KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang22/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 8062/BCT-KH ngày 20/8/2014

Theo các nội dung phản ảnh của Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai tại Văn bản số 658/ĐĐBQH-CTĐB ngày 16 tháng 5 năm 2014 về việc đề nghị giải quyết dứt điểm các vấn đề tồn đọng liên quan đến công tác đền bù, hỗ trợ, tái định cư và các nội dung liên quan khác của Dự án thuỷ điện An Khê - Ka Năk, Bộ Công Thương đã có Văn bản số 4980/BCT-TCNL ngày 06 tháng 6 năm 2014 yêu cầu Tập đoàn Điện lực Việt Nam khẩn trương thực hiện giải quyết dứt điểm những vướng mắc, tồn đọng trong công tác bồi thường, tái định cư Dự án thuỷ điện An Khê - KaNak. Đồng thời, Bộ Công Thương đã có Văn bản số 5030/BCT-TCNL ngày 09 tháng 6 năm 2014 gửi Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Gia Lai thông báo về các nội dung tồn đọng nêu trên đã được Chủ đầu tư (Tập đoàn Điện lực Việt Nam) giải quyết, các nội dung còn lại Chủ đầu tư đang phối hợp với các cấp chính quyền địa phương để giải quyết.

1. Các nội dung tồn tại về đất đã và đang được Chủ đầu tư giải quyết

- Thu hồi, bồi thường, hỗ trợ đất trên cos ngập hồ chứa KaNak:

+ Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã thực hiện và chi trả tiền bồi thường về đất và tài sản trên đất cho 131 hộ thuộc diện tái định cư với diện tích thu hồi là 278 ha theo phương án phê duyệt của Uỷ ban nhân dân huyện Kbang là 14.175 triệu đồng.

+ Về diện tích đất còn lại 166,97 ha của 126 hộ dân bị ảnh hưởng không thuộc diện tái định cư (xâm canh): Đã phê duyệt phương án bồi thường là 18 tỷ đồng, sẽ thực hiện chi trả trong quý III năm 2014;

+ Đang thực hiện lập hồ sơ thủ tục trình phê duyệt chính sách hỗ trợ thu hồi đất, dự kiến hoàn thành trong tháng 6, chi trả tiền trong quý III năm 2014.

- Việc chi trả tiền chênh lệch về đất sản xuất nông nghiệp giữa nơi đi và nơi đến đối với các hộ trong diện tái định canh: Tập đoàn Điện lực Việt Nam đang phối hợp với chính quyền địa phương lập phương án tính giá trị còn lại được nhận cho các hộ dân và trình Uỷ ban nhân dân tỉnh Gia Lai phê duyệt, dự kiến chi trả trong quý III năm 2014.

- Bàn giao đất tái định canh còn thiếu cho các làng Groi, Krối: Giải quyết tiền hỗ trợ khai hoang 92 ha đất theo phương án phê duyệt của Uỷ ban nhân dân huyện Kbang để chia cho 92 hộ dân (mỗi hộ 1 ha) với số tiền 1,472 tỷ đồng. Chủ đầu tư đang trình cấp vốn để chi trả cho các hộ dân. Đối với các hộ dân thuộc Làng Krối 1, giải quyết hỗ trợ 51 triệu đồng chi phí cải tạo đất, diện tích còn thiếu 7,6 ha ruộng do đất xấu nên hoán đổi chia 15,92 ha đất nương rẫy đã thu hồi, bồi thường và tiến hành chia cho dân.

2. Việc mở đường vào các khu sản xuất: Chủ đầu tư đã phối hợp với Uỷ ban nhân dân thị xã An Khê thống nhất phương án thiết kế, đang hoàn thiện thủ tục, hồ sơ trình duyệt để thực hiện trong quý III năm 2014.

3. Một số tuyến đường nội đồng bị tuyến kênh chia cắt: Chủ đầu tư đã thực hiện xong và bàn giao cho địa phương sử dụng 2 tuyến đường từ tỉnh lộ 669 vào khu sản xuất xã Xuân An và nâng cấp một số tuyến đường phục vụ sinh hoạt và sản xuất của người dân.

4. Về duy trì dòng chảy tối thiểu sau đập An Khê về hạ du sông Ba để đảm bảo đời sống sản xuất và sinh hoạt của người dân vùng hạ du

Từ khi tích nước hồ An Khê, Ban quản lý dự án thuỷ điện 7 đã xả nước cho hạ du theo quy định tại Báo cáo Đánh giá tác động môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt tại Quyết định số 108/QĐ-BTNMT ngày 29 tháng 01 năm 2007; Văn bản số 902/BTNMT-PC ngày 19 tháng 3 năm 2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường và Thông báo kết luận của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai số 82/TB-UBND ngày 17 tháng 5 năm 2011 tối thiểu là 4 m3/s.

Trong quá trình vận hành, Ban quản lý dự án thuỷ điện 7 đã phối hợp xả nước >50 m3/s trong khoảng thời gian từ 1 đến 2 giờ sáng khi có yêu cầu của thị xã để chống ô nhiễm môi trường.

Hiện tại, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 1077/QĐ-TTg ngày 07 tháng 7 năm 2014 về việc ban hành quy trình vận hành liên hồ chứa trên lưu vực sông Ba. Công ty thủy điện An Khê – KaNak sẽ thực hiện việc xả nước về hạ du sông Ba sau đập An Khê theo đúng quy định.

12. Cử tri tỉnh Nghệ An kiến nghị: Đề nghị Bộ Công Thương chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) tăng cường công tác quản lý nhân viên, nâng cao trách nhiệm phục vụ nhân dân, không để xảy ra việc gây khó dễ, tiêu cực, vòi tiền các hộ gia đình khi lắp đặt công tơ.

Trả lời: Tại công văn số 8059/BCT-KH ngày 20/8/2014

Trong thời gian qua, dư luận, báo chí phản ánh tình trạng nhân viên ngành điện gây khó dễ, tiêu cực, vòi tiền các hộ gia đình khi ký hợp đồng sử dụng điện, lắp đặt công tơ xảy ra ở một số đơn vị trực thuộc Công ty Điện lực Nghệ An, các cơ quan chức năng đã tiến hành các cuộc điều tra, xác minh để xử lý nghiêm các đơn vị, cá nhân vi phạm, cụ thể:

- Năm 2013, ông Phan Ngọc Hoa, Tổ trưởng Tổ dịch vụ bán lẻ điện năng nông thôn xã Khánh Thành, huyện Yên Thành có hành vi nhũng nhiễu, tiêu cực đối với các khách hàng có nhu cầu sử dụng điện, thu tiền của khách hàng sai quy định và tự ý lắp công tơ cho khách hàng trên lưới điện thuộc Điện lực Yên Thành quản lý. Điện lực Yên Thành đã chấm dứt hợp đồng dịch vụ đối với ông Phan Ngọc Hoa.

- Tháng 4 năm 2014, ông Phan Văn Hóa, tổ dịch vụ điện năng xã Thanh Chi và ông Nguyễn Mạnh Hà, nhân viên tổ giao dịch khách hàng Điện lực Thanh Chương có hành vi vòi vĩnh, sách nhiễu, thu tiền các hộ gia đình khi phát triển khách hàng mới. Sau khi vụ việc được phát giác, Điện lực Thanh Chương đã chấm dứt hợp đồng dịch vụ đối với ông Phan Văn Hóa, Công ty Điện lực Nghệ An đã kỷ luật cá nhân ông Nguyễn Mạnh Hà và Ban giám đốc, Trưởng phòng Kinh doanh Điện lực Thanh Chương.

- Tháng 4 năm 2014, ông Vi Văn Xuân, tổ dịch vụ điện năng xã Lượng Minh, huyên Tương Dương và ông Lê Văn Khánh công nhân Điện lực Tương Dương thu tiền của các hộ dân khi lắp đặt công tơ phát triển khách hàng mới. Các ngành chức năng đã xác minh và kết luận là có sai phạm, buộc ông Vi Văng Xuân phải trả lại khoản tiền chên lệch giá thiết bị điện cho 20 hộ dân. Sau khi sự việc được phát giác, Điện lực Tương Dương đã chấm dứt hợp đồng dịch vụ đối với ông Vi Văn Xuân, công ty Điện lực Nghệ An đã kỷ luật ông Lê Văn Khánh.

Như vậy, hiện tượng gây khó dễ, tiêu cực, vòi vĩnh, sách nhiễu các hộ gia đình khi lắp đặt công tơ phát triển khách hàng mới xảy ra ở Công ty Điện lực Nghệ An như báo chí nêu và phản ánh của cử tri là có thật, gây dư luận không tốt trong nhân dân làm ảnh hưởng đến uy tín của ngành điện. Một số đơn vị thuộc Công ty Điện lực Nghệ An đã thực hiện chưa đúng quy định trong công tác phát triển khách hàng mới.

Nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, xử lý những tiêu cực còn tồn tại nêu trên, trong năm 2013, Công ty Điện lực Nghệ An đã đưa vào hoạt động 21 Phòng Giao dịch khách hàng tại tất cả các Điện lực trực thuộc, thực hiện chế độ “một cửa” theo hướng đơn giản, công khai, minh bạch các thủ tục và giải đáp thắc mắc của khách hàng sử dụng điện; niêm yết công khai thủ tục cấp điện, giá bán điện, thông tin tiền điện và điều kiện, trình tự và thủ tục ngừng, giảm mức cung cấp điện; cập nhật thông tin thủ tục cấp điện trên website của Công ty; phát động phong trào thi đua “Phòng giao dịch kiểu mẫu”; ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, chấn chỉnh công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng; khảo sát để đưa ra những phân tích, đánh giá về mức độ hài lòng của khách hàng, từ đó, đề ra những giải pháp cải tiến để dịch vụ ngày càng hoàn thiện hơn; tuyên truyền, phổ biến trên các phương tiện truyền thông về thủ tục các dịch vụ ngành điện để khách hàng dễ tiếp cận và sử dụng; thường xuyên kiểm tra, xử lý các tập thể, cá nhân vi phạm.

Đối với ngành điện trong cả nước, trong thời gian qua, Tập đoàn Điện lực Việt Nam cũng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như: Xây dựng, hoàn thiện cơ sở pháp lý, ban hành các quy chế, quy định, Bộ quy trình kinh doanh điện năng, đẩy mạnh áp dụng công nghệ thông tin, hoàn thiện hệ thống quản lý thông tin khách hàng, mở rộng các kênh giao tiếp với khách hàng, thực hiện cơ chế “một cửa” trong giao dịch khách hàng để khách hàng dễ tiếp cận, dễ tham gia, dễ giám sát các dịch vụ về điện...

Với quan điểm coi khách hàng là trọng tâm, là động lực cho tiến trình đổi mới, năm 2013 được Tập đoàn Điện lực Việt Nam lựa chọn là “Năm kinh doanh và dịch vụ khách hàng” thông qua việc triển khai song song hai nhiệm vụ lớn nhằm thay đổi căn bản về nhận thức trong toàn Tập đoàn đối với công tác kinh doanh và dịch vụ khách hàng, dịch chuyển từ các chính sách và quy trình đối với khách hàng vốn hướng vào sự tiện lợi và giảm chi phí cho mình sang mục tiêu tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng. Nhiệm vụ thứ nhất là: Hoàn thành các chỉ tiêu kinh doanh và dịch vụ khách hàng theo Chỉ thị số 949/CT-EVN ngày 18 tháng 3 năm 2013 của Tổng giám đốc Tập đoàn, trong đó có 14 chỉ tiêu về chất lượng dịch vụ khách hàng. Nhiệm vụ thứ hai là: Thực hiện củng cố, nâng cao năng lực hoạt động của các Công ty Điện lực/Điện lực cấp quận, huyện theo Quyết định số 212/QĐ-EVN ngày 29 tháng 3 năm 2013 của Hội động thành viên Tập đoàn để tiến tới trở thành cấp quản lý trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư xây dựng, đồng thời có năng lực thực hiện nhiệm vụ vững vàng, đáp ứng nhanh các yêu cầu về điện của khách hàng trên địa bàn.

Với việc triển khai đồng bộ nhiều giải pháp nêu trên công tác dịch vụ khách hàng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng kể đem lại nhiều dịch vụ tiện ích và sự hài lòng cho khách hàng: Xây dựng và hoàn chỉnh 858 Phòng Giao dịch khách hàng tại các Công ty Điện lực/Điện lực cấp quận/huyện; Rút ngắn thời gian cấp điện mới xuống dưới 3 ngày đối với khu vực thành phố, thị xã, thị trấn và 5 ngày đối với khu vực nông thôn; Xử lý sự cố dưới 2 giờ; khách hàng có thể giao dịch các dịch vụ điện theo nhiều kênh khác nhau (đăng ký mua điện và tra cứu thông tin qua internet, thanh toán điện tử, nhắn tin SMS, hóa đơn điện tử...). Tuy nhiên vẫn còn một số tồn tại, chất lượng nhân viên tại một số đơn vị vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu công việc, cách ứng xử của một số nhân viên chưa chuyên nghiệp, chưa thật sự thân thiện và nhiệt tình với khách hàng, một số yêu cầu của khách hàng không được giải quyết, giải thích thấu đáo và kịp thời, gây bức xúc cho khách hàng, đặc biệt còn xảy ra hiện tượng tiêu cực, vòi vĩnh, gây khó dễ cho khách hàng.

Bộ Công Thương đã và đang tiếp tục chỉ đạo Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các Sở Công Thương các địa phương hoàn thiện các quy trình, quy định theo hướng đơn giản, minh bạch, công khai về thủ tục, rút ngắn thời gian giải quyết, tạo điều kiện thuận lợi, giảm phiền hà cho khách hàng; đẩy mạnh hơn nữa công tác tuyên truyền để khách hàng nắm vững quy định của pháp luật trong hoạt động điện lực, từ đó thực hiện tốt nghĩa vụ và tự bảo vệ quyền lợi của mình, đồng thời, giám sát việc thực hiện nhiệm vụ của nhân viên ngành điện theo đúng quy định.

13. Cử tri tỉnh Lâm Đồng kiến nghị: Đề nghị theo dõi sát sao quy trình xả lũ hồ Đa Nhim, tránh gây thiệt hại hoa màu cho người dân; đồng thời có biện pháp khơi thông dòng chảy, nạo vét dòng sông Đa Nhim.

Trả lời: Tại công văn số 8060/BCT-KH ngày 20/8/2014

Nhà máy Đa Nhim nằm giữa tỉnh Lâm Đồng và tỉnh Ninh Thuận. Đây là một trong những công trình thủy điện đầu tiên được xây dựng ở nước ta, thuộc bậc thang trên cùng, khai thác tiềm năng thủy điện của hệ thống sông Đồng Nai. Được khởi công xây dựng từ tháng 01 năm 1962 với sự tài trợ của Chính phủ Nhật Bản, Nhà máy có tổng công suất thiết kế lắp đặt là 160MW, gồm 4 tổ máy, sản điện lượng bình quân hằng năm khoảng 1 tỷ kWh.

Quy trình vận hành hồ chứa thuỷ điện Đa Nhim đã được Bộ Công Thương phê duyệt tại Quyết định số 4293/QĐ-BCT ngày 26 tháng 7 năm 2012.

Bộ Công Thương đã thường xuyên theo dõi và đôn đốc3 các Chủ hồ thủy điện về việc tăng cường quản lý vận hành hồ chứa thủy điện, yêu cầu thực hiện nghiêm ngặt các quy định trong quy trình vận hành đã được phê duyệt, kiên quyết xử lý những nhà máy thuỷ điện không thực hiện đúng quy trình vận hành đã được phê duyệt, trong trường hợp vi phạm nghiêm trọng, đề nghị chuyển sang cơ quan chức năng xử lý.

Tại Quyết định số 2046/QĐ-BCT ngày 10 tháng 3 năm 2014 của Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch hành động số thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện đã nêu rõ nhiệm vụ: “Thực hiện rà soát quy trình vận hành hồ chứa thủy điện, kịp thời điều chỉnh, bổ sung những nội dung chưa phù hợp nhằm hạn chế tối đa ảnh hưởng của xả lũ đối với hạ du”. Đây chính là nội dung các Chủ đầu tư phải tuân thủ thực hiện, cơ quản quản lý nhà nước các cấp có trách nhiệm theo dõi, giám sát thường xuyên. Bộ Công Thương đã và đang tổ chức các Đoàn công tác Liên Bộ, ngành thực hiện triển khai các nội dung rà soát kiểm tra việc thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ và Quyết định số 2046/QĐ-BCT của Bộ Công Thương trong đó có nội dung kiểm tra việc thực hiện quy trình vận hành hồ chứa của các Chủ đầu tư nói chung và của thuỷ điện Đa Nhim nói riêng.

14. Cử tri tỉnh Long An kiến nghị: Đề nghị kiên quyết loại bỏ, dừng các dự án, công trình thủy điện không hiệu quả, không bảo đảm an toàn, có ảnh hưởng xấu đến dòng chảy, môi trường và đời sống của người dân.

Trả lời: Tại công văn số 8038/BCT-KH ngày 20/8/2014

Tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa 13, Bộ Công Thương đã thừa ủy quyền Chính phủ báo cáo Quốc hội về quy hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành thủy điện, trong đó đã đánh giá những mặt tích cực, hiệu quả về kinh tế-xã hội và những mặt tiêu cực, tồn tại, vướng mắc trong quá trình đầu tư xây dựng thủy điện, đã rà soát đưa ra khỏi quy hoạch hơn 400 dự án.

Tại Quyết định số 2046/QĐ-BCT ngày 10 tháng 3 năm 2014 của Bộ Công Thương ban hành Kế hoạch hành động số thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 18 tháng 02 năm 2014 của Chính phủ về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện đã nêu rõ nhiệm vụ: Thực hiện rà soát quy hoạch thủy điện, kể cả các dự án tạm dừng có thời hạn, bảo đảm sử dụng tài nguyên nước hợp lý và bảo vệ môi trường - xã hội. Kiên quyết dừng, loại ra khỏi quy hoạch đối với các dự án được đánh giá không đảm bảo hiệu quả kinh tế, có ảnh hưởng lớn đến dân cư và tác động xấu đến môi trường. Thực hiện rà soát, chưa cấp hoặc thu hồi Giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực phát điện đối với các dự án đã hoàn thành xây dựng nhưng chưa thực hiện đủ các quy định pháp luật hiện hành về quản lý chất lượng công trình, an toàn đập, trồng rừng thay thế, quy trình vận hành hồ chứa, dịch vụ môi trường rừng, các yêu cầu về môi trường.

Thực hiện chỉ đạo của Bộ Công Thương, các đơn vị chức năng của Bộ đã và đang phối hợp với các địa phương tiếp tục rà soát, nhằm loại bỏ, dừng các dự án, công trình thủy điện không hiệu quả, không bảo đảm an toàn, có ảnh hưởng xấu đến dòng chảy, môi trường và đời sống của người dân.



15. Cử tri tỉnh Quảng Ninh kiến nghị: Đề nghị tiếp tục quan tâm, triển khai xây dựng đường dây cao áp 220kV Cẩm Phả - Hải Hà và đảo Cái Chiên, Trạm biến áp 220kV Hải Hà và cải tạo đường dây 110kV Tiên Yên – Hải Hà để phục vụ việc cung cấp điện cho các Khu công nghiệp cảng biển Hải Hà đã được khởi công, sắp tới sẽ có nhu cầu sử dụng điện lớn.

Trả lời: Tại công văn số 8042/BCT-KH ngày 20/8/2014

Thực hiện kết luận của Phó Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh theo Thông báo số 164/TB-VPCP ngày 21 tháng 4 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ, Bộ Công Thương đã có Công văn số 573/TCNL-KH&QH ngày 12 tháng 5 năm 2014 gửi Tập đoàn Điện lực Việt Nam yêu cầu báo cáo công tác chuẩn bị đầu tư đường dây 220kV Cẩm Phả – Hải Hà, trạm 220kV Hải Hà và cải tạo đường dây 110kV Tiên Yên – Hải Hà. Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã có Công văn số 1969/EVN-KH ngày 23 tháng 5 năm 2014 báo cáo Bộ Công Thương, cụ thể:

- Về việc xây dựng đường dây cao áp 220 kV Cẩm Phả- Hải Hà, trạm biến áp 220kV Hải Hà: Tập đoàn Điện lực Việt Nam đã có Văn bản số 1787/EVN-KH ngày 12 tháng 5 năm 2014 gửi Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc thực hiện Dự án trạm biến áp 220kV Hải Hà và đường dây 220kV Cẩm Phả - Hải Hà, trong đó, đề nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh hỗ trợ và tạo mọi điều kiện thuận lợi, đặc biệt về công tác đền bù, giải phóng mặt bằng trong quá trình triển khai dự án để Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia hoàn thành công trình sớm, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

Hiện nay, cả 2 Dự án đường dây cao áp 220 kV Cẩm Phả-Hải Hà và trạm biến áp 220kV Hải Hà thuộc danh mục các công trình cấp bách đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Văn bản số 897/TTg-KTN ngày 16 tháng 6 năm 2014. Tổng công ty Truyền tải điện quốc gia đã triển khai thực hiện, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi ngày 12 tháng 4 năm 2014. Hiện nay, cả 2 Dự án đều đã lựa chọn xong tư vấn và đang tiến hành thực hiện các bước khảo sát lập dự án đầu tư.

- Khu vực Móng Cái, Hải Hà được cung cấp điện qua đường dây 110kV Tiên Yên – Móng Cái. Theo Quy hoạch phát triển điện lực tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2011-2015, có xét đến 2020 đã được Bộ Công Thương phê duyệt, trong đó, đường dây 110kV Tiên Yên – Móng Cái được cải tạo, thay dây dẫn từ dây AC 120 thành dây siêu nhiệt có khả năng tải gấp đôi. Việc cải tạo, thay dây dẫn thành dây siêu nhiệt nhằm tận dụng hàng cột hiện có của đường dây 110kV Tiên Yên – Móng Cái, giảm chi phí đầu tư xây dựng mà vẫn đảm bảo cấp điện cho phụ tải trong giai đoạn 2014-2015 khi đường dây 220kV Cẩm Phả – Hải Hà và trạm 220kV Hải Hà chưa vào vận hành. Tuy nhiên, hiện nay đường dây 110kV Tiên Yên – Móng Cái đang được vận hành an toàn ổn định, việc nâng cấp, cải tạo đường dây thành dây siêu nhiệt sẽ do Tập đoàn Điện lực Việt Nam xem xét, cân đối phụ thuộc tình hình tăng trưởng phụ tải trong khu vực.

- Về việc hỗ trợ vốn đầu tư dự án cấp điện cho xã đảo Cái Chiên, huyện Hải Hà theo đề nghị của Ủy ban nhân tỉnh Quảng Ninh, Thủ tướng Chính phủ đã có chỉ đạo tại Văn bản số 4228/VPCP-KTN ngày 10 tháng 6 năm 2014 của Văn phòng Chính phủ, theo đó Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh làm việc với Bộ Công Thương để được hướng dẫn về việc nghiên cứu, tính toán lựa chọn phương án cấp điện phù hợp, hiệu quả nhất cho các xã đảo nêu trên của Tỉnh Quảng Ninh trong dự án cấp điện nông thôn, miền núi và hải đảo tỉnh Quảng Ninh 2014-2020, tổ chức thẩm định, phê duyệt và thực hiện dự án theo đúng quy định hiện hành. Hiện nay, Bộ Công Thương đang phối hợp với Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh thực hiện theo ý kiến chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ.



16. Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu và có báo cáo tổng kết đánh giá hiệu quả đạt được về mặt kinh tế - xã hội của các nhà máy thủy điện trong thời gian qua, trước khi tiếp tục đầu tư xây dựng các nhà máy thủy điện trong thời gian tới, như Nghị quyết kỳ họp thứ Sáu của Quốc hội khóa XIII đã biểu quyết thông qua.

Trả lời: Tại công văn số 8043/BCT-KH ngày 20/8/2014

Tại Nghị quyết số 62/2013/QH13 ngày 27 tháng 11 năm 2013, Quốc hội đã ghi nhận: các công trình thủy điện đã góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Các hồ thủy điện lớn đa mục tiêu đã góp phần cắt, giảm lũ, điều tiết lưu lượng, cấp nước phục vụ sinh hoạt, sản xuất và bảo vệ môi trường. Quá trình đầu tư xây dựng, vận hành khai thác các công trình thủy điện đã tạo nhiều việc làm cho người lao động, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng, vận hành khai thác công trình thủy điện còn nhiều hạn chế; chất lượng quy hoạch và quyết định đầu tư xây dựng nhiều công trình thủy điện, nhất là các công trình vừa và nhỏ chưa đáp ứng đầy đủ mục tiêu, yêu cầu về bảo đảm an toàn, bảo vệ môi trường, sử dụng hợp lý tài nguyên nước và hiệu quả tổng hợp kinh tế - xã hội. Tại một số công trình thủy điện, việc quản lý chất lượng xây dựng, bảo đảm an toàn vận hành khai thác, thực hiện quy trình vận hành hồ chứa, điều tiết nước chưa tuân thủ nghiêm quy định của pháp luật, gây tác động tiêu cực....

Ngày 10 tháng 3 năm 2014 Bộ Công Thương đã ban hành Kế hoạch hành động số 2046/QĐ-BCT thực hiện Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 11/NQ-CP về tăng cường công tác quản lý quy hoạch, đầu tư xây dựng và vận hành khai thác công trình thủy điện. Theo kế hoạch hành động này, Bộ Công Thương triển khai các nhiệm vụ chủ yếu sau:

- Thực hiện rà soát: Quy hoạch thuỷ điện; năng lực của các cơ quan tư vấn lập quy hoạch và thiết kế công trình thuỷ điện; đảm bảo chất lượng, an toàn công trình, tuân thủ các yêu cầu về môi trường; tuân thủ các quy định của pháp luật về đầu tư đối với các công trình thuỷ điện đang triển khai xây dựng; thực hiện quy trình vận hành hồ chứa; cấp hoặc thu hồi giấy phép hoạt động điện lực trong lĩnh vực thuỷ điện;

- Chủ trì thẩm tra, báo cáo Thủ tướng Chính phủ xem xét đầu tư, khởi công các Dự án thuỷ điện; thanh tra, kiểm tra, giám sát việc kiểm định, xử lý vi phạm về phòng chống lụt bão, an toàn đập, hồ chứa thuỷ điện; chỉ đạo xây dựng phương án phòng chống lũ, lụt cho vùng hạ du các hồ chứa thuỷ điện trên các lưu vực sông lớn trong trường hợp xả lũ khẩn cấp hoặc vỡ đập (trước mắt là khu vực miền Trung, Tây Nguyên);

- Tổ chức các Đoàn kiểm tra tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ tại các địa phương;

- Ban hành các Chỉ thị, văn bản chỉ đạo của Bộ trưởng Bộ Công Thương yêu cầu các địa phương và các đơn vị quản lý các nhà máy thủy điện tăng cường công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong mùa lũ; công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn; công tác cảnh báo trong vận hành hồ chứa và nhà máy thủy điện để đảm bảo an toàn cho vùng hạ du các nhà máy thủy điện; công tác quản lý vận hành hồ chứa thủy điện;

- Rà soát hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với các công trình thủy điện, đề xuất việc xây dựng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật về thủy điện;

- Xây dựng cơ chế tài chính đối với các nhà máy thủy điện vận hành cấp nước cho hạ du vào mùa khô theo yêu cầu sản xuất, sinh hoạt;

- Xây dựng tài liệu, tăng cường công tác thông tin tuyên truyền về vai trò của các công trình thủy điện, phổ biến quy hoạch thủy điện và công tác phòng chống bão lụt;

- Hàng năm tổng hợp báo cáo Chính phủ kết quả thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP và chuẩn bị báo cáo Quốc hội kết quả thực hiện Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội.

Bộ Công Thương cũng đã ban hành 4 Chỉ thị liên quan thủy điện: Chỉ thị số 07/CT-BCT ngày 28 tháng 3 năm 2014 về tăng cường công tác quản lý an toàn đập thủy điện trong mùa lũ 2014; Chỉ thị số 13/CT-BCT ngày 29 tháng 4 năm 2014 về công tác phòng, chống thiên tai, lụt, bão và tìm kiếm cứu nạn năm 2014; Chỉ thị số 15/CT-BCT ngày 13 tháng 5 năm 2014 về việc thực hiện công tác cảnh báo trong vận hành hồ chứa và nhà máy thủy điện để đảm bảo an toàn cho vùng hạ du các nhà máy thủy điện; Chỉ thị số 23/CT-BCT ngày 11 tháng 7 năm 2014 về tăng cường công tác quản lý vận hành hồ chứa thủy điện.

Ngoài việc ban hành Kế hoạch hành động và các văn bản chỉ đạo, đôn đốc nêu trên, Bộ Công Thương đã chủ trì và phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương tích cực thực hiện các nội dung theo yêu cầu của Nghị quyết số 11/NQ-CP, cụ thể như sau:

- Chủ trì (phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam) tổ chức Lễ phát động trồng rừng tại Nhà máy Thuỷ điện Sơn La ngày 22 tháng 3 năm 2014;

- Thực hiện thẩm định, phê duyệt phương án Phòng chống lụt bão, đảm bảo an toàn đập năm 2014 đối với các dự án thủy điện trên địa bàn cả nước;

- Tổ chức 4 Đoàn công tác đi làm việc và kiểm tra về quy hoạch, chất lượng xây dựng công trình, quy trình vận hành hồ chứa và các vấn đề liên quan đến lĩnh vực thuỷ điện trên địa bàn các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Quảng Nam, Phú Yên. Đoàn công tác đã đi kiểm tra tại hiện trường một số Dự án thuỷ điện, khu tái định cư của các Dự án thủy điện và đã tổ chức các cuộc họp với Ủy ban nhân dân các tỉnh và các Sở: Công Thương, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, Xây dựng, Tập đoàn Điện lực Việt Nam, các Chủ đập thủy điện trên địa bàn tỉnh;

- Đã phối hợp với sự chủ trì của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn dự thảo các Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện và Quy định về ổn định đời sống và sản xuất cho người dân sau tái định cư các dự án thủy lợi, thủy điện;

- Phối hợp với sự chủ trì của Bộ Tài nguyên và Môi trường xây dựng, góp ý Quy trình vận hành liên hồ chứa mùa lũ các lưu vực Sông Vu Gia - Thu Bồn, sông Ba, sông Hương, sông Kôn - Hà Thanh, sông Hồng, sông Mã, sông Cả, sông Trà Khúc và sông Đồng Nai, trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, phê duyệt;

- Chỉ đạo, triển khai thực hiện các Quyết định mới ban hành của Thủ tướng Chính phủ về Quy trình vận hành liên hồ chứa các lưu vực sông Vu Gia - Thu Bồn và Sông Ba.

Ngày 06 tháng 8 năm 2014, Bộ trưởng Bộ Công Thương Vũ Huy Hoàng đã chủ trì cuộc họp với sự tham dự của đại diện các Bộ: Xây dựng, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Tài nguyên và Môi trường, cùng lãnh đạo 38 tỉnh, thành phố có hồ đập thủy điện trong cả nước để đánh giá tình hình triển khai thực hiện Nghị quyết số 11/NQ-CP của Chính phủ, Nghị quyết số 62/2013/QH13 của Quốc hội. Tại cuộc họp, Bộ Công Thương và các Bộ, ngành và địa phương đã đánh giá hiệu quả và những tồn tại trong quá trình thực hiện, đưa ra các phương hướng để triển khai mạnh mẽ hơn nữa Nghị quyết số 11/NQ-CP trong thời gian tới và có Báo cáo tổng thể báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8, Quốc hội Khóa XIII.



17. Cử tri TP Hồ Chí Minh kiến nghị: Đề nghị làm rõ việc quản lý, sử dụng vốn, tài sản và các dự án đầu tư của Tập đoàn Điện lực Việt Nam liên quan đến việc xây hồ bơi, sân tennis,… nhưng lại tính chi phí vào giá thành bán điện; trong trường hợp có sai phạm xảy ra, đề nghị xử lý nghiêm.



1   ...   18   19   20   21   22   23   24   25   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương