xã; tuy nhiên cấp xã cần bảo đảm dành 02-03m2 đất/người để xây dựng cơ sở vật chất văn hóa-thể thao theo Tiêu chuẩn quy hoạch nông thôn do Bộ Xây dựng ban hành tại Thông tư số 31/2009/ TT-BXD ngày 10 tháng 9 năm 2009.



5. Cử tri tỉnh Bắc Giang kiến nghị: Đề nghị Nhà nước quan tâm có chế độ chính sách để phát huy, bảo tồn, giữ gìn truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số như: tiếng nói, chữ viết, tiếng hát, trang phục...

Trả lời: Tại công văn số 2850/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có những chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên, phát triển văn hóa đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Một số chủ trương, chính sách bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số hiện đang được triển khai:

- Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020.

- Chỉ thị số 1971/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc.

Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011.

Mục tiêu của Đề án đặt ra: Huy động sức mạnh của toàn xã hội nhằm phát triển văn hoá dân tộc, góp phần để văn hoá thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng, bảo đảm toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia; Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng các địa bàn, các dân tộc có nguy cơ bị biến dạng văn hoá cao. Phát huy vai trò của các chủ thể văn hoá trong phát triển văn hoá truyền thống của các dân tộc; Tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; Khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hoá giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hoá các dân tộc. Bảo tồn phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số về tiếng nói, chữ viết, trang phục... của các dân tộc ít người như Si La, Ơ Đu, Brâu, Rơ Măm, Pu Péo (dưới 1.000 người), Cống, Mảng, Bố Y, Lô Lô, Cờ Lao, Ngái (dưới 5.000 người), Lự, Pà Thẻn, Chứt, La Ha và La Hủ (dưới 10.000 người). Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt 02 Dự án: Dự án Bảo tồn khẩn cấp và hỗ trợ, tăng cường năng lực bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc, bài trừ hủ tục ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Quyết định số 3508/QĐ-BVHTTDL ngày 10 tháng 10 năm 2013) và Dự án Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa, thể thao cơ sở vùng dân tộc thiểu số (Quyết định số 1199/QĐ-BVHTTDL ngày 21 tháng 4 năm 2014) thuộc Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” theo Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ.

Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch và các địa phương đang triển khai thực hiện Quyết định số 1270/QĐ-TTg thông qua các dự án, chương trình cụ thể theo mục tiêu yêu cầu và phân công nhiệm vụ trong Đề án và Quyết định của Thủ tướng Chính phủ.



6. Cử tri tỉnh Bắc Giang kiến nghị: Đề nghị công nhận Chùa Vĩnh Nghiêm là Di tích lịch sử cấp quốc gia đặc biệt; sớm xem xét, phê duyệt Dự án đầu tư xây dựng nhà bảo quản mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm; đồng thời có văn bản trình UNESCO công nhận mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm là Di sản ký ức thế giới.

Trả lời: Tại công văn số 2850/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

a) Về đề nghị công nhận Chùa Vĩnh Nghiêm là Di tích quốc gia đặc biệt:

Để thực hiện được các nội dung kiến nghị của cử tri tỉnh Bắc Giang, Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cần có văn bản đề nghị cho phép lập hồ sơ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia có cơ sở đưa vào kế hoạch xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt (đợt 6) năm 2015. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Hội đồng Di sản văn hóa quốc gia sẽ tổ chức thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt Chùa Vĩnh Nghiêm sau khi nhận được hồ sơ và Công văn đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.



b) Về đề nghị có văn bản trình UNESCO công nhận Mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm là Di sản ký ức thế giới:

Ngày 16 tháng 5 năm 2012, tại Hội nghị của Ủy ban UNESCO khu vực Châu Á Thái Bình Dương được tổ chức tại Bangkok, Thái Lan, Mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm đã được công nhận là Tư liệu Di sản thế giới thuộc Chương trình ký ức thế giới khu vực Châu Á Thái Bình Dương.



c) Về việc sớm xem xét, phê duyệt dự án đầu tư xây dựng nhà bảo quản Mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm:

Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang cần chỉ đạo các cơ quan chức năng của Tỉnh nhanh chóng hoàn thành việc lập dự án xây dựng Nhà bảo quản Mộc bản Chùa Vĩnh Nghiêm, trình Ủy ban nhân dân tỉnh và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xem xét, thẩm định theo quy định của Nghị định số 70/2012/NĐ-CP ngày 18 tháng 9 năm 2012 của Chính phủ. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan thẩm định sau khi nhận được hồ sơ dự án kèm theo đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Giang.



7. Cử tri tỉnh Bắc Ninh kiến nghị: Đề nghị xem xét nâng cấp, xây dựng, trùng tu khu di tích Thành cổ Luy Lâu tại huyện Thuận Thành.

Trả lời: Tại công văn số 2851/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Năm 2013, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã thỏa thuận chủ trương để Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh triển khai lập quy hoạch Khu di tích Thành cổ Luy Lâu. Trong năm 2014, các cơ quan chức năng của Tỉnh đang tiến hành cắm mốc giới di tích và thực hiện khảo sát, đo đạc địa hình phục vụ lập quy hoạch.

Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ xem xét, hỗ trợ Tỉnh về chuyên môn trong việc triển khai lập quy hoạch và tổ chức thẩm định sau khi nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Bắc Ninh kèm theo hồ sơ quy hoạch. Trên cơ sở quy hoạch được phê duyệt, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ chỉ đạo và phối hợp với Tỉnh thực hiện các dự án tu bổ, tôn tạo di tích.

8. Cử tri tỉnh Bình Dương kiến nghị: Cử tri bức xúc hiện nay có nhiều chương trình quảng cáo thiếu văn hóa, không mang tính khoa học, dùng hình ảnh và ngôn ngữ vi phạm truyền thống văn hóa, gây tác động xấu đến nhận thức của người tiêu dùng. Cử tri đề nghị tăng cường vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực quảng cáo, xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm, nhằm chấn chỉnh hoạt động quảng cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Trả lời: Tại công văn số 2852/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Để tăng cường công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực quảng cáo, xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm, sau khi Luật Quảng cáo có hiệu lực, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã triển khai các công việc sau:

- Tham mưu, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo; Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hoá, thể thao, du lịch và quảng cáo. Trong đó quy định xử phạt hành vi như quảng cáo có nội dung trái với truyền thống lịch sử văn hóa, đạo đức thuần phong mỹ tục Việt Nam; quảng cáo sai sự thật, không đúng chất lượng…

- Ban hành Thông tư số 10/2013/TT-BVHTTDL ngày 06 tháng 12 năm 2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thực hiện một số điều của Luật Quảng cáo và Nghị định số 181/2013/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Quảng cáo. Trong đó có quy định về việc thẩm định các sản phẩm quảng cáo nhằm khắc phục các hiện tượng như nội dung kiến nghị của cử tri đã nêu.

Triển khai thực hiện Luật Quảng cáo, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã thành lập các đoàn kiểm tra hoạt động quảng cáo trên phạm vi toàn quốc; chỉ đạo Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh/thành tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động quảng cáo trên các phương tiện quảng cáo thuộc thẩm quyền quản lý tại các địa phương; tổng hợp tình hình rà soát báo cáo Bộ nhằm đưa ra các giải pháp quản lý kịp thời hoạt động quảng cáo theo đúng quy định của pháp luật.

Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã, đang và sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật bằng nhiều hình thức các văn bản quản lý nhà nước về quảng cáo cho các doanh nghiệp quảng cáo, kinh doanh dịch vụ quảng cáo, người phát hành quảng cáo, qua đó, tăng cường sự hiểu biết và thực hiện theo đúng quy định của pháp luật về quảng cáo; phối hợp với các Bộ có liên quan tiến hành thanh tra, kiểm tra nội dung quảng cáo các hàng hóa trong lĩnh vực có liên quan, xử lý nghiêm các nội dung quảng cáo sai sự thật, không đúng chất lượng, đảm bảo quyền lợi của người tiêu dùng. Đề xuất phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông tiến hành hoạt động kiểm tra, thanh tra và xử lý vi phạm đối với hoạt động quảng cáo trên báo chí.



9. Cử tri tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kiến nghị: Cử tri phản ánh phong trào thể thao quần chúng bị giảm trầm trọng, nhiều sân thể thao ở xã, phường bị bỏ hoang. Đề nghị Bộ Văn hóa, Thể thao và Du dịch phối hợp với chính quyền địa phương khôi phục các phong trào thể thao quần chúng.

Trả lời: Tại công văn số 2849/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Trong những năm qua, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã tham mưu, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành nhiều văn bản, đề án chỉ đạo, định hướng liên quan đến cơ chế, chính sách để thúc đẩy phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng5 phát triển mạnh mẽ, đúng hướng.

Cùng với việc đẩy mạnh triển khai thực hiện cuộc vận động “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại”, hàng năm, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch dành nhiều kinh phí để tổ chức các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, thể thao thành tích cao và tổ chức tập huấn, bồi dưỡng cho các cán bộ, cộng tác viên, hướng dẫn viên thể dục thể thao ở cơ sở nhằm phát triển phong trào thể dục thể thao trên các địa bàn trong cả nước. Nhờ đó, tính đến hết năm 2013, cả nước đã có 27,2% dân số thường xuyên tập luyện thể dục, thể thao (năm 2010 đạt 23,6%); số gia đình tập luyện thể thao đạt 18,6% (năm 2010 đạt 15%); có 48.000 câu lạc bộ thể dục, thể thao quần chúng hoạt động thường xuyên; tổ chức trên 39.500 giải thể thao quần chúng.

Qua theo dõi công tác thể dục thể thao quần chúng của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu, những năm qua, phong trào thể dục thể thao quần chúng của Tỉnh đã và đang phát triển theo từng năm: năm 2010 số người luyện tập thể dục thể thao thường xuyên đạt 26,5%; năm 2011 đạt 27%; năm 2012 đạt 29,5%; năm 2013 đạt 31,2%; đến nay Tỉnh đã hoàn thành đúng tiến độ kế hoạch tổ chức Đại hội thể dục thể thao các cấp (có 82/82 xã, phường đã tổ chức Đại hội, đạt tỷ lệ 100%, 8/8 huyện đã tổ chức Đại hội đạt 100% và đã tổ chức Đại hội Thể dục thể thao tỉnh Bà Rịa-Vùng Tàu).

Để tiếp tục phát triển phong trào thể dục thể thao quần chúng, sử dụng hiệu quả các công trình thể thao trên địa bàn tỉnh Bà Rịa-Vùng Tàu, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đề nghị Ủy ban nhân dân Tỉnh chỉ đạo các Sở, ban, ngành nghiên cứu, triển khai thực hiện các văn bản, đề án chỉ đạo, định hướng của Đảng, Nhà nước về công tác thể dục thể thao; giao quyền tự chủ cho các đơn vị trực tiếp quản lý các công trình thể thao được chủ động hơn trong việc tổ chức các hoạt động, dịch vụ; tham khảo kinh nghiệm của các đơn vị và địa phương đã quản lý, khai thác và sử dụng có hiệu quả công trình văn hóa, thể thao cơ sở để phục vụ tốt nhu cầu sinh hoạt, tập luyện thể dục thể thao của quần chúng nhân dân.

Theo định hướng chỉ đạo trong những năm tới, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch sẽ dành nhiều kinh phí hơn cho việc tổ chức các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, trong đó tập trung vào việc tuyên truyền, vận động nhân dân tích cực tham gia các hoạt động thể dục thể thao quần chúng, hướng dẫn các phương pháp tập luyện TDTT, tổ chức các hội thi, hội thao quần chúng cấp khu vực và toàn quốc, tổ chức các lớp bồi dưỡng cán bộ, cộng tác viên, hướng dẫn viên thể dục thể thao ở cơ sở, đồng thời có ý kiến với Uỷ ban nhân dân các tỉnh/thành quan tâm, đầu tư kinh phí cho các hoạt động TDTT ở cơ sở.



10. Cử tri tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu kiến nghị: Cử tri cho rằng, tình trạng mê tín dị đoan diễn ra trong thời gian qua là đáng báo động. Một số người tự xưng là nhà ngoại cảm để tìm hài cốt liệt sĩ, tìm xác mất tích… để trục lợi. Đề nghị có biện pháp chấn chỉnh mê tín dị đoan và tuyên truyền phổ biến cho nhân dân biết về tác hại của mê tín dị đoan.

Trả lời: Tại công văn số 2849/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Để chấn chỉnh hiện tượng mê tín dị đoan, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tuyên truyền, phổ biến các văn bản chỉ đạo của Đảng như đã nêu tại mục 1 đồng thời đã tham mưu, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành:

- Chỉ thị số 14/1998/CT-TTg ngày 28 tháng 3 năm 1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc thực hiện Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

- Quyết định số 308/2005/QĐ-TTg, ngày 25 tháng 11 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang, lễ hội.

- Nghị định số 158/2013/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo.

Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tự ban hành và phối hợp ban hành theo thẩm quyền:

- Chỉ thị số 16/CT-BVHTTDL ngày 03 tháng 02 năm 2010 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch về tăng cường công tác chỉ đạo, quản lý hoạt động văn hóa, tín ngưỡng tại di tích;

- Thông tư số 04/2011/TT-BVHTTDL ngày 21 tháng 01 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch Quy định về thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội;

- Thông tư liên tịch số 04/2014/TTLT-BVHTTDL-BNV ngày 29 tháng 5 năm 2014 giữa Bộ Nội vụ và Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch về việc hướng dẫn việc thực hiện nếp sống văn minh tại các cơ sở tín ngưỡng, cơ sở tôn giáo.

Trong thời gian tới, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ tiếp tục thực hiện một số công việc sau:

- Đẩy mạnh tuyên truyền, vận động giáo dục người dân về tác hại của mê tín dị đoan; nâng cao nhận thức của các tầng lớp nhân dân về ý thức chấp hành pháp luật; phân biệt rõ giữa tín ngưỡng và mê tín, dị đoan.

- Tăng cường phối hợp với lực lượng chức năng, đặc biệt là ngành công an, xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng mê tín dị đoan để lừa đảo.

- Phát động quần chúng nhân dân tố giác các đối tượng lợi dụng mê tín dị đoan để lừa đảo tại các cơ sở thờ tự, khu vực có đông du khách, đặc biệt là tại lễ hội, khu du lịch tâm linh.

Do tính chất phức tạp và nhạy cảm, công tác bài trừ mê tín dị đoan không thể là nhiệm vụ của riêng một cơ quan, đơn vị nào mà là nhiệm vụ chung của cả hệ thống chính trị ở các cấp, của toàn xã hội, đặc biệt là ở nhận thức của người dân. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch rất mong nhận được sự hưởng ứng của nhân dân trong công tác đấu tranh bài trừ mê tín dị đoan.



11. Cử tri thành phố Cần Thơ kiến nghị: Đề nghị có chủ trương, chính sách cụ thể, nhằm tạo điều kiện để cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia sưu tầm, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của quốc gia, dân tộc, nhất là bản sắc văn hóa tốt đẹp của các dân tộc ít người.

Trả lời: Tại công văn số 2853/BVHTTDL-VP ngày 25/8/2014

Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và có những chủ trương, chính sách nhằm ưu tiên, phát triển văn hóa đối với vùng dân tộc thiểu số và miền núi. Một số chủ trương, chính sách bảo tồn, phát huy truyền thống văn hóa các dân tộc thiểu số hiện đang được triển khai:

- Quyết định số 581/QĐ-TTg ngày 06 tháng 5 năm 2009 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển văn hoá đến năm 2020.

- Chỉ thị số 1971/CT-TTg ngày 27 tháng 10 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

- Nghị định số 05/NĐ-CP ngày 14 tháng 01 năm 2011 của Chính phủ về Công tác dân tộc.

Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng và Nhà nước, Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã xây dựng Đề án “Bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số Việt Nam đến năm 2020” đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1270/QĐ-TTg ngày 27 tháng 7 năm 2011, gồm 06 dự án:

- Dự án 1: Xây dựng bộ chỉ số phát triển văn hóa dân tộc thiểu số đến năm 2020. Tổng kiểm kê di sản văn hóa các dân tộc thiểu số.

- Dự án 2: Bảo tồn khẩn cấp và hỗ trợ tăng cường năng lực bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc, bài trừ hủ tục lạc hậu ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

- Dự án 3: Đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực, phát huy hiệu quả các thiết chế văn hóa cơ sở vùng dân tộc thiểu số.

- Dự án 4: Gắn kết phát triển kinh tế và bảo tồn, phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số.

- Dự án 5: Giới thiệu, quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật và các di sản văn hóa tiêu biểu của các dân tộc thiểu số và đưa giáo dục văn hóa truyền thống của các dân tộc vào trường học.

- Dự án 6: Chương trình hoạt động, lễ hội và biểu diễn văn hóa, nghệ thuật các dân tộc cấp tỉnh, vùng và quốc gia giai đoạn 2011-2020.

Các dự án trên nhằm mục đích bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số phù hợp với tình hình thực tế, đặc biệt chú trọng địa bàn các dân tộc có nguy cơ cao bị biến dạng văn hóa (các dân tộc rất ít người không có điều kiện để bảo vệ văn hóa của mình; các dân tộc tại khu vực biên giới, hải đảo, khu vực tái định cư để xây dựng nhà máy thủy điện). Phát huy vai trò của các chủ thể văn hóa trong việc bảo tồn và phát triển văn hóa truyền thống của các dân tộc. Tôn vinh các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp của các dân tộc thiểu số; khích lệ sáng tạo các giá trị văn hóa mới. Góp phần giảm dần sự chênh lệch về mức sống và hưởng thụ văn hóa giữa các vùng, các dân tộc, gắn kết giữa sự phát triển kinh tế với bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc. Hiện nay, Bộ Văn hóa, Thể thao và du lịch và các địa phương đang triển khai thực hiện thông qua các dự án, chương trình cụ thể theo mục tiêu yêu cầu và phân công nhiệm vụ trong Đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Từ nhiều năm trước đó, việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa đã góp phần hỗ trợ công tác bảo tồn và phát triển văn hóa các dân tộc thiểu số với nhiều giá trị văn hóa truyền thống tiêu biểu của các dân tộc được bảo tồn, với các dự án cụ thể:

- Phục dựng các lễ hội truyền thống tiêu biểu các dân tộc thiểu số: Với mục đích phục dựng, bảo tồn các lễ hội truyền thống đặc sắc có nguy cơ mai một, tạo môi trường văn hoá lành mạnh, xoá bỏ các hủ tục lạc hậu để nâng cao đời sống tinh thần cho đồng bào các dân tộc, tạo điều kiện để phát triển mô hình văn hóa-du lịch nhằm góp phần xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc. Từ năm 2006 đến nay, Bộ đã chỉ đạo, hỗ trợ phục dựng 43 lễ hội truyền thống tiêu biểu của các dân tộc: Ê Đê, Mường, Thái, Tày, Bru-Vân Kiều, Cơ Tu, H’Mông, Nùng, Dao, Ba Na, Chứt, Khmer, X’Tiêng, Khơ Mú, Lào, Giáy, Lô Lô, Co, Mạ, Bố Y, Pà Thẻn, Ơ Đu, Rơ Măm...

- Bồi dưỡng, tập huấn đội ngũ cán bộ làm làm công tác văn hóa xã hội ở vùng đặc biệt khó khăn, biên giới, hải đảo: Mục đích nhằm nâng cao năng lực tham mưu, quản lý và tổ chức các hoạt động văn hoá, thể thao và du lịch ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số; kịp thời phổ biến, tuyên truyền các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước về công tác văn hóa dân tộc trong tình hình mới và tạo điều kiện cho các cán bộ làm công tác văn hóa-xã hội thuộc khu vực đặc biệt khó khăn được hướng dẫn các phương pháp, nâng cao nhận thức, năng lực quản lý và tổ chức hoạt động văn hóa ở cơ sở, đáp ứng yêu cầu tuyên truyền nhiệm vụ chính trị, sát với thực tế, với đặc điểm, tình hình của từng vùng, từng dân tộc; xây dựng, tổ chức hoạt động thường xuyên các nhà sinh hoạt văn hóa cộng đồng, thu hút ngày càng đông đảo đồng bào tham gia vào các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể dục thể thao.

- Bảo tồn làng bản buôn truyền thống: Từ năm 2006 đến nay, Bộ đã hỗ trợ kinh phí cho Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh: Bình Phước, Ninh Thuận, Gia Lai, Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đắk Nông, Quảng Trị, Nghệ An, Thanh Hóa, Hòa Bình, Kon Tum, Sơn La, Bắc Kạn, Quảng Ngãi, Thái Nguyên, Bình Thuận, Phú Yên, Yên Bái, Lào Cai, Điện Biên, Hà Giang, Cao Bằng, Quảng Ninh, Kiên Giang để tổ chức điều tra, khảo sát, lập dự án bảo tồn 25 làng, bản, buôn truyền thống tiêu biểu thuộc các dân tộc: X’Tiêng, Chăm, Ba Na, K’ho, M’Nông, Ê Đê, Bru-Vân Kiều, Khơ Mú, Mường, Thái, Mông, Lô Lô, Tày, Dao, Khmer, Xơ Đăng, H’rê, Hà Nhì, Bố Y, Pà Thẻn, Mạ, Cơ’ho. Bảo tồn văn hóa vật thể tiêu biểu: Bảo tồn các ngôi nhà cổ truyền thống có kiến trúc đặc sắc cùng hệ thống công cụ lao động, sản xuất đặc trưng của đồng bào dân tộc; Bảo tồn nghề thủ công truyền thống. Bảo tồn văn hoá phi vật thể (tri thức dân gian, âm nhạc, dân ca, dân vũ, bài hát, các lễ hội dân gian, trò chơi dân gian, nhạc cụ truyền thống,...). Bảo tồn cảnh quan môi trường gắn với các giá trị văn hóa để tạo cảnh quan môi trường du lịch. Xây dựng và bảo tồn nhà văn hóa cộng đồng trong các làng, bản, buôn để trưng bày các sản phẩm văn hoá truyền thống, làm địa điểm tổ chức các nghi lễ, lễ hội phản ánh tín ngưỡng dân gian mang tính cộng đồng, là nơi để hội họp, phổ biến kiến thức, tuyên truyền về vệ sinh môi trường và xây dựng đời sống văn hóa ở khu vực dân cư.

- Cung cấp các ấn phẩm văn hóa phù hợp cho các xã đặc biệt khó khăn vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vùng sâu, vùng xa: Với đối tượng hưởng lợi chủ yếu là đồng bào dân tộc thiểu số, nhìn chung ấn phẩm Chương trình cung cấp có nội dung phù hợp, có tính giáo dục, phục vụ thiết thực cho công tác thông tin, tuyên truyền chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước tới vùng sâu, vùng xa; giáo dục pháp luật, phổ biến kiến thức phục vụ đời sống sinh hoạt và sản xuất của đồng bào; góp phần nâng cao dân trí, mức hưởng thụ văn hóa, thông tin cho người dân ở cơ sở, nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo, phát triển kinh tế-xã hội ở các địa phương.

- Đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động văn hóa, thông tin ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, biên giới: Chỉ đạo ngành văn hóa, thể thao và du lịch ở các địa phương định kỳ tổ chức các hoạt động liên hoan, ngày hội văn hóa, thể thao và du lịch quy mô cấp tỉnh. Tổ chức giao lưu văn hóa thể thao và du lịch vùng đồng bào dân tộc thiểu số thiểu số theo khu vực và toàn quốc.

Cấp khu vực: Ngày hội văn hóa, Thể thao và Du lịch các các dân tộc vùng Tây Bắc (luân phiên tổ chức tại các tỉnh, đến nay đã tổ chức lần thứ 12); Ngày hội văn hóa, Thể thao và Du lịch các các dân tộc vùng Đông Bắc (luân phiên tổ chức tại các tỉnh, đến nay đã tổ chức lần thứ 8); Ngày hội văn hóa, Thể thao và Du lịch các các dân tộc miền Trung (lần thứ 1); Ngày hội văn hóa, Thể thao và Du lịch các các dân tộc miền Đông Nam Bộ (lần thứ 1); Ngày hội văn hóa dân tộc Chăm (lần thứ 2); Ngày hội văn hóa dân tộc Khmer (luân phiên tổ chức tại các tỉnh, lần thứ 6); Ngày hội văn hóa dân tộc Mường, dân tộc Mông và dân tộc Hoa (lần thứ 1).

Cấp toàn quốc: Liên hoan Hát Then Đàn Tính (luân phiên tổ chức tại các tỉnh, lần thứ 4); hàng năm tổ chức các hoạt động “Ngày văn hóa các dân tộc Việt Nam” (ngày 19/4) tại Làng Văn hóa các dân tộc Việt Nam; Ngày hội giao lưu văn hóa thể thao và du lịch vùng biên giới Việt-Lào và Việt Nam-Campuchia (lần thứ 1).

12. Cử tri tỉnh Đắk Lắk kiến nghị: Những năm gần đây hiện tượng tiêu cực diễn ra trong bóng đá nói riêng và các hoạt động thể thao nói chung (tiêu cực xảy ra không chỉ đối với vận động viên mà cả bộ phận trọng tài của giải); cho tổ chức festival quá nhiều nhưng hiệu quả không cao, nhiều tai tiếng trong quản lý, sinh hoạt của đội ngũ ca sĩ, nghệ sĩ, người mẫu… tạo dư luận không tốt trong nhân dân, nhưng cơ quan chức năng chưa có biện pháp hữu hiệu, tinh thần chỉ đạo quyết liệt trong việc giải quyết tình trạng trên. Đề nghị xem xét có giải pháp hiệu quả hơn.




1   ...   46   47   48   49   50   51   52   53   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương