KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang18/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 3341/BNV-ĐT ngày 19/8/2014

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọng việc học tập nâng cao trình độ của cán bộ, đảng viên. Người đã chỉ rõ: “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ. Học để phụng sự đoàn thể, giai cấp và nhân dân, Tổ quốc và nhân loại”. Người cũng dạy rằng “Việc học phải lấy tự học làm cốt” và cán bộ, đảng viên phải biết “tự động học tập”. Thấm nhuần tư tưởng của Hồ Chí Minh, Đảng ta khẳng định “học tập là công việc suốt đời của cán bộ, đảng viên”. Mọi cán bộ, đảng viên phải có kế hoạch thường xuyên để học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị, kiến thức và năng lực hoạt động thực tiễn. Học tập vừa là quyền lợi vừa là nghĩa vụ bắt buộc đối với mọi cán bộ, đảng viên và phải được quy định thành nền nếp, chế độ.

Triển khai Luật Cán bộ, công chức, Bộ Nội vụ đã xây dựng, tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 18/2010/NĐ-CP ngày 05/3/2010 của Chính phủ về đào tạo, bồi dưỡng công chức. Điều 4, Nghị định số 18/2010/NĐ-CP quy định về chế độ đào tạo, bồi dưỡng như sau:

1. Hướng dẫn tập sự đối với công chức trong thời gian tập sự.

2. Bồi dưỡng theo tiêu chuẩn ngạch công chức.

3. Đào tạo, bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, quản lý.

4. Bồi dưỡng bắt buộc tối thiểu kiến thức, kỹ năng chuyên ngành hàng năm (thời gian thực hiện là 01 tuần/01 năm; một tuần được tính bằng 05 ngày học, một ngày học 08 tiết).

Ngày 25/01/2011, Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư số 03/2011/TT-BNV hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 18/2010/NĐ-CP. Khoản 1, Điều 24 Thông tư quy định: “Việc cử công chức đi đào tạo sau đại học phải đáp ứng nhu cầu xây dựng, quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của cơ quan”.

Như vậy, công chức phải thực hiện các quy định về chế độ đào tạo, bồi dưỡng và phải đáp ứng yêu cầu về quy hoạch, kế hoạch phát triển nguồn nhân lực của cơ quan. Ngoài ra, công chức còn phải có trách nhiệm tự học tập, nâng cao trình độ, kiến thức, kỹ năng, đạo đức để hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Tuy nhiên, nhằm khuyến khích việc học tiếng dân tộc để phục vụ công tác, Chính phủ đã quy định chính sách hỗ trợ cán bộ, công chức công tác ở các huyện, xã nghèo tự học tiếng dân tộc. Cụ thể, Khoản 3, Điều 7 Thông tư liên tịch số 08/2011/TTLT-BNV-BTC của Bộ Nội vụ - Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện một số điều của Nghị định số 116/2010/NĐ-CP quy định: “Trường hợp tự học và sử dụng thành thạo tiếng dân tộc ít người ở địa phương (bao gồm cả người dân tộc ít người tự học và sử dụng tiếng dân tộc ít người khác) để phục vụ công tác chuyên môn của mình, được cơ quan quản lý có thẩm quyền cấp chứng chỉ hoặc xác nhận thì được hỗ trợ 01 lần tiền mua tài liệu và trợ cấp tiền bồi dưỡng cho việc tự học tiếng và chữ viết của người dân tộc ít người. Mức chi cụ thể do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định nhưng không quá 3.000.000 đồng/người đối với việc tự học 01 loại chữ viết và tiếng dân tộc ít người, không quá 5.000.000 đồng/người đối với việc tự học 02 loại chữ viết và tiếng dân tộc ít người”.



70. Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: Đề nghị nghiên cứu, sửa đổi bổ sung một số quy định liên quan đến cơ cấu tổ chức bộ máy của Sở Y tế, Phòng Y tế tại Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của Chính phủ quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh theo hướng: chuyển Trung tâm Y tế trực thuộc Phòng Y tế thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện để tạo điều kiện cho công tác quản lý chỉ đạo, điều hành. Vì hiện nay, trên cùng địa bàn huyện nhưng Phòng Y tế thuộc Ủy ban nhân dân huyện, Trung tâm Y tế thuộc Sở Y tế quản lý đã phát sinh nhiều bất cập, không thống nhất đầu mối quản lý lĩnh vực y tế trên địa bàn; thiếu sự phối hợp giữa hai cơ quan này trong việc thực hiện chế độ báo cáo, triển khai phòng, chống dịch bệnh, quản lý cơ sở y tế, vệ sinh an toàn thực phẩm…

Trả lời: Tại công văn số 2874/BNV-TCBC ngày 30/7/2014

Ngày 04/4/2014 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 24/2014/NĐ-CP quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi tắt là Nghị định số 24/2014/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05/5/2014 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi tắt là Nghị định số 37/2014/NĐ-CP) thay thế Nghị định số 14/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh.

Căn cứ Nghị định số 24/2014/NĐ-CP, Nghị định số 37/2014/NĐ-CP, trên cơ sở đánh giá việc thực hiện Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV và ý kiến của một số Đoàn đại biểu Quốc hội, hiện nay Bộ Nội vụ đang phối hợp với Bộ Y tế xây dựng, ban hành Thông tư liên tịch thay thế Thông tư liên tịch số 03/2008/TTLT-BYT-BNV cho phù hợp với quy định của pháp luật và thực tế của địa phương.

71. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Đề nghị Bộ sớm phúc đáp kết quả thẩm định đề nghị của tỉnh Gia Lai về biên chế số lượng giáo viên và số cán bộ y tế tăng thêm theo định mức quy định của Bộ Y tế, Bộ Giáo dục và Đào tạo.

Trả lời: Tại công văn số 2950/BNV-TCBC ngày 04/8/2014

Thực hiện Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị và Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 của Quốc hội về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014, nên về cơ bản giữ ổn định số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập của tỉnh đến năm 2016. Tuy nhiên, đối với đơn vị sự nghiệp giáo dục - đào tạo được thành lập mới, các đơn vị có số lớp học tăng thêm do tăng số học sinh, các đơn vị sự nghiệp y tế được thành lập mới, đơn vị có quy mô giường bệnh thực sử dụng tăng và đơn vị sự nghiệp khác thành lập mới theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, Bộ Nội vụ thấy cần thiết bổ sung số lượng người làm việc cho các đơn vị sự nghiệp công lập này để đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân. Căn cứ vào văn bản đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia Lai số 1359/UBND-NC ngày 22/4/2014 về việc xin ý kiến thẩm định số lượng người làm việc tăng thêm năm 2014, sau khi nghiên cứu, rà soát, Bộ Nội vụ đã có công văn số 2828/BNV-TCBC ngày 28/7/2014 về việc thẩm định số lượng người làm việc tăng thêm trong các đơn vị sự nghiệp công lập giáo dục - đào tạo và y tế của tỉnh Gia Lai năm 2014 để Hội đồng nhân dân tỉnh xem xét trước khi quyết định.



72. Cử tri tỉnh Lai Châu kiến nghị: Đề nghị sớm giao biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính và số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập cho tỉnh (vào tháng 11 hàng năm của năm trước liền kề) để Hội đồng nhân dân tỉnh phê duyệt cùng với việc phân bổ ngân sách hàng năm vào đầu tháng 12. Đề nghị phân cấp cho Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định tổng số người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp hàng năm theo mức quy định phù hợp với yêu cầu phát triển và khả năng ngân sách của địa phương, như vậy việc điều chỉnh, bổ sung số người làm việc cho các đơn vị sự nghiệp sẽ kịp thời hơn và đảm bảo phù hợp với quy định của Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân. Vì vậy, khi giao biên chế cho các địa phương, thì chỉ giao tổng số biên chế công chức, số biên chế tăng thêm trong năm và định hướng bố trí biên chế.

Trả lời: Tại công văn số 3007/BNV-TCBC ngày 06/8/2014

1. Về biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính

- Theo quy định tại Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức, chậm nhất là ngày 20 tháng 7 của năm trước liền kề các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gửi Bộ Nội vụ kế hoạch biên chế công chức hàng năm để tổng hợp trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Sau khi Thủ tướng phê duyệt tổng biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính nhà nước, Bộ Nội vụ giao biên chế công chức đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, trong đó có xác định rõ số biên chế công chức tăng thêm trong năm để bố trí cho các cơ quan, tổ chức được cấp có thẩm quyền bổ sung chức năng, nhiệm vụ hoặc thành lập mới nhằm bảo đảm việc quản lý, sử dụng biên chế công chức được hiệu quả.

Kế hoạch biên chế của năm 2014, Bộ Nội vụ đã tổng hợp, thẩm định, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định và giao biên chế công chức đến từng Bộ, ngành, địa phương vào tháng 11/2013 (Quyết định số 1819/QĐ-BNV ngày 28/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ giao biên chế công chức năm 2014 đối với Bộ, ngành; Quyết định số 1818/QĐ-BNV ngày 28/11/2013 của Bộ trưởng Bộ Nội vụ giao biên chế công chức năm 2014 đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương). Như vậy, năm 2014 việc giao biên chế công chức cho các địa phương hiện nay đã thực hiện như ý kiến, kiến nghị của cử tri.

2. Về số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập

Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 của Hội nghị lần thứ 7 Ban Chấp hành Trung ương đã định hướng "thống nhất quản lý chặt chẽ việc thành lập mới các đơn vị sự nghiệp công lập và số lượng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập".

Theo quy định tại Khoản 3 Điều 14 Nghị định số 41/2012/NĐ-CP ngày 08/5/2012 của Chính phủ quy định về vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập (sau đây gọi tắt là Nghị định số 41/2012/NĐ-CP), Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt tổng số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập sau khi có ý kiến thẩm định của Bộ Nội vụ. Việc quy định như trên vừa bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Tổ chức Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân năm 2003, vừa bảo đảm thực hiện đúng chủ trương của Đảng về thống nhất quản lý chặt chẽ số lượng viên chức ở các đơn vị sự nghiệp công lập theo Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở.

Tại Khoản 2 Điều 10 Nghị định số 41/2012/NĐ-CP cũng quy định chậm nhất là ngày 20/7 hàng năm, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi hồ sơ đề án vị trí việc làm trong đơn vị sự nghiệp công lập của năm tiếp theo và báo cáo tổng hợp về vị trí việc làm về Bộ Nội vụ. Sau khi nhận được đầy đủ hồ sơ của Ủy ban nhân dân tỉnh, Bộ Nội vụ có văn bản thẩm định để Ủy ban nhân dân tỉnh kịp thời trình Hội đồng nhân dân cùng cấp phê duyệt số lượng người làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập tại kỳ họp của Hội đồng nhân dân gần nhất.



73. Cử tri tỉnh Ninh Thuận kiến nghị: Nhiều ý kiến cử tri cho rằng, số cán bộ công chức hiện nay còn quá nhiều so với nhu cầu của công việc, từ đó gây nên gánh nặng rất lớn cho ngân sách nhà nước. Cử tri kiến nghị Chính phủ cần có giải pháp hiệu quả hơn nữa để tinh giảm bộ máy, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ, công chức nhằm phục vụ cho người dân được tốt hơn và giảm bớt được nguồn chi ngân sách nhà nước.

Trả lời: Tại công văn số 2825/BNV-TCBC ngày 01/8/2014

Ngày 28/7/2014, Bộ Nội vụ có tờ trình Chính phủ số 2825/TTr-BNV về việc ban hành Nghị định của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế. Khi Nghị định này được Chính phủ ban hành sẽ là giải pháp góp phần tinh giảm bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức nhằm phục vụ cho người dân được tốt hơn và giảm bớt được nguồn chi ngân sách như kiến nghị của cử tri.

Bên cạnh đó, Bộ Nội vụ đã xây dựng Đề án Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, bao gồm nhiều giải pháp như: nhóm giải pháp về tinh giản biên chế, nhóm giải pháp thúc đẩy đồng bộ với việc tinh giản biên chế; trong đó có giải pháp nghiên cứu sắp xếp tổ chức lại bộ máy các cơ quan, tổ chức của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (nhiệm kỳ 2016 – 2021) để báo cáo Bộ Chính trị trước khi trình Ban Chấp hành Trung ương Đảng vào tháng 10 năm 2014. Sau khi được Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng thông qua, Chính phủ sẽ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để làm cơ sở tổ chức triển khai thực hiện. Đây cũng là các giải pháp để tinh gọn bộ máy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính và đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội như kiến nghị của cử tri.

74. Cử tri TP Hồ Chí Minh kiến nghị: Kiến nghị sửa đổi quy định về biên chế nhân sự của cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo hướng: Số lượng cán bộ, công chức thuộc mỗi Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được tính căn cứ vào số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố đó.

Trả lời: Tại công văn số 2941/BNV-TCBC ngày 01/8/2014

Luật Cán bộ, công chức được Quốc hội thông qua năm 2008 đã quy định biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính được xác định trên cơ sở vị trí việc làm.

Căn cứ quy định của Luật Cán bộ, công chức, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 về quản lý biên chế công chức; Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức. Theo đó, Bộ Nội vụ đã ban hành các thông tư hướng dẫn, như: Thông tư số 07/2010/TT-BNV ngày 26/7/2010 hướng dẫn thực hiện một số điều quy định tại Nghị định số 21/2010/NĐ-CP ngày 08/3/2010 của Chính phủ về quản lý biên chế công chức; Thông tư số 05/2013/TT-BNV ngày 25/6/2013 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 36/2013/NĐ-CP ngày 22/4/2013 của Chính phủ về vị trí việc làm và cơ cấu ngạch công chức.

Các văn bản của Chính phủ, của Bộ Nội vụ đã quy định và hướng dẫn chi tiết các nguyên tắc, căn cứ, phương pháp, trình tự, thủ tục xác định, phê duyệt, quyết định biên chế công chức phải trên cơ sở vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị; ngoài ra, các văn bản quy định việc xác định biên chế công chức còn phải căn cứ vào đặc điểm của các cơ quan, tổ chức, địa phương, như: Số lượng đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã; đặc điểm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội.

Căn cứ quy định của pháp luật nêu trên, việc xác định biên chế công chức của Phòng Đăng ký kinh doanh cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương được thực hiện trên cơ sở vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức phù hợp với chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Phòng và đặc điểm của từng địa phương. Trong đó, “số lượng doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh, thành phố” là một trong những yếu tố đặc thù để làm căn cứ xác định biên chế công chức của Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cho phù hợp với thực tế.

Theo quy định của Chính phủ, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh có trách nhiệm chỉ đạo, hướng dẫn, đôn đốc các cơ quan, đơn vị thuộc phạm vi quản lý xây dựng Đề án vị trí việc làm trình cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; Sở Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan xây dựng Đề án vị trí việc làm, trong đó có Phòng Đăng ký kinh doanh; Sở Nội vụ có trách nhiệm giúp Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thẩm định Đề án vị trí việc làm trong các cơ quan, đơn vị trình Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xem xét, trình cơ quan có thẩm quyền theo quy định.



75. Cử tri tỉnh Phú Yên kiến nghị: Đề nghị xem xét điều chỉnh biên chế đối với lực lượng quản lý bảo vệ rừng cho các Ban Quản lý rừng phòng hộ từ 01 biên chế/1000 ha rừng lên thành 02 biên chế/1000 ha rừng phòng hộ; đồng thời, đề nghị xem xét phân bổ chỉ tiêu 01 biên chế/1000 ha rừng sản xuất (gồm rừng tự nhiên và rừng trồng từ vốn ngân sách nhà nước).

Trả lời: Tại công văn số 2868/BNV-TCBC ngày 29/7/2014

Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa XI đã ban hành Kết luận số 63-KL/TW ngày 27/5/2013 ”Một số vấn đề về cải cách chính sách tiền lương, bảo hiểm xã hội, trợ cấp ưu đãi người có công và định hướng cải cách đến năm 2020”; Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống chính trị từ Trung ương đến cơ sở” và tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIII đã ban hành Nghị quyết số 53/2013/QH13 ngày 11/11/2013 về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2014. Theo đó, từ nay đến năm 2016, cơ bản không tăng thêm biên chế (trừ trường hợp lập thêm tổ chức hoặc phát sinh nhiệm vụ mới).

Thực hiện các văn bản của Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Nội vụ thực hiện việc quản lý chặt chẽ biên chế công chức trong các cơ quan, tổ chức hành chính, số lượng người làm việc trong các đơn vị sự nghiệp công lập. Ngày 16/7/2014, Bộ Nội vụ đã có văn bản số 2665/BNV-TCBC báo cáo Thủ tướng Chính phủ về việc sửa quy định hiện hành về định mức biên chế công chức kiểm lâm để phù hợp với quy định về quản lý biên chế công chức tại Luật Cán bộ, công chức, các văn bản hướng dẫn thi hành và thực tế quản lý và bảo vệ rừng hiện nay. Sau khi Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, Bộ Nội vụ sẽ phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tổ chức thực hiện nhằm bảo đảm hiệu lực, hiệu quả hoạt động của lực lượng kiểm lâm.

76. Cử tri tỉnh Gia Lai kiến nghị: Hiện nay, mỗi đơn vị hành chính cấp huyện có 01 trung tâm giáo dục thường xuyên, 01 trung tâm dạy nghề, 01 trung tâm bồi dưỡng chính trị nên phân tán nguồn lực dẫn đến hiệu quả hoạt động thấp. Đề nghị nghiên cứu và chỉ đạo sáp nhập nhằm tinh gọn tổ chức, tập trung nguồn lực để nâng cao hiệu quả hoạt động.

Trả lời: Tại công văn số 2873/BNV-TCBC ngày 30/7/2014

Tại Thông báo số 162/TB-VPCP ngày 15/4/2013 của Văn phòng Chính phủ về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Thiện Nhân tại phiên họp thường kỳ của Ban Chỉ đạo Trung ương thực hiện Đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn đến năm 2020. Theo đó, tại Điểm c Khoản 2 Thông báo về ý kiến của Phó Thủ tướng Chính phủ như sau: “Đối với cơ sở dạy nghề: Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội phối hợp xây dựng Thông tư liên Bộ hướng dẫn các địa phương rà soát, sắp xếp, xây dựng một trung tâm cấp huyện có các chức năng giáo dục thường xuyên, dạy nghề, tư vấn hướng nghiệp, giới thiệu việc làm”.

Trước đó, ngày 13/8/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội đã ban hành công văn số 4808/BGDĐT-GDTX về việc giao nhiệm vụ đào tạo nghề cho Trung tâm Giáo dục thường xuyên; bổ sung thêm nhiệm vụ hướng nghiệp cho Trung tâm Giáo dục thường xuyên.

Ngày 09/6/2014, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Theo đó, tại Điểm d Khoản 2 Mục II của Nghị quyết quy định: “Tiếp tục triển khai việc sắp xếp các trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm giáo dục kỹ thuật tổng hợp - hướng nghiệp và trung tâm dạy nghề cấp huyện”.

Thực hiện Nghị quyết của Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội xây dựng Thông tư liên tịch hướng dẫn thành lập Trung tâm Giáo dục thường xuyên-Hướng nghiệp và Dạy nghề ở cấp huyện nhằm tinh gọn tổ chức, tập trung nguồn lực, nâng cao hiệu quả hoạt động.

77. Cử tri tỉnh Hà Giang và TP Hà Nội kiến nghị: Cử tri đồng tình với kế hoạch tinh giản biên chế của Chính phủ, đề nghị xem xét tiếp tục cho thực hiện Nghị định số 132/2007/NĐ-CP ngày 08/8/2007 của Chính phủ về chính sách tinh giản biên chế. Tuy nhiên, đề nghị Chính phủ rà soát, xác định lại chức năng, nguyên tắc tổ chức của các cơ quan nhà nước cho phù hợp từ đó xác định đúng biên chế cần sử dụng, tránh lãng phí.

Trả lời: Tại công văn số 2928/BNV-TCBC ngày 01/8/2014

Thực hiện Kết luận số 64-KL/TW ngày 28/5/2013 Hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung ương khóa XI về "Tiếp tục thực hiện chủ trương tinh giản biên chế" và ý kiến chỉ đạo của Chính phủ, ngày 28/7/2014, Bộ Nội vụ có Tờ trình số 2825/TTr-BNV về việc trình Chính phủ dự thảo Nghị định về chính sách tinh giản biên chế (sau đây viết tắt là dự thảo Nghị định).

Dự thảo Nghị định đã đưa ra một trong những nguyên tắc tinh giản biên chế là thực hiện tinh giản biên chế phải được tiến hành trên cơ sở rà soát, sắp xếp lại tổ chức và thực hiện đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng không xác định thời hạn trong cơ quan, tổ chức, đơn vị. Theo đó, trình tự thực hiện tinh giản biên chế trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị được quy định cụ thể trong dự thảo Nghị định theo thứ tự như sau:

- Các cơ quan, tổ chức, đơn vị tiến hành rà soát chức năng, nhiệm vụ để xác định những nhiệm vụ không còn phù hợp cần loại bỏ, những nhiệm vụ trùng lắp cần chuyển giao sang cơ quan, đơn vị khác; những nhiệm vụ cần phân cấp cho cấp dưới, địa phương và tổ chức sự nghiệp hoặc doanh nghiệp đảm nhận.

- Sắp xếp lại tổ chức, gắn với cải tiến quy chế làm việc, cải cách thủ tục hành chính, loại bỏ tổ chức trung gian.

- Sắp xếp cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng theo các nội dung sau:

+ Xác định vị trí việc làm, cơ cấu ngạch công chức, cơ cấu chức danh nghề nghiệp viên chức và tiêu chuẩn chuyên môn nghiệp vụ, khung năng lực cho từng vị trí việc làm trong cơ quan, tổ chức, đơn vị;

+ Đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức theo tiêu chuẩn, nghiệp vụ đối với ngạch công chức, chức danh nghề nghiệp viên chức.

+ Lựa chọn những cán bộ, công chức, viên chức có đủ năng lực, trình độ, phẩm chất giữ lại làm việc ổn định, lâu dài;

+ Xác định và lập danh sách số cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng không xác định thời hạn trong diện tinh giản biên chế.



78. Cử tri tỉnh Trà Vinh kiến nghị: Đề nghị xem lại chế độ, chính sách đối với các Hội Người cao tuổi, Hội Chữ thập đỏ, Hội Khuyến học hoạt động ở ấp, khóm để tạo điều kiện tăng cường hiệu quả hoạt động của các hội này.

Trả lời: Tại công văn số 2944/BNV- TCPCP ngày 04/8/2014

Khoản 3 Điều 2 Nghị định số 45/2010/NĐ-CP ngày 21 tháng 4 năm 2010 của Chính phủ quy định tổ chức, hoạt động và quản lý hội chỉ quy định hội hoạt động trong phạm vi cả nước hoặc liên tỉnh, phạm vi cấp tỉnh, phạm vi cấp huyện, phạm vi cấp xã mà không quy định hội hoạt động ở phạm vi ấp, khóm, tổ chức của hội ở thôn, làng, ấp, khóm,... thường được gọi là các chi hội, các chi hội này thuộc hội cấp xã;

Đối với các hội hoạt động trong phạm vi cấp xã nói chung tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, tự quản, tự đảm bảo kinh phí hoạt động và được Nhà nước hỗ trợ kinh phí hoạt động gắn với nhiệm vụ được giao theo quy định tại Thông tư số 01/2011/TT-BTC ngày 06 tháng 01 năm 2011 của Bộ Tài chính quy định về việc hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước cho hội có hoạt động gắn với nhiệm vụ được giao; việc quản lý sử dụng tài sản, tài chính của hội; quản lý việc tiếp nhận, sử dụng các nguồn tài trợ của cá nhân, tổ chức nước ngoài;

Riêng đối với hội hoạt động trong phạm vi cấp xã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xác định là hội có tính chất đặc thù theo quy định tại Điều 3 Quyết định số 68/2010/QĐ-TTg ngày 01 tháng 11 năm 2010 về việc quy định hội có tính chất đặc thù, do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định việc phân cấp bảo đảm, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách địa phương đối với hội có tính chất đặc thù thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại Khoản 2 Điều 1 Quyết định số 71/2011/QĐ-TTg ngày 20 tháng 12 năm 2011 của Thủ tướng Chính phủ về bảo đảm, hỗ trợ kinh phí từ ngân sách nhà nước đối với các hội có tính chất đặc thù.



79. Cử tri tỉnh Bắc Ninh kiến nghị: Đề nghị xem xét chi chế độ phụ cấp cho các chức danh lãnh đạo hội đặc thù được thành lập theo Nghị định số 45/2010 ngày 21/4/2010 kể cả người không hưởng lương hưu.

Trả lời: Tại công văn số 2931/BNV- TCPCP ngày 04/8/2014

Do đặc điểm hoạt động của hội có những người được bầu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách thuộc chỉ tiêu biên chế được giao nhưng đã nghỉ hưu không thuộc đối tượng hưởng lương theo quy định tại Nghị định số 204/2004/NĐ-CP ngày 14 tháng 12 năm 2004 của Chính phủ về chế độ tiền lương đối với cán bộ, công chức, viên chức và lực lượng vũ trang. Do đó, Bộ Nội vụ đã trình Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 30/2011/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2011 về chế độ thù lao đối với người đã nghỉ hưu giữ chức danh lãnh đạo chuyên trách tại các hội, trong đó tại Điều 2 đã quy định mức thù lao tối đa đối với những người đã nghỉ hưởng lương hưu theo quy định của pháp luật được bầu giữ các chức danh lãnh đạo chuyên trách thuộc hội có tính chất đặc thù, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao biên chế, thì ngoài lương hưu, được hưởng thù lao từ ngân sách nhà nước. Đối với người công tác tại hội không thuộc chỉ tiêu biên chế được cấp có thẩm quyền giao thì chế độ, chính sách được thực hiện theo thỏa thuận giữa hội với người làm công tác hội, bảo đảm tương quan trong nội bộ hội và theo quy định của Bộ luật Lao động, quy định của pháp luật có liên quan theo quy định tại Khoản 2 Điều 7 Thông tư số 03/2013/TT-BNV;

Thực hiện Quyết định số 118-QĐ/TW ngày 13 tháng 7 năm 2012 của Ban Bí thư thành lập Ban Chỉ đạo xây dựng Đề án nghiên cứu hội quần chúng, Bộ Nội vụ đã phối hợp với các bộ, ban, ngành Trung ương, địa phương triển khai xây dựng Đề án nghiên cứu hội quần chúng, các nội dung kiến nghị của cử tri nêu trên đã được Bộ Nội vụ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền. Sau khi Đề án được phê duyệt, Bộ Nội vụ sẽ tham mưu trình cấp có thẩm quyền sửa xem xét sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật hội phù hợp với tình hình mới, đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng, tăng cường quản lý của Nhà nước và tạo điều kiện để các hội hoạt động đúng hướng, hiệu quả.

80. Cử tri TP Hồ Chí Minh kiến nghị: Cử tri đề nghị Hội Người cao tuổi phải được công nhận là tổ chức chính trị mang tính đặc thù, người cao tuổi phải được hưởng đầy đủ các chính sách xã hội.




1   ...   14   15   16   17   18   19   20   21   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương