KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang32/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   28   29   30   31   32   33   34   35   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Kiến nghị của cử tri cũng là vấn đề mà nhân dân quan tâm trong quá trình lấy ý kiến đối với dự thảo Luật đất đai và đã được tiếp thu quy định cụ thể vào Luật và các Nghị định hướng dẫn thi hành, cụ thể:

- Quy định cụ thể đối với các loại đất phải thu hồi như: để sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh; để phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng (Điều 61 và Điều 62 của Luật Đất đai năm 2013); quy định về kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện làm căn cứ thu hồi đất, cụ thể là để có thể thực hiện việc thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, dịch vụ thì Ủy ban nhân dân cấp huyện phải lập kế hoạch sử dụng đất hàng năm trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp thông qua danh mục dự án cần thu hồi đất đồng thời phê duyệt vốn để giải phóng mặt bằng, sau đó phê duyệt kế hoạch sử dụng đất cấp huyện; quy định cụ thể các trường hợp được thu hồi đất nông nghiệp để phát triển công nghiệp, dịch vụ và điều kiện thực hiện là phải được cấp có thẩm quyền cho phép như Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Hội đồng nhân dân cấp tỉnh. Những trường hợp không được cấp có thẩm quyền cho phép thì không được thu hồi đất; bỏ quy định về trường hợp thuộc diện nhà nước thu hồi đất nhưng cho phép chủ đầu tư thỏa thuận với người sử dụng đất về việc bồi thường nhằm khắc phục tình trạng thu hồi đất, giao đất, chuyển mục đích sử dụng đất tràn lan, gây nên tình trạng đất bỏ hoang, không đưa vào sử dụng gây lãng phí đất.

- Nhằm đảm bảo đưa đất vào sử dụng kịp thời theo quy hoạch, tránh lãng phí và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, Luật đất đai năm 2013 đã quy định quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật (Khoản 2 Điều 49); quy định về thu hồi đất đối với trường hợp đất được Nhà nước giao, cho thuê để thực hiện dự án đầu tư mà không được sử dụng trong thời hạn 12 tháng liên tục hoặc tiến độ sử dụng đất chậm 24 tháng so với tiến độ ghi trong dự án đầu tư kể từ khi nhận bàn giao đất trên thực địa phải đưa đất vào sử dụng (Điểm i Khoản 1 Điều 64 Luật đất đai năm 2013); quy định về điều kiện đối với người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (Khoản 3 Điều 58 của Luật đất đai năm 2013 và Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai).

- Tiếp tục đổi mới, hoàn thiện chính sách về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư theo hướng: giá đất bồi thường không áp dụng theo bảng giá đất mà áp dụng giá đất cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất; quy định cụ thể điều kiện được bồi thường về đất, bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại, bồi thường tài sản gắn liền với đất. Quan tâm hơn đến đảm bảo sinh kế cho người có đất thu hồi thông qua quy định các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất như hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất; hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tạo việc làm; hỗ trợ tái định cư đối với trường hợp thu hồi đất ở mà phải di chuyển chỗ ở; quy định về suất tái định cư tối thiểu. Quy định trách nhiệm trong việc lập các khu tái định đảm bảo cơ sở hạ tầng đồng bộ bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng; phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền và quyền tham gia của người dân trong quá trình lập và thực hiện phương án bồi thường, hỗ trợ tái định cư. Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư. Quy định người dân có thể tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng nhằm hạn chế các sai phạm trong tổ chức thực hiện thu hồi đất của cơ quan nhà nước.

11. Cử tri tỉnh Hải Dương kiến nghị: Đề nghị có hướng dẫn để các địa phương cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các hộ đã hiến đất để xây dựng cơ sở hạ tầng khi thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Tại Khoản 3 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai đã quy định: trường hợp người sử dụng đất tặng cho quyền sử dụng đất để xây dựng công trình công cộng thì phải lập văn bản tặng cho quyền sử dụng đất theo quy định; sau khi hoàn thành xây dựng công trình công cộng trên đất được tặng cho, Văn phòng đăng ký đất đai căn cứ vào văn bản tặng cho quyền sử dụng đất đã được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận và hiện trạng sử dụng đất để đo đạc, chỉnh lý biến động vào hồ sơ địa chính, cơ sở dữ liệu đất đai và thông báo cho người sử dụng đất nộp Giấy chứng nhận đã cấp để xác nhận thay đổi; trường hợp người sử dụng đất tặng cho toàn bộ diện tích đất đã cấp Giấy chứng nhận thì thu hồi Giấy chứng nhận để quản lý.



12. Cử tri thành phố Hải Phòng kiến nghị: Cử tri phản ánh, tình trạng khiếu kiện về đất đai vẫn chiếm tỷ lệ lớn trong số lượng các vụ khiếu kiện. Đề nghị nghiên cứu, thành lập lực lượng thanh tra chuyên ngành về giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, tương tự như lực lượng thanh tra chuyên ngành về xây dựng, giao thông

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Trong thời gian qua, tình hình khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực đất đai vẫn diễn ra phổ biến, theo số liệu thống kê, trong tổng số đơn khiếu nại, tố cáo hàng năm các cơ quan hành chính nhà nước nhận được có khoảng 70% là đơn khiếu nại, tố cáo và tranh chấp đất đai. Riêng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường, đơn thư khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai chiếm đến 98% tổng số đơn thư Bộ nhận được.

Tình trạng nêu trên do các nguyên nhân khách quan như chính sách, pháp luật đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo, tranh chấp đất đai chưa hoàn thiện, đồng bộ; hồ sơ quản lý đất đai qua các thời kỳ lưu trữ không đầy đủ hoặc còn thiếu... Bên cạnh đó có các nguyên nhân chủ quan như:

+ Về phía cơ quan hành chính nhà nước: Công tác lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo của chính quyền các cấp ở một số nơi còn thiếu quyết liệt; một số cán bộ làm nhiệm vụ tiếp công dân, tham mưu giải quyết khiếu nại, tố cáo thiếu tinh thần trách nhiệm hoặc thiếu quan tâm đến quyền và lợi ích chính đáng của người khiếu nại nên giải quyết vụ việc chưa khách quan, chính xác, kịp thời hoặc chưa đảm bảo vụ việc được giải quyết hợp tình, hợp lý nên công dân không nhất trí, tiếp tục khiếu nại; công tác thanh tra, kiểm tra về quản lý, sử dụng đất đai, thanh tra trách nhiệm của Ủy ban nhân dân các cấp về tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai chưa được quan tâm đúng mức.

+ Về phía người khiếu nại, tố cáo: Nhận thức của người dân về chính sách, pháp luật đất đai và pháp luật về khiếu nại, tố cáo nhìn chung còn nhiều hạn chế, trong khi việc tuyên truyền, phổ biến của các cơ quan có trách nhiệm chưa tốt. Nhiều trường hợp người dân mặc dù hiểu rõ các quy định của pháp luật, song cố tình không chấp hành những quyết định đã giải quyết đúng pháp luật; một số trường hợp bị kích động hoặc lợi dụng việc khiếu kiện để kích động khiếu nại đông người, gây sức ép đối với cơ quan Nhà nước nhưng việc xử lý không nghiêm.

Theo quy định của pháp luật về thanh tra, tổ chức thanh tra ngành tài nguyên và môi trường được thành lập tại Bộ Tài nguyên và Môi trường và tại Sở Tài nguyên và Môi trường các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Trong tổ chức của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Thanh tra Bộ và Tổng cục Quản lý đất đai (là cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành) có chức năng, nhiệm vụ giúp Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Tuy nhiên, để hạn chế đơn thư khiếu kiện về đất đai không chỉ có sự góp sức của lực lượng thanh tra chuyên ngành mà cần có sự tham gia của cả hệ thống chính trị xã hội.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đề ra một số giải pháp hạn chế đơn thư khiếu kiện về đất đai như sau:

- Kịp thời ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai năm 2013 và sớm triển khai, phổ biến, tuyên truyền đến mọi người dân, cơ quan, tổ chức.

- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, trong đó tập trung kiểm tra, thanh tra trách nhiệm quản lý nhà nước về đất đai, giải quyết khiếu nại, tố cáo của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp; xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật về đất đai; ngăn ngừa hiện tượng tham nhũng trong quản lý, sử dụng đất đai.

- Tăng cường bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý đất đai và giải quyết khiếu nại, tố cáo về đất đai, trong đó chú trọng kiện toàn bộ máy quản lý đất đai ở cấp huyện và cán bộ địa chính cấp xã.

- Tập trung rà soát các vụ việc khiếu nại, tố cáo phức tạp, tồn đọng, kéo dài trong lĩnh vực đất đai; cơ quan trung ương phối hợp với địa phương để thống nhất biện pháp giải quyết dứt điểm các vụ việc; trong quá trình giải quyết cần tăng cường dân chủ, tuyên truyền pháp luật, tích cực vận động thuyết phục và hòa giải. Hạn chế phát sinh đơn thư mới, trường hợp phát sinh kiến nghị, khiếu nại, tố cáo phải được phối hợp giải quyết ngay từ cơ sở.

- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật khiếu nại, tố cáo và pháp luật đất đai trong nhân dân để cán bộ các cấp và người dân nhận thức, hiểu biết chính sách, pháp luật, quyền và nghĩa vụ của cá nhân, tập thể trong khiếu nại, tố cáo về đất đai; phát huy vai trò và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội phối hợp tham gia cùng các cấp chính quyền tuyên truyền, thuyết phục, vận động nhân dân trong việc bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất và giải quyết tranh chấp, khiếu nại, tố cáo về đất đai. Kiên quyết xử lý nghiêm các phần tử lợi dụng quyền khiếu nại, tố cáo để kích động, lôi kéo người khiếu nại, tố cáo trái quy định của pháp luật.



13. Cử tri tỉnh Hòa Bình kiến nghị: Trong thời gian qua, có nhiều dự án được cấp phép đầu tư, xây dựng vào Hòa Bình, tuy nhiên việc thực hiện dự án quá chậm, gây lãng phí đất đai, gây bức xúc trong nhân dân. Đề nghị có phương án xử lý về đất đai đối với các dự án sử dụng đất không hiệu quả, tranh gây lãng phí như hiện nay

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Để khắc phục tình trạng nhiều dự án đầu tư sau khi được giao đất, cho thuê đất nhưng không sử dụng, chậm đưa đất vào sử dụng, gây lãng phí đất đai, Luật đất đai năm 2013 đã bổ sung chế tài xử lý theo hướng chủ đầu tư được tiếp tục được gia hạn thêm 24 tháng và trong thời gian này chủ đầu tư phải nộp thêm một khoản tiền tương ứng với mức tiền sử dụng đất, tiền thuê đất trong thời gian này; sau 24 tháng được chậm tiến độ, nếu vẫn chưa đưa đất vào sử dụng thì Nhà nước sẽ thu hồi đất và không bồi thường.

Đồng thời, Luật cũng đưa ra các quy định để ngăn ngừa phát sinh mới các trường hợp dự án chậm triển khai, để lãng phí đất đai như: việc giao thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm để đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực của địa phương. Quy định điều kiện để được giao đất cho thuê đất bao gồm như chủ đầu tư phải có năng lực tài chính để đảm bảo việc sử dụng đất theo tiến độ ghi trong dự án đầu tư; phải ký quỹ theo quy định của pháp luật về đầu tư; không vi phạm các quy định của pháp luật đất đai đối với trường hợp đang sử dụng đất do Nhà nước giao đất, cho thuê đất để thực hiện dự án đầu tư khác.

Các quy định này nếu triển khai tốt trong thực tiễn cũng sẽ hạn chế được tình trạng chậm đưa đất vào sử dụng, gây lãng phí đất đai.



14. Cử tri tỉnh Lạng Sơn kiến nghị: Đề nghị tiếp tục có giải pháp xử lý dứt điểm các vấn đề gây bức xúc trong nhân dân về thu hồi đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng hiện nay

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Pháp luật đất đai trước Luật đất đai năm 2013, bên cạnh những mặt tích cực và các thành tựu đạt được còn bộc lộ những mặt tồn tại, hạn chế về thu hồi đất đai, bồi thường, giải phóng mặt bằng như: giá đất bồi thường chủ yếu thực hiện theo bảng giá nên còn thấp so với giá đất thị trường dẫn đến chưa đảm bảo quyền lợi cho người có đất thu hồi; chưa có cơ chế giải quyết một cách rõ ràng, minh bạch, hài hòa về lợi ích giữa Nhà nước, người có đất bị thu hồi và nhà đầu tư; việc chuẩn bị phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư còn chưa được quan tâm đúng mức, nhất là phương án giải quyết việc làm cho người bị thu hồi đất; chưa coi trọng việc lập khu tái định cư chung cho các dự án tại địa bàn, một số khu tái định cư đã được lập nhưng chất lượng thấp chưa đảm bảo yêu cầu “có điều kiện phát triển bằng hoặc tốt hơn nơi ở cũ’...

Để khắc phục những tồn tại, bất cập nêu trên, Luật đất đai năm 2013 đã bổ sung nhiều quy định mới như: quy định rõ các trường hợp Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; quy định nguyên tắc bồi thường về đất, nguyên tắc hỗ trợ, nguyên tắc bồi thường thiệt hại về tài sản; quy định việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng, trường hợp không có đất để bồi thường thì bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi tại thời điểm quyết định thu hồi đất; quy định cụ thể điều kiện được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đối với các trường hợp phải di chuyển chỗ ở mà không còn nơi ở nào khác thì được bố trí tái định cư và ưu tiên bố trí tái định cư tại chỗ; nếu tiền bồi thường không đủ để mua một suất đất tái định cư tối thiểu thì được Nhà nước hỗ trợ tiền đủ để mua một suất tái định cư tối thiểu. Khu tái định cư tập trung phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền. Việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở hoặc cơ sở hạ tầng của khu tái định cư. Đồng thời, quy định người dân có thể tự mình hoặc thông qua các tổ chức đại diện thực hiện quyền giám sát và phản ánh các sai phạm trong tổ chức thực hiện bồi thường, giải phóng mặt bằng nhằm hạn chế các sai phạm trong tổ chức thực hiện thu hồi đất của cơ quan nhà nước.

15. Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: Đề nghị hỗ trợ địa phương về nhân lực, kinh phí, xây dựng phần mềm cho công tác cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu quản lý đất đai

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã triển khai tập huấn chuyên môn, nghiệp vụ và chuyển giao phần mềm về công tác cấp Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai cho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên cả nước. Đồng thời, đăng các phần mềm trên Trang thông tin điện tử của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Quản lý đất đai để các địa phương tiếp cận, sử dụng.

Về kinh phí cho công tác cấp Giấy chứng nhận và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai thực hiện theo quy định của Luật ngân sách. Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, rà soát nhu cầu khối lượng và kinh phí thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của các địa phương, trên cơ sở đó, phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét hỗ trợ cho các địa phương có khó khăn về kinh phí. Tuy nhiên, nguồn ngân sách từ Trung ương còn khó khăn do đó các địa phương cần quan tâm bố trí tối thiểu 10% nguồn thu từ đất thực hiện đo đạc, lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của địa phương.

Câu 16. Cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị: Đề nghị sớm có hướng dẫn cụ thể việc thực hiện các công trình đo đạc lập bản đồ địa chính, xử lý dữ liệu, hồ sơ chuyển tiếp theo Thông tư số 55/2013/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Hiện nay, Thông tư số 55/2013/TT-BTNMT ngày 30 tháng 12 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về thành lập bản đồ địa chính đã được thay thế bằng Thông tư số 25/2014/TT-BTNMT ngày 19 tháng 5 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về bản đồ địa chính. Trong đó, tại Điều 24 (quy định chuyển tiếp) đã quy định cụ thể việc thực hiện các công trình đo đạc lập bản đồ địa chính, xử lý dữ liệu, hồ sơ chuyển tiếp.



Câu 17. Cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị: Đề nghị hướng dẫn trình tự, nội dung lập kế hoạch sử dụng đất cấp huyện theo tinh thần Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 22/ 01/ 2014 của Thủ tướng Chính phủ

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Vấn đề cử tri phản ánh đã được quy định tại Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Thông tư này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17 tháng 7 năm 2014 và đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cổng thông tin điện tử Chính phủ.



Câu 18. Cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị: Đề nghị sớm ban hành hướng dẫn về quy trình, nội dung thực hiện điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất, lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm kỳ cuối

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Vấn đề cử tri phản ánh đã được Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành tại Thông tư số 29/2014/TT-BTNMT ngày 02 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết việc lập, điều chỉnh quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 17 tháng 7 năm 2014 (đã được đăng tải trên Cổng thông tin điện tử Bộ Tài nguyên và Môi trường, Cổng thông tin điện tử Chính phủ).



Câu 19. Cử tri tỉnh Lào Cai kiến nghị: Đề nghị tiếp tục quan tâm hỗ trợ kinh phí thực hiện Dự án tổng thể đo đạc địa chính, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chính quy cho các địa phương của tỉnh Lào Cai (trong đó có hỗ trợ kinh phí xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai chính quy tại huyện điểm đã được chọn Văn Bản)

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổng hợp, rà soát nhu cầu khối lượng và kinh phí thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của các địa phương, trên cơ sở đó, phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét hỗ trợ cho các địa phương có khó khăn về kinh phí. Tuy nhiên, nguồn ngân sách từ Trung ương còn khó khăn do đó các địa phương cần quan tâm bố trí tối thiểu 10% nguồn thu từ đất thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai của địa phương.



20. Cử tri tỉnh Long An kiến nghị: Đề nghị xem xét sửa đổi Nghị định số 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành Luật Đất đai, tại Khoản 3 Điều 103 có quy định “Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng, cho quyền sử dụng đất chuyên trồng lúa nước”, vì quy định như vậy sẽ gây khó khăn cho người dân đã không có đất sản xuất nông nghiệp cũng không được nhận chuyển nhượng

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã chỉ rõ “Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất”.

Thực hiện chủ trương này, Luật đất đai năm 2013 đã quy định tăng thời hạn sử dụng đất nông nghiệp lên 50 năm, thời hạn này chung cho tất cả các loại đất nông nghiệp và tăng hạn mức nhận chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp nhằm khuyến khích tích tụ đất đai phục vụ cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá. Mặt khác, để bảo đảm cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp có tư liệu sản xuất đảm bảo ổn định đời sống, bảo vệ an ninh lương thực quốc gia, đồng thời kế thừa quy định của pháp luật về đất đai trước đây, Luật đất đai năm 2013 đã quy định“Hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho quyền sử dụng đất trồng lúa” (Khoản 3 Điều 191).

21. Cử tri tỉnh Nghệ An kiến nghị: Đề nghị sửa đổi Nghị định số 64/1993/NĐ-CP là “các nhân khẩu nông nghiệp sinh từ ngày 30/4/1993 đến nay được chia đất sản xuất, nhân khẩu chết từ 01/5/1993 đến nay phải cắt”

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Pháp luật về đất đai năm 2003 đã quy định: khi hết thời hạn sử dụng đất, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối, sử dụng đất nông nghiệp do được Nhà nước giao, cho thuê, công nhận quyền sử dụng, nhận chuyển quyền sử dụng được tiếp tục sử dụng đất…trừ trường hợp bị Nhà nước thu hồi đất quy định tại các khoản 1, 4, 7, 8 và 11 Điều 38 của Luật đất đai; quy định này là kế thừa quy định của Luật đất đai năm 1993. Chủ trương tiếp tục giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân khi hết thời hạn và không chia lại đã được khẳng định nhất quán trong Luật đất đai qua các thời kỳ. Nay nếu đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao khi hết thời hạn sẽ là một sự thay đổi lớn về chính sách, gây mất ổn định và xáo trộn khu vực nông thôn.

Thực tế quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong thời gian qua đã có một bộ phận nông dân chuyển sang sản xuất phi nông nghiệp, tỷ lệ lao động nông nghiệp giảm dần qua các năm và theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 thì tỷ lệ lao động nông nghiệp sẽ tiếp tục giảm. Do vậy, việc điều chỉnh đất nông nghiệp để giải quyết nhu cầu có đất để sản xuất đối với người lao động nông nghiệp không phải là vấn đề bức xúc như giai đoạn trước đây.

Thực hiện chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, trong những năm qua nhiều địa phương đã thực hiện dồn điền, đổi thửa, quy hoạch lại đồng ruộng, thực hiện tích tụ, tập trung đất đai để sản xuất nông nghiệp hàng hóa. Việc chia lại ruộng đất sẽ xóa bỏ những thành quả đã thu được. Mặt khác, Luật đất đai cũng quy định người sử dụng đất có các quyền và thực tế nhiều trường hợp sau khi được giao đất đã thực hiện chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, tặng cho, thừa kế, góp vốn bằng quyền sử dụng đất; một số trường hợp Nhà nước đã thu hồi đất và người có đất bị thu hồi đã được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và đã tìm được việc làm mới.

Nghị quyết số19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về tiếp tục đổi mới chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại đã chỉ rõ “Không đặt vấn đề điều chỉnh lại đất nông nghiệp đã giao cho hộ gia đình và cá nhân, nhưng Nhà nước có chính sách phù hợp để đất nông nghiệp được người trực tiếp sản xuất nông nghiệp sử dụng với hiệu quả cao nhất”. Thể chế hóa Nghị quyết của Đảng, Luật đất đai năm 2013 (Điều 126) tiếp tục quy định khi hết thời hạn, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp nếu có nhu cầu thì được tiếp tục sử dụng đất theo thời hạn quy định của pháp luật.

22. Cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị: Cử tri đề nghị khi ban hành văn bản hướng dẫn Luật đất đai năm 2013, cần quan tâm đến việc hạn chế tình trạng quy hoạch treo đang còn gây nhiều bức xúc trong nhân dân hiện nay. Việc quy hoạch cần phải có thời hạn cụ thể, nếu quá thời hạn quy hoạch mà chưa thực hiện được thì người dân được tiếp tục thực hiện các quyền trên thửa đất của mình. Đồng thời, việc thu hồi đất phải điều chỉnh cho thật phù hợp chỉ thu hồi đủ diện tích để xây dựng công trình phúc lợi, công trình công cộng, tránh tình trạng thu hồi với diện tích lớn nhưng chỉ sử dụng một phần diện tích nhỏ vào mục đích công cộng, an ninh quốc phòng, phần lớn diện tích còn lại là phân lô để giao đất có thu tiền sử dụng đất để trục lợi

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2014, đã có những quy định chặt chẽ về quy hoạch, giao đất, cho thuê đất nhằm hạn chế xảy ra tình trạng như phản ánh của cử tri, cụ thể:

- Quy định việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện để đảm bảo phù hợp với khả năng đầu tư và huy động nguồn lực, khắc phục tình trạng quy hoạch treo, lãng phí đất đai.

- Quy định thời hạn đối với diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được công bố phải thu hồi để thực hiện dự án hoặc phải chuyển mục đích sử dụng đất mà sau 03 năm chưa có quyết định thu hồi đất hoặc chưa được phép chuyển mục đích sử dụng đất thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất phải điều chỉnh, hủy bỏ và phải công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ việc thu hồi hoặc chuyển mục đích đối với phần diện tích đất ghi trong kế hoạch sử dụng đất. Trường hợp cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt kế hoạch sử dụng đất không điều chỉnh, hủy bỏ hoặc có điều chỉnh, hủy bỏ nhưng không công bố việc điều chỉnh, hủy bỏ thì người sử dụng đất không bị hạn chế về quyền;

- Để đảm bảo quyền lợi cho người sử dụng đất, Khoản 2 và Khoản 3 Điều 49 Luật Đất đai 2013 quy định trường hợp quy hoạch sử dụng đất đã được công bố mà chưa có kế hoạch sử dụng đất hàng năm cấp huyện thì người sử dụng đất được tiếp tục sử dụng và được thực hiện các quyền của người sử dụng đất theo quy định của pháp luật; trường hợp đã có kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện thì người sử dụng đất trong khu vực phải chuyển mục đích sử dụng đất và thu hồi đất theo kế hoạch được tiếp tục thực hiện các quyền của người sử dụng đất nhưng không được xây dựng mới nhà ở, công trình, trồng cây lâu năm.

23. Cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị: Cử tri đồng tình với nội dung quy định về hạn mức giao đất nông nghiệp được quy định trong Luật đất đai (sửa đổi) vừa được Quốc hội thông qua (không quá 03 ha cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thuộc khu vực Đông Nam Bộ và khu vực Đồng bằng sông Cửu Long và không quá 02 ha cho mỗi loại đất đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương khác). Tuy nhiên, thực tế có nhiều trường hợp nông dân đã khai hoang đất sản xuất từ trước năm 1975 và sử dụng liên tục từ đó đến nay với diện tích đất lớn hơn hạn mức giao đất nêu trên. Nếu chỉ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trong hạn mức 02 hoặc 03 ha, số còn lại Nhà nước quản lý (cho thuê đất) thì nông dân sẽ không chấp nhận, không làm Giấy chứng nhận vì khi Nhà nước thu hồi đất thì chỉ được bồi thường đất trong hạn mức, số diện tích ngoài hạn mức (mặc dù là đất được nông dân khai hoang và đang sử dụng) thì Nhà nước không bồi thường, từ đó gây ra rất nhiều thiệt thòi cho nông dân. Từ thực tế nêu trên, cử tri kiến nghị khi ban hành văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai (sửa đổi) cần hướng dẫn thực hiện trường hợp nêu trên theo hướng: Đối với đất nông nghiệp đã khai hoang từ trước năm 1993 và đang tiếp tục sử dụng ổn định thì không áp dụng hạn mức giao đất mà cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng hết số diện tích đất do nông dân đã khai hoang

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Vấn đề mà cử tri nêu đã được quy định tại Khoản 4 Điều 22 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, theo đó, hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất nông nghiệp do tự khai hoang mà đất đó phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, không có tranh chấp thì được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất theo hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định; nếu vượt hạn mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định thì diện tích vượt hạn mức phải chuyển sang thuê đất.



24. Cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị: Theo quy định hiện hành, thủ tục để người dân nhận chuyển nhượng, tặng cho... quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì tất cả các thành viên trong hộ gia đình phải trực tiếp ký xác nhận trước mặt công chứng viên tại phòng công chứng. Cử tri cho rằng, quy định như trên đang gây nhiều khó khăn cho người dân, việc tập trung hết các thành viên trong hộ gia đình vào một thời điểm để đến phòng công chứng là rất khó, đặc biệt là các hộ dân đang sống tại vùng sâu, vùng xa hoặc có người đang đi làm ăn sinh sống ngoài tỉnh. Cử tri đề nghị cần nghiên cứu sửa đổi quy định trên theo hướng: khi người dân chuyển nhượng, tặng, cho... quyền sử dụng đất của hộ gia đình thì chỉ cần có văn bản đồng ý (có thể có xác nhận chữ kỹ của UBND cấp xã) của các thành viên trong gia đình là được, không cần tập trung hết các thành viên trong gia đình tại phòng công chứng

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Ý kiến của cử tri nêu đã được quy định tại Điều 64 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai, theo đó, hợp đồng, văn bản giao dịch về quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất của hộ gia đình phải được người có tên trên Giấy chứng nhận hoặc người được ủy quyền theo quy định của pháp luật về dân sự ký tên.



25. Cử tri tỉnh Sơn La kiến nghị: Đề nghị ban hành Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành về giá đất. Hiện nay, theo quy định của Luật đất đai 2013 thì: bảng giá đất được xây dựng định kỳ 5 năm một lần và công bố công khai vào ngày 01 tháng 01 của năm đầu kỳ; tuy nhiên để xây dựng bảng giá đất cho kỳ 5 năm và kịp thời công bố vào ngày 01/01/2015 thì chưa có văn bản nào hướng dẫn cụ thể để các địa phương có căn cứ tổ chức thực hiện

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Để hướng dẫn các địa phương xây dựng bảng giá đất (Bảng giá đất năm 2015), Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 36/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết phương pháp định giá đất; xây dựng, điều chỉnh bảng giá đất; định giá đất cụ thể và tư vấn xác định giá đất. Đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang khẩn trương hoàn thiện dự thảo Nghị định quy định về khung giá đất để trình Chính phủ xem xét, ban hành.



26. Cử tri tỉnh Sóc Trăng kiến nghị: Đề nghị xem xét, trình Thủ tướng Chính phủ bố trí nguồn vốn hỗ trợ cho tỉnh để triển khai công tác cấp Giấy chứng nhận và triển khai dự án xây dựng hệ thống hồ sơ địa chính và cơ sở dữ liệu đất đai tỉnh Sóc Trăng

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang tổng hợp, rà soát nhu cầu khối lượng và kinh phí thực hiện đo đạc lập bản đồ địa chính, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai năm 2014 của các địa phương. Trên cơ sở đó, phối hợp với Bộ Tài chính báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét hỗ trợ cho các địa phương có khó khăn về kinh phí.



27. Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị: Đề nghị quan tâm và cụ thể hóa quy định về chế độ, chính sách bồi thường, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất đối với việc triển khai và thi hành Luật Đất đai (sửa đổi)

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Ngay sau khi Luật đất đai năm 2013 được Quốc hội khóa XIII thông qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường khẩn trương hoàn thiện, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất; đồng thời, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã ban hành Thông tư số 37/2014/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2014 quy định chi tiết về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để để kịp thời hướng dẫn các nội dung về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi để thi hành Luật đất đai năm 2013 được triển khai đồng bộ, thống nhất tại các địa phương trong cả nước.



28. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri phản ánh, hiện nay một số nơi có đất nông trường không còn sử dụng, bỏ hoang hóa. Đề nghị thu hồi, có chính sách giao đất cho người dân chưa có đất để canh tác, tránh tình trạng lãng phí

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Để nâng cao hiệu quả quản lý, sử dụng đất của các nông, lâm trường (nay là các công ty nông, lâm nghiệp), Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12 tháng 3 năm 2014 về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp. Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 686/QĐ-TTg ngày 11 tháng 5 năm 2014 về Chương trình, kế hoạch của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 30-NQ/TW, trong đó yêu cầu Ủy ban nhân dân các tỉnh chỉ đạo các công ty nông, lâm nghiệp tiếp tục rà soát, lập, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất phù hợp với quy hoạch sử dụng đất và chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Xác định rõ diện tích các loại đất, sử dụng đúng mục đích từng loại đất. Đến năm 2015 hoàn thành việc chuyển giao đất và hồ sơ đất không có nhu cầu sử dụng, hiệu quả sử dụng thấp, hoang hoá, các trường hợp vi phạm pháp luật đất đai về địa phương quản lý, sử dụng. Kiên quyết thu hồi đất giao lại cho địa phương khi nông, lâm trường không có nhu cầu sử dụng, hoặc sử dụng không đúng mục đích. Các địa phương sau khi tiếp nhận đất phải tiến hành rà soát lại đối tượng sử dụng đất, diện tích của từng đối tượng đang sử dụng để thực hiện giao lại hoặc cho thuê theo hướng: ưu tiên giải quyết cho đồng bào dân tộc thiểu số ở địa phương không có đất hoặc thiếu đất sản xuất, người đang nhận giao khoán đất trực tiếp sản xuất được giao đất hoặc thuê đất; hộ, gia đình, cá nhân được tiếp tục sử dụng đất theo hình thức giao đất không thu tiền sử dụng đất hoặc thuê đất. Diện tích đất giao không thu tiền sử dụng đất cho hộ gia đình, cá nhân thuộc diện được miễn nộp tiền sử dụng đất phải căn cứ vào diện tích bình quân các hộ dân sử dụng đất của địa phương và phù hợp với quy định của Luật đất đai. Xác định giá trị tài sản nhà nước (vườn cây) trên đất theo giá thị trường tại thời điểm nhận giao, thuê để bán trả chậm cho hộ, gia đình, cá nhân được địa phương giao đất hoặc cho thuê đất.



29. Cử tri thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri đề nghị sớm có giải pháp để Luật đất đai (sửa đổi) đi vào cuộc sống, tạo điều kiện cho việc thu hồi đất thực hiện các dự án và bố trí tái định cư bảo đảm công bằng, đúng pháp luật

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Để bảo đảm cho Luật đất đai năm 2013 được triển khai, sớm đi vào cuộc sống khi Luật có hiệu lực, ngay sau khi Luật đất đai được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-TTg ngày 22 tháng 01 năm 2014 về thi hành Luật đất đai, trong đó giao trách nhiệm cụ thể cho các Bộ, ngành, cơ quan, địa phương triển khai thi hành Luật.

Chính phủ đã ban hành các Nghị định: số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai; số 44/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về giá đất; số 45/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2015 quy định về thu tiền sử dụng đất; số 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước và số 47/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất để hướng dẫn chi tiết thi hành Luật đất đai năm 2013.

Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, ban hành 10 Thông tư mà Luật đất đai và các Nghị định của Chính phủ giao Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định chi tiết để thi hành. Đồng thời, Bộ cũng đã có văn đề nghị Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương rà soát, ban hành các văn bản được giao để triển thi hành Luật đất đai năm 2013.



30. Cử tri tỉnh Yên Bái kiến nghị: Theo Luật đất đai hiện hành và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đất đai thì việc quy định hạn mức đất ở không quá 400m2 là chưa hợp lý. Bởi vì, đối với các hộ gia đình có diện tích đất ở do ông cha để lại lớn hơn hạn mức giao đất ở theo quy định thì khi cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, phần đất vượt hạn mức lại phải chuyển sang đất vườn tạp. Trong khi đó, đối với các hộ có đông con cháu khi tách hộ, chia đất và đề nghị cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lại phải chịu thuế chuyển mục đích sử dụng, gây khó khăn, tốn kém cho người dân. Đề nghị xem xét, đối với những trường hợp trên, nhằm tạo sự công bằng cho người dân

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 103 Luật đất đai và Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật đất đai thì diện tích đất ở được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất (công nhận quyền sử dụng đất) cho hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất ổn định từ trước ngày 01 tháng 7 năm 2004 mà không có một trong các loại giấy tờ quy định tại Điều 100 của Luật đất đai, Điều 18 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và không thuộc trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều 101 của Luật đất đai, Điều 23 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP được xác định theo hiện trạng sử dụng đất và theo mức do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định. Trường hợp thửa đất có vườn, ao lớn hơn hạn mức đất ở được công nhận tại địa phương và người sử dụng đất đề nghị cấp Giấy chứng nhận cho toàn bộ diện tích đất đang sử dụng là đất ở thì phải thực hiện nghĩa vụ tài chính về đất đối với diện tích không được công nhận là đất ở theo quy định tại Điều 6 của Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền sử dụng đất.



31. Cử tri các tỉnh An Giang, Hải Dương và thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị tập trung, tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường, xử lý nghiêm các trường hợp gây ô nhiễm môi trường để răn đe

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

1. Công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy định pháp luật về bảo vệ môi trường là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Bộ Tài nguyên và Môi trường, kết quả thanh tra, kiểm tra những năm gần đây như sau:

- Năm 2012: thanh tra, kiểm tra 429 cơ sở, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp (sau đây gọi chung là cơ sở); xử lý và đề nghị xử lý đối với 157 cơ sở vi phạm với tổng số tiền xử phạt là 32,7 tỷ đồng;

- Năm 2013: thanh tra, kiểm tra 506 cơ sở; đề nghị xử phạt đối với 335 cơ sở vi phạm với tổng số tiền xử phạt là 46,792 tỷ đồng;

- Năm 2014: trong 6 tháng đầu năm 2014 đã tiến hành thanh tra, kiểm tra đối với 388 cơ sở, xử lý đối với 221 cơ sở với tổng số tiền xử phạt gần 25,561 tỷ đồng.

Trong 6 tháng cuối năm 2014, Bộ Tài nguyên và Môi trường dự kiến sẽ tiếp tục thanh tra, kiểm tra đối với 260 cơ sở trên địa bàn các tỉnh, thành phố: Hưng Yên, Thái Bình, Điện Biên, Sơn La, Bình Định, Bình Thuận, Ninh Thuận, Quảng Bình, Quảng Trị, Đắc Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Lâm Đồng, Đồng Nai, Bình Dương và Thành phố Hồ Chí Minh.

Bên cạnh việc đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường trên phạm vi toàn quốc, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã xây dựng, trình Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2013/NĐ-CP ngày 14/11/2013 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường (thay thế Nghị định số 117/2009/NĐ-CP ngày 31/12/2009 của Chính phủ về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường). Nghị định số 179/2013/NĐ-CP quy định các hành vi vi phạm, hình thức xử phạt chính, bổ sung, tăng mức phạt cao nhất lên đến 2 tỷ đồng đối với một hành vi vi phạm của tổ chức nhằm nâng cao tính răn đe, để xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

2. Trong thời gian tới Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường tăng cường thanh tra, kiểm tra việc xả thải gây ô nhiễm, tăng cường chế tài xử lý đối với hành vi xả thải gây ô nhiễm bằng các hình thức mạnh như phạt tiền đến 2 tỷ đồng đối với một hành vi vi phạm của tổ chức, tạm đình chỉ hoạt động, cấm hoạt động hoặc buộc di dời theo quy định của pháp luật.



32. Cử tri các tỉnh An Giang, Hưng Yên, Long An, Sóc Trăng, Tiền Giang và thành phố Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về bảo vệ môi trường tại các Công ty, Xí nghiệp, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp, Khu chế xuất; xử lý nghiêm các doanh nghiệp vi phạm, kiên quyết tạm đình chỉ hoạt động hoặc cấm hoạt động theo quy định của pháp luật đối với các trường hợp vi phạm nghiêm trọng; thực hiện tốt việc công khai thông tin các doanh nghiệp vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

1. Trong thời gian vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường luôn quan tâm chỉ đạo, đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường thường xuyên phối hợp với Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, đặc biệt là vi phạm về xả thải gây ô nhiễm môi trường. Một số Công ty vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường điển hình trong thời gian qua đã bị phát hiện và xử lý nghiêm như: Công ty CPHH Vedan Việt Nam, Nhà máy bia Sài Gòn - Nghệ Tĩnh, Công ty Miwon Việt Nam, Công ty Tung Kuang,… và gần đây nhất là vụ việc của Công ty TNHH sản xuất cơ khí và dịch vụ Đại Phúc, Công ty cổ phần nguyên phụ liệu Dệt may Bình An thuộc Tổng Công ty Việt Thắng, KCN Dịch vụ Thủy sản Thọ Quang, KCN Liên Chiểu, Công ty TNHH giấy An Hòa, Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên xử lý và chế biến chất thải Phú Thọ,…. Các vụ việc nêu trên đã được xử lý triệt để, công khai thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng ở trung ương và địa phương.

2. Trong thời gian tới Bộ Tài nguyên và Môi trường sẽ tiếp tục phối hợp với Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường tăng cường thanh tra, kiểm tra việc xả thải gây ô nhiễm, đặc biệt là đối với các công ty, xí nghiệp, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu chế xuất; tăng cường chế tài xử lý đối với hành vi xả thải gây ô nhiễm bằng các hình thức mạnh như phạt tiền đến 2 tỷ đồng đối với một hành vi vi phạm của tổ chức, tạm đình chỉ hoạt động, cấm hoạt động hoặc buộc di dời theo quy định của pháp luật.

33. Cử tri các tỉnh Bình Dương, Gia Lai, Sóc Trăng, Tiền Giang kiến nghị: Hiện nay, Nhà nước có chủ trương hạn chế sử dụng và sản xuất túi ni lông nhưng chưa thực hiện nghiêm chỉnh. Để giảm tác hại của túi ni lông đối với môi trường, cử tri đề nghị có giải pháp đồng bộ, xử lý hiệu quả đối với chất thải rắn là túi ni lông; ban hành lộ trình việc cấm tuyệt đối việc sản xuất và sử dụng các loại túi ni lông khó phân hủy, đồng thời phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ nghiên cứu sản phẩm thay thế nhằm bảo vệ sức khỏe người dân

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Không thể phủ nhận vai trò tích cực của túi ni lông trong đời sống xã hội do tính tiện dụng và giá thành rẻ. Tuy nhiên, đó cũng chính là điểm yếu của việc sử dụng túi ni lông trong công tác bảo vệ môi trường khi một số người dân quá lạm dụng và thải bỏ bừa bãi, không chú trọng đến tái sử dụng, xử lý chất thải túi ni lông gây ảnh hưởng tới môi trường, cảnh quan và sức khỏe cộng đồng.

Trong thời gian qua, Nhà nước đã nỗ lực thực hiện các biện pháp để kiểm soát ô nhiễm môi trường từ việc sản xuất và sử dụng túi ni lông thông qua việc ban hành các chính sách, quy định nhằm hạn chế việc sản xuất và sử dụng túi ni lông khó phân hủy như: Luật thuế bảo vệ môi trường quy định túi ni lông khó phân hủy là một trong những đối tượng phải chịu thuế suất cao, từ 30.000 – 50.000 đồng/kg; Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 07/2012/TT-BTNMT ngày 04 tháng 7 năm 2012 quy định tiêu chí, trình tự, thủ tục công nhận túi ni lông thân thiện với môi trường; Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 582/QĐ-TTg ngày 11/4/2013 phê duyệt Đề án kiểm soát ô nhiễm môi trường do túi ni lông khó phân hủy trong sinh hoạt đến năm 2020.

Các văn bản nêu trên đều xác định rõ mục tiêu kiểm soát và hạn chế việc sử dụng túi ni lông khó phân hủy hướng đến năm 2025 giảm 85% khối lượng túi ni lông sử dụng tại các siêu thị và trung tâm thương mại so với năm 2010. Theo đó, các nhóm giải pháp thực hiện đồng bộ đã được đề xuất nhằm định hướng sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường như túi giấy, túi vải, túi ni lông có khả năng tự phân hủy sinh học, túi ni lông có thể tái sử dụng, tái chế được…, hướng tới việc tạo ra thị trường cho các sản phẩm thay thế túi ni lông khó phân hủy đang được sử dụng hiện nay. Thực tế trên thị trường, một số hệ thống siêu thị lớn cũng đang thực hiện chủ trương của nhà nước về việc sử dụng túi ni lông được cấp giấy chứng nhận thân thiện với môi trường như Co-opmart, Big C, Lotte Mart, Ocean Mart, Maxi Mart… Tuy nhiên, việc sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường tại các chợ dân sinh (chiếm tỷ trọng tương đối lớn khoảng 60%) còn hạn chế.

Như vậy, vấn đề kiểm soát triệt để việc sử dụng túi ni lông khó phân hủy tại các chợ dân sinh, tiến tới cấm sản xuất túi ni lông khó phân hủy là cần thiết, tuy nhiên đòi hỏi cần có thời gian để tạo lập thói quen tiêu dùng túi thân thiện với môi trường cho cộng đồng hoặc thị trường.

Thời gian qua, thực hiện mục tiêu và chủ trương của Nhà nước, các Bộ, ngành, địa phương đã triển khai thực hiện và đạt một số kết quả nhất định. Đến năm 2014, Bộ Công Thương đã triển khai thực hiện chương trình phát triển sản xuất các sản phẩm thay thế túi ni lông khó phân hủy, một số doanh nghiệp đã sản xuất và đăng ký công nhận túi thân thiện với môi trường theo quy định tại Thông tư số 07/2012/TT-BTNMT. Các loại túi ni lông đạt tiêu chí thân thiện với môi trường và được cấp giấy chứng nhận sẽ được miễn nộp thuế bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, tiêu chuẩn đánh giá túi ni lông thân thiện với môi trường, xử lý chất thải túi ni lông khó phân hủy đã và đang được rà soát để bổ sung, hoàn thiện, các phòng thử nghiệm xác định túi ni lông thân thiện với môi trường từng bước được đầu tư hơn nữa. Hoạt động tuyên truyền, nâng cao nhận thức cộng đồng, hạn chế sử dụng túi ni lông khó phân hủy và khuyến khích sản xuất, sử dụng túi thân thiện với môi trường được đẩy mạnh hơn tại các địa phương.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp, thị trường tiêu dùng túi thân thiện với môi trường đang dần được hình thành và việc thực hiện cấm sử dụng túi ni lông khó phân hủy theo lộ trình tăng sản xuất và tiêu dùng túi thay thế sẽ sớm được thực hiện.

34. Cử tri các tỉnh Hà Nam, Hải Dương kiến nghị: Đề nghị khắc phục tình trạng buông lỏng trong việc quản lý môi trường đối với khu vực khai thác khoáng sản, đã gây ảnh hưởng tới đời sống nhân dân

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

1. Công tác quản lý về bảo vệ môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản được Bộ Tài nguyên và Môi trường đặc biệt quan tâm. Bộ luôn chỉ đạo các đơn vị thuộc Bộ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản nghiêm túc thực hiện các quy định về bảo vệ môi trường trong Luật khoáng sản, Luật bảo vệ môi trường. Hàng năm, Bộ tiến hành các đoàn thanh tra, kiểm tra công tác bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động khoáng sản. Việc thanh tra, kiểm tra tập trung vào các hành vi như: tuân thủ nội dung báo cáo đánh giá tác động môi trường, Đề án cải tạo, phục hồi môi trường được phê duyệt; công tác quản lý chất thải, chất thải nguy hại; hành vi xả nước thải đối với các loại hình khai thác khoáng sản kim loại, khoáng sản có tính phóng xạ, độc hại; công tác ký quỹ và cải tạo, phục hồi môi trường.

Để đẩy mạnh trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản đối với công tác cải tạo, phục hồi môi trường, Bộ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 18/2013/QĐ-TTg ngày 29/3/2013 về cải tạo, phục hồi môi trường và ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản (Quyết định này thay thế Quyết định số 71/2008/QĐ-TTg ngày 29/5/2008 của Thủ tướng Chính phủ).

Triển khai Nghị quyết số 35/NQ-CP ngày 18/3/2013 của Chính phủ về một số vấn đề cấp bách trong lĩnh vực bảo vệ môi trường, Bộ đang xây dựng quy chế bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác và chế biến khoáng sản; hoàn thiện các văn bản quy định về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản.

2. Trong thời gian tới, Bộ sẽ phối hợp với các địa phương tiếp tục tăng cường công tác quản lý, xử lý các hành vi gây ô nhiễm môi trường. Bộ sẽ tiếp tục xây dựng, hoàn thiện, trình Chính phủ Nghị định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường (theo quy định của Luật bảo vệ môi trường năm 2014). Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra của Bộ và các địa phương để kịp thời xử lý các hành vi vi phạm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường trong hoạt động khoáng sản.

35. Cử tri tỉnh Hà Nam và thành phố Hà Nội kiến nghị: Cử tri tiếp tục kiến nghị tăng cường công tác điều hành và quản lý môi trường, đặc biệt là vấn đề giải quyết dứt điểm tình trạng ô nhiễm môi trường sông Đáy và sông Nhuệ

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

1. Nhằm giải quyết triệt để vấn đề ô nhiễm môi trường tại các lưu vực sông, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt 03 Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông: sông Cầu, sông Nhuệ - sông Đáy và hệ thống sông Đồng Nai. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chủ trì, phối hợp với Chủ tịch Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trên các lưu vực sông chỉ đạo, đôn đốc và tổ chức thực hiện các Đề án này. Bộ đã xây dựng và trình Thủ tướng Chính phủ thành lập 03 Ủy ban bảo vệ môi trường lưu vực sông, gọi tắt là Ủy ban sông Cầu, Ủy ban sông Nhuệ - sông Đáy và Ủy ban sông Đồng Nai. Các Ủy ban này đã hoạt động, thực hiện chức năng chỉ đạo, điều phối được quy định thông qua các Phiên họp toàn thể. Để giúp việc cho các Ủy ban, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng đã quyết định thành lập Văn phòng Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông đặt tại Tổng cục Môi trường thuộc Bộ.

Hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường, với tư cách là cơ quan được Thủ tướng Chính phủ giao đầu mối chủ trì việc thực hiện Đề án tổng thể sông Nhuệ - sông Đáy đã chủ trì, phối hợp với các địa phương và Bộ, ngành nỗ lực đưa ra các giải pháp, kế hoạch triển khai Đề án. Các địa phương trong lưu vực sông đã ý thức được trách nhiệm của mình và đã đề xuất Kế hoạch triển khai Đề án sông Nhuệ - sông Đáy cho địa phương mình. Các Bộ, ngành cũng đã có những nhiệm vụ, dự án triển khai trên sông Nhuệ - sông Đáy. Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy và thực hiện các nội dung của Đề án, Bộ Tài nguyên và Môi trường, các tỉnh, thành phố trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy đã đẩy mạnh hoạt động tuyên truyền nâng cao nhận thức bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhụê - sông Đáy, đưa công tác bảo vệ môi trường tới cấp cơ sở; đã tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, kiên quyết xử lý vi phạm đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường; đã cơ bản hoàn thành việc xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/2003/QĐ-TTg ngày 22/4/2002 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt kế hoạch xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, quan trắc giám sát thường xuyên chất lượng nước sông, tăng cường hợp tác quốc tế hỗ trợ xử lý ô nhiễm và cải thiện môi trường lưu vực sông. Định kỳ hàng năm, Bộ Tài nguyên và Môi trường đều có văn bản báo cáo Thủ tướng Chính phủ về tình hình triển khai Đề án bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy.

2. Trong thời gian tới, nhằm khắc phục và ngăn chặn có hiệu quả hơn nữa tình hình ô nhiễm môi trường nước các lưu vực sông nói chung và lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy nói riêng, Bộ tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

- Cập nhật thống kê, quản lý và kiểm soát chặt chẽ các nguồn thải trên lưu vực sông; khẩn trương xây dựng, thực hiện các dự án đầu tư thu gom xử lý nước thải của các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, chất thải nông thôn, chương trình khắc phục ô nhiễm môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy;

- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy;

- Xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy; đánh giá ngưỡng chịu tải; quan trắc định kỳ, xây dựng cơ sở dữ liệu quan trắc môi trường nước...

- Xây dựng cơ chế tài chính đặc thù cho công tác bảo vệ môi trường lưu vực sông, đưa nội dung triển khai Đề án tổng thể bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy vào Chương trình mục tiêu quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1206/QĐ-TTg ngày 02 tháng 9 năm 2012 về việc Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường giai đoạn 2012 - 2015.

Bộ Tài nguyên và Môi trường tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Bảo vệ môi trường lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, các Bộ và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trên lưu vực tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra về bảo vệ môi trường; triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường trong năm 2014 trên lưu vực sông Nhuệ - sông Đáy, cụ thể: đẩy nhanh tiến độ triển khai xử lý ô nhiễm làng nghề tại tỉnh Hà Nam (Làng nghề dệt nhuộm Nha Xá), xử lý ô nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật tại Nam Định. Phối hợp với Ủy ban nhân dân thành phố Hà Nội tiếp tục triển khai Dự án xử lý nước thải Cầu Ngà và Dự án xử lý nước thải sinh hoạt Xã Xuân Phương, huyện Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội.

36. Cử tri tỉnh An Giang kiến nghị: Đề nghị có chính sách đãi ngộ đối với cán bộ môi trường ở cơ sở

Trả lời: Tại công văn số 3662/BTNMT-PC ngày 28/8/2014

Tại khoản 1, mục III của Kết luận số 23-KL/TW ngày 29 tháng 5 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về “Một số vấn đề về tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020” Ban Chấp hành Trung ương yêu cầu Bộ Chính trị chỉ đạo Ban Cán sự đảng Chính phủ khẩn trương bổ sung, sửa đổi một số chính sách cần và có thể điều chỉnh ngay nhằm sớm khắc phục các bất hợp lý trong chính sách tiền lương hiện hành, như: tiếp tục điều chỉnh mức lương tối thiếu; chưa bổ sung các loại phụ cấp theo ngành, nghề. Do đó, Bộ tạm dừng xây dựng các chính sách, chế độ đãi ngộ, ưu đãi cho công chức, viên chức và người lao động thuộc ngành tài nguyên và môi trường, trong đó có cán bộ môi trường ở cơ sở. Sau khi Đề án cải cách chính sách tiền lương đến năm 2020 được phê duyệt, Bộ sẽ xây dựng các chính sách đãi ngộ, ưu đãi đối với công chức, viên chức, người lao động của Ngành (kể cả cán bộ môi trường ở cơ sở) theo yêu cầu của Đề án.

Tuy nhiên, để bảo đảm chế độ, chính sách cho người lao động trong ngành tài nguyên và môi trường, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 5 năm 2007 quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước và Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 47/2011/QĐ-TTg ngày 22 tháng 8 năm 2011 quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề khí tượng thủy văn thuộc ngành tài nguyên và môi trường, trong đó có cán bộ quan trắc, đo đạc môi trường không khí và nước. Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Thông tư số 41/2014/TT-BTNMT ngày 24 tháng 7 năm 2014 quy định chế độ phụ cấp trách nhiệm công việc, phụ cấp lưu động và phụ cấp độc hại, nguy hiểm đối với viên chức quan trắc tài nguyên môi trường; điều tra cơ bản tài nguyên nước và phối hợp với Bộ Tài chính ban hành Thông tư liên tịch số 70/2008/TTLT-BTC-BTNMT ngày 24 tháng 7 năm 2008 của Bộ Tài chính - Bộ Tài nguyên và Môi trường hướng dẫn kinh phí hoạt động của tổ chức, bộ phận chuyên môn, cán bộ phụ trách về bảo vệ môi trường và kinh phí thực hiện hợp đồng lao động theo Nghị định số 81/2007/NĐ-CP ngày 23 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ quy định tổ chức, bộ phận chuyên môn về bảo vệ môi trường tại cơ quan nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Ngoài ra, Bộ đang xây dựng Thông tư quy định tiêu chuẩn, điều kiện, nội dung, hình thức thi, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp đối với viên chức ngành tài nguyên và môi trường; Thông tư liên tịch của Bộ Tài nguyên và Môi trường với Bộ Nội vụ quy định tiêu chuẩn, nghiệp vụ các chức danh nghề nghiệp viên chức của ngành tài nguyên và môi trường cho 08 lĩnh vực của ngành và Bộ sẽ tổ chức thi, xét thăng hạng chức danh nghề nghiệp viên chức cho toàn bộ viên chức của ngành sau khi các Thông tư nêu trên có hiệu lực thi hành để đảm bảo quyền lợi cho công chức, viên chức và người lao động.




1   ...   28   29   30   31   32   33   34   35   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương