KỲ HỌp thứ TÁM, quốc hội khóa XIII (20/10/2014 – 28/11/2014)



tải về 6.12 Mb.
trang12/86
Chuyển đổi dữ liệu07.07.2016
Kích6.12 Mb.
1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   ...   86

Trả lời: Tại công văn số 10259/BGTVT-KHĐT ngày 19/8/2014

Hiện nay, do ngân sách nhà nước hàng năm còn hạn chế, phần vốn trong nước chủ yếu dành để bố trí cho phần vốn đối ứng các dự án Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA). Việc Quốc hội, Chính phủ cho phép huy động vốn Trái phiếu Chính phủ để đầu tư cho các công trình giao thông, thủy lợi là một chủ trương hết sức đúng đắn.

Các dự án, công trình đã và đang được đầu tư từ nguồn trái phiếu Chính phủ đều là những dự án quan trọng, cấp bách. Hệ thống quốc lộ đã cơ bản được cải tạo, nâng cấp và đưa vào cấp kĩ thuật. Những dự án, công trình sau khi hoàn thành đã phát huy hiệu quả hết sức to lớn cho việc phát triển kinh tế - xã hội và đảm bảo an ninh - quốc phòng, an toàn giao thông, thúc đẩy sản xuất phát triển, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thông thương giữa các vùng miền được thuận lợi, khai thác, phát huy tiềm năng của các địa phương, tạo thêm việc làm và nâng cao đời sống của nhân dân, nhất là ở các vùng miền núi, vùng đồng bào dân tộc và các vùng khó khăn.

Đối với hệ thống hạ tầng giao thông tỉnh Tây Ninh, ngoài các công trình giao thông của tỉnh được đầu tư bằng nguồn trái phiếu Chính phủ được Trung ương bố trí trực tiếp cho địa phương, các dự án được Bộ GTVT đầu tư bằng nguồn trái phiếu Chính phủ như Quốc lộ 22B, đường Hồ Chí Minh đoạn Chơn Thành – Đức Hòa đã phát huy được hiệu quả rõ rệt, góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh Tây Ninh nói riêng và vùng kinh tế trọng điểm phía Nam nói chung.

Trong thời gian tới, Bộ GTVT sẽ tiếp tục quản lý, đầu tư các công trình hạ tầng giao thông bằng nguồn vốn trái phiếu Chính phủ hiệu quả, đặc biệt là dự án nâng cấp mở rộng Quốc lộ 1 và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên, góp phần thực hiện tốt Nghị quyết số 13-NQ/TW Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ nhằm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

102. Cử tri tỉnh Tây Ninh kiến nghị: Đề nghị ban hành quy định đánh giá tác động và dự kiến lưu lượng xe tham gia giao thông, để tính toán kỹ thiết kế tải trọng của từng tuyến đường khi nâng cấp, xây dựng mới,…nhằm khắc phục tình trạng nhiều tuyến đường hiện nay chưa tính toán kỹ tải trọng và lưu lượng xe trên đường và cầu để thiết kế tải trọng, kết cấu mặt đường phải chịu lực,…nên cứ vài năm lại tiến hành nâng cấp, sủa chữa do hư hỏng, xuống cấp vì lưu lượng quá nhiều, vượt quá tải trọng.

Trả lời: Tại công văn số 10752/BGTVT-KHCN ngày 28/8/2014

1. Về việc đề nghị ban hành quy định dự kiến, tính toán lưu lượng xe tham gia giao thông :

1.1. Theo quy định của mục 3.3 “Lưu lượng xe thiết kế” của tiêu chuẩn TCVN 4054-2005 “Đường ô tô - Yêu cầu thiết kế” đã quy định rõ:

- Các đơn vị Tư vấn thiết kế cần điều tra, khảo sát và tổ chức đếm các loại xe hiện tại trên tuyến. Trên cơ sở đó tính toán ra lưu lượng xe thiết kế, là số xe con được quy đổi từ các loại xe khác, thông qua một mặt cắt trong một đơn vị thời gian, tính cho năm tương lai. Năm tương lai là năm thứ 20 sau khi đưa vào sử dụng đối với đường cấp I và II ; năm thứ 15 đối với các cấp III và IV, năm thứ 10 đối với cấp V, cấp VI và các đường thiết kế nâng cấp, cải tạo.

1.2.Tại mục 1.5.2 của tiêu chuẩn 22TCN 211-06 “Áo đường mềm - Các yêu cầu kỹ thuật và chỉ dẫn thiết kế” cũng đã quy định rất rõ về công tác “Điều tra dự báo lưu lượng giao thông” trong công tác thiết kế kết cấu áo đường.

2. Về việc xem xét quy định tính toán, lựa chọn tải trọng xe tham gia giao thông để thiết kế kết cấu mặt đường:

- Việc lựa chọn tải trọng trục tính toán và cách quy đổi số trục xe về tải trọng tính toán đã được quy định tại mục 3.2 của tiêu chuẩn 22TCN 211-06 “ Áo đường mềm – Các yêu cầu kỹ thuật và chỉ dẫn thiết kế”.

- Trên những đường có lưu thông các loại trục xe nặng khác biệt nhiều so với loại trục tiêu chuẩn ở Bảng 3.1 của 22TCN 211-06 (như các đường vùng mỏ, đường công nghiệp chuyên dụng…) thì kết cấu áo đường phải được tính với tải trọng trục đơn nặng nhất có thể có trong dòng xe.

- Nếu tải trọng trục đơn của xe nặng nhất không vượt quá 20% trị số tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn ở Bảng 3.1 và số lượng các trục này chiếm dưới 5% tổng số trục xe tải và xe buýt các loại chạy trên đường thì vẫn cho phép tính toán theo tải trọng trục tiêu chuẩn ngược lại thì phải tính với tải trọng trục đơn nặng nhất theo chỉ dẫn ở điểm 4 mục 3.1.4.

- Trên các đường cao tốc hoặc đường ô tô các cấp có lưu thông các trục đơn của xe nặng vượt quá 120 kN thoả mãn các điều kiện để cập ở điểm 2 nêu trên thì được dùng tải trọng trục tính toán tiêu chuẩn là 120 kN.

- Tại mục 3.3 của tiêu chuẩn 22TCN 211-06 còn yêu cầu Tư vấn xem xét, tính toán tổng số trục xe tính toán Ntt trong một ngày đêm trên một làn xe lớn nhất vào thời kỳ bất lợi ở cuối thời hạn thiết kế để lựa chọn kết cấu áo đường.

Như vậy, để đảm bảo chất lượng và tuổi thọ khai thác công trình khi xây dựng, cải tạo, nâng cấp các tuyến đường cần phải tuân thủ các quy định trong quá trình khảo sát, thiết kế như đã nêu trên. Ngoài ra cần phải kiểm soát chặt chẽ trong quá trình thi công, nghiệm thu đảm bảo tuân thủ hồ sơ thiết kế công trình đã được phê duyệt. Đồng thời tăng cường công tác tuyên truyền, triển khai quyết liệt việc kiểm soát, siết chặt kiểm tra, xử phạt xe quá tải trọng cho phép góp phần bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông.



103. Cử tri tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Đề nghị có mẫu thiết kế chung về các tiêu chí giao thông nông thôn. Giao thông nội đồng để giảm chi phí thiết kế, tạo thuận lợi cho các địa phương hoàn thành các tiêu chí xây dựng nông thôn mới.

Trả lời: Tại công văn số 10729/BGTVT-KHĐT ngày 27/8/2014

Tại Quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 26/4/2010 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới (NTM) giai đoạn 2010-2020, giao Bộ GTVT nghiên cứu hướng dẫn thực hiện tiêu chí số 2 về giao thông trong Bộ Tiêu chí quốc gia xây dựng NTM. Bộ GTVT đã ban hành Quyết định số 315/QĐ-BGTVT ngày 23/02/2011 về việc Hướng dẫn lựa chọn quy mô kỹ thuật đường giao thông nông thôn (GTNT) phục vụ Chương trình MTQG xây dựng NTM giai đoạn 2010-2020. Căn cứ hướng dẫn trên, các địa phương tuỳ vào điều kiện thực tế để lựa chọn khi quy hoạch và xây dựng đường GTNT của địa phương.

Hiện nay, Bộ GTVT đang tiếp nhận nguồn kinh phí của ngân hàng Thế giới (WB) để thuê Tư vấn biên soạn Sổ tay “Hướng dẫn kỹ thuật và quản lý đường GTNT” gồm các nội dung chính như: Thiết kế; xây dựng; quản lý chất lượng xây dựng; công tác bảo trì và quản lý khai thác đường GTNT. Nội dung thiết kế đường GTNT không yêu cầu tính toán thiết kế cụ thể, chủ yếu đưa ra các thiết kế mẫu định hình trên cơ sở các quy định tiêu chuẩn thiết kế đường ôtô Quốc gia và đường GTNT hiện hành với phương châm đơn giản dễ làm, cán bộ cấp xã, thôn hoặc cộng đồng dân cư đều có thể áp dụng thực hiện. Đến nay, Tư vấn đã hoàn thành dự thảo Sổ tay, đã tổ chức hội thảo 3 miền ( Bắc, Trung, Nam) xin ý kiến góp ý của các địa phương, các chuyên gia để hoàn thiện trình phê duyệt chính thức và in ấn cấp phát đến từng xã trên cả nước vào cuối năm 2014 để thực hiện.

104. Cử tri tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải tại Công văn số 798/VPCP-KTN ngày 06/8/2013 của Văn phòng Chính phủ về việc cho phép các địa phương khó khăn về kinh phí được tạm ứng vốn của dự án mở rộng Quốc lộ 1A để đầu tư xây dựng khu tái định cư, UBND tỉnh Thanh Hóa đã có Công văn số 1953/UBND-THKH ngày 18/3/2014 đề nghị Chính phủ cho tỉnh Thanh Hóa được tạm ứng 167 tỷ đồng từ nguồn vốn giải phóng mặt bằng của dự án nâng cấp, mở rộng Quốc lộ 1A để đầu tư xây dựng hoàn thành các khu tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng. Đề nghị sớm tạm ứng nguồn vốn cho tỉnh Thanh Hóa.

Trả lời: Tại công văn số 10650/BGTVT-KHĐT ngày 26/8/2014

Ngày 06/8/2013, Văn phòng Chính phủ đã có văn bản số 798/VPCP-KTN, thông báo ý kiến chỉ đạo của Phó Thủ tướng Chính phủ Hoàng Trung Hải về kinh phí thực hiện công tác tái định cư đối với các dự án mở rộng quốc lộ 1A (QL1A) và đường Hồ Chí Minh đoạn qua khu vực Tây Nguyên. Trong quá trình triển khai, Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 523/TTg-KTTH ngày 21/4/2014 về cơ chế tạm ứng vốn xây dựng khu tái định cư phục vụ giải phóng mặt bằng các dự án mở rộng QL1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên. Trên cơ sở đó, Bộ GTVT đã có Công điện số 19/CĐ-BGTVT ngày 29/4/2014 gửi Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có dự án đi qua (trong đó có tỉnh Thanh Hóa), theo đó Bộ GTVT đề nghị các địa phương khẩn trương có văn bản gửi Bộ GTVT, Bộ Tài chính để xin ứng vốn hoặc hỗ trợ phần chênh lệch, kèm theo hồ sơ liên quan (bao gồm cả bản vẽ thiết kế các khu tái định cư), trong đó cần nêu rõ quy mô, kinh phí xây dựng khu tái định cư, số hộ dân phải tái định cư của dự án và kinh phí thu hồi của người dân vào các khu tái định cư trước ngày 06/5/2014; đồng thời cử cán bộ có năng lực để phối hợp với Bộ GTVT rà soát các nội dung nêu trên. Tuy nhiên, Bộ GTVT đã không nhận được đề nghị của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về nhu cầu ứng vốn xây dựng khu tái định cư.

Trên cơ sở đề nghị của 09 tỉnh có nhu cầu ứng vốn xây dựng khu tái định cư, Bộ GTVT có văn bản số 7172/BGTVT-KHĐT ngày 18/6/2014 gửi Bộ Tài chính và được Bộ Tài chính thẩm tra, chấp thuận (văn bản số 8995/BTC-ĐT ngày 03/7/2014). Đến nay, Bộ GTVT đã yêu cầu các Chủ đầu tư, Ban Quản lý dự án chuyển kinh phí tái định cư về các địa phương có nhu cầu để triển khai công tác xây dựng khu tái định cư phục vụ công tác giải phóng mặt bằng các dự án mở rộng QL1A và đường Hồ Chí Minh đoạn qua Tây Nguyên.

105. Cử tri tỉnh Thanh Hóa kiến nghị: Dự án nạo vét luồng tàu vào cảng Nghi Sơn có tổng mức đầu tư 3.500 tỷ đồng. Tại Thông báo số 957/TB-BGTVT ngày 11/12/2013, Bộ trưởng Bộ Giao thông đã có ý kiến chỉ đạo không sử dụng ngân sách nhà nước và thực hiện xã hội hóa nạo vét, duy tu luồng theo hình thức kết hợp tận thu sản phẩm nạo vét. Tuy nhiên, việc nạo vét luồng tàu trên theo hình thức xã hội hóa rất khó khăn, đề nghị cho phép đầu tư nạo vét luồng tàu vào cảng Nghi Sơn bằng nguồn ngân sách nhà nước để đảm bảo khai thác tàu có trọng tải 50.000DWT theo Quy hoạch chi tiết được Bộ Giao thông vận tải phê duyệt tại Quyết định số 1401/QĐ-BGTVT ngày 26/5/2010.

Trả lời: Tại công văn số 10826/BGTVT-KHĐT ngày 29/8/2014

Theo quy hoạch phát triển cảng Nghi Sơn đã được Bộ GTVT phê duyệt tại quyết định số 1401/QĐ-BGTVT ngày 26/5/2010, lượng hàng tổng hợp, công-ten-nơ dự kiến thông qua cảng giai đoạn đến năm 2015 là 6,9 triệu tấn, đến năm 2020 khoảng 9,84 triệu tấn, luồng tàu được quy hoạch giai đoạn đến 2020 là luồng 1 làn, hai chiều, dài 7 km, rộng 150 m, cho tàu 30.000 tấn đầy tải, tàu 50.000 tấn giảm tải; khu quay trở tàu gồm hai khu, đáp ứng cho việc khai thác tàu có trọng tải từ 30.000 tấn đến tàu 50.000 tấn.

Hiện tại bến cảng tổng hợp thuộc cảng biển Nghi Sơn có 2 cầu cảng đang hoạt động là cầu cảng số 1 cho tàu trọng tải đến 10.000 tấn, cầu cảng số 2 cho tàu trọng tải đến 30.000 tấn. Cầu cảng số 3 cho tàu 30.000 tấn đã cơ bản hoàn thành xây dựng, cầu cảng số 4 hiện đang thi công xây dựng. Luồng tàu đến các cầu cảng số 1, 2 được thực hiện nạo vét duy tu trong năm 2014 đạt cao độ đồng đều -10,0 m (Hải đồ), cơ bản đáp ứng cho tàu trọng tải đến 30.000 tấn đầy tải, 50.000 tấn giảm tải ra vào. Ngoài ra, UBND tỉnh Thanh Hóa cũng đã triển khai thực hiện dự án nạo vét luồng tàu vào cầu cảng số 3, số 4 đến độ sâu -11,0 m. Như vậy, luồng tàu vào cảng Nghi Sơn đã và đang được nạo vét đáp ứng tàu trọng tải 30.000 tấn đầy tải, 50.000 tấn giảm tải vào tới cầu cảng số 4, đáp ứng nhu cầu hàng hóa thông qua cảng trong thời gian tới.

Toàn bộ dự án nạo vét luồng Nghi Sơn do UBND tỉnh Thanh Hóa chỉ đạo nghiên cứu với quy mô nạo vét toàn bộ luồng tàu từ cầu cảng số 1 đến đê Bắc, với tổng mức đầu tư dự kiến là 3.028,2 tỷ đồng lớn hơn so với quy hoạch chi tiết phát triển cảng Nghi Sơn đã được Bộ GTVT phê duyệt. Hiện Bộ GTVT đã thống nhất với UBND tỉnh Thanh Hóa giao Cục Hàng hải Việt Nam tiếp nhận hồ sơ dự án để thực hiện nghiên cứu, rà soát cập nhật cho phù hợp với quy hoạch phát triển cảng và thực tế đầu tư xây dựng cảng biển tại khu vực, trong đó sẽ làm rõ nội dung phân kỳ và huy động vốn đầu tư cho dự án (xin gửi kèm theo Thông báo số 680/TB-BGTVT ngày 08/7/2014 của Bộ GTVT).



106. Cử tri tỉnh Thái Nguyên kiến nghị: Đề nghị phục hồi tuyến đường sắt Kép – Lưu Xá.

Trả lời: Tại công văn số 9967/BGTVT-KHĐT ngày 13/8/2014

Tuyến đường sắt Kép – Lưu Xá được đưa vào khai thác sử dụng năm 1966 với chiều dài toàn tuyến là 56,737km, trong đó đường đơn khổ 1.435mm từ ga Kép (Km0+00) đến ga Khúc Rồng (Km44+300) có chiều dài là 44,3 km; đường lồng (1.000mm và 1.435mm) từ ga Khúc Rồng (Km44+300) đến ga Lưu Xá (Km55+687) có chiều dài là 11,387 km. Do nhu cầu vận tải thấp nên đến năm 1988 đã ngừng chạy tàu khách, đến năm 1994 đã ngừng chạy tàu hàng đoạn Kép – Lưu Xá, chỉ còn chạy tàu hàng trở quặng từ trong mỏ Trại Cau (ga Khúc Rồng) ra ga Lưu Xá (mỗi ngày có 5-7 chuyến trên đoạn đường 11,387 km).

Trong điều kiện nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước bố trí cho lĩnh vực đầu tư phát triển đường sắt hết sức khó khăn nên đang tập trung cân đối cho các dự án đảm bảo an toàn chạy tàu, đối ứng các dự án vay vốn ODA, hoàn thành các dự án đang triển khai, hầu như không có vốn để bố trí triển khai dự án mới từ nay đến năm 2015.

Do đó việc nghiên cứu phục hồi chạy tàu toàn tuyến đường sắt Kép – Lưu Xá chỉ được đặt ra khi xuất hiện nhu cầu vận tải và bố trí được nguồn lực đầu tư.



107. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Cử tri đồng tình với những giải pháp xử lý xe chở quá tải trọng so với giấy phép được cấp, nhưng cử tri cho rằng thời gian bắt đầu áp dụng biện pháp xử lý là chưa phù hợp với mùa vụ thu hoạch của công dân, làm ảnh hưởng đến giá cả đầu ra do chi phí vận chuyển tăng, người nông dân chịu thiệt. Đề nghị rút kinh nghiệm trong việc lựa chọn thời gian áp dụng thực hiện các giải pháp xử lý phương tiện vi phạm.

Trả lời: Tại công văn số 9723/BGTVT-VT ngày 08/8/2014

Thứ nhất, về tình trạng xe chở quá tải, triển khai thí điểm và hoàn thiện công tác chuẩn bị (thực hiện có lộ trình)

Từ năm 1982, việc kiểm tra tải trọng phương tiện trên đường bộ đã được đề cập và thực hiện sau đó đến năm 2003 do một số lý do khác nhau nên đã không duy trì hoạt động của các trạm kiểm tra tải trọng xe và nhiệm vụ kiểm tra tải trọng xe được giao cho Cảnh sát giao thông thực hiện (kiểm tra bằng cân xách tay và các nghiệp vụ khác); cho đến đầu năm 2009, trước tình trạng xe chở quá tải khá phổ biến gây phá vỡ kết cấu hạ tầng giao thông và gây mất an toàn giao thông, Bộ GTVT đã chỉ đạo tái hoạt động 02 Trạm kiểm tra tải trọng xe cố định tại Đồng Nai (Quốc lộ 1) và Quảng Ninh (Quốc lộ 18) theo hình thức thí điểm và nay đã hoạt động chính thức. Từ tháng 01/2013, Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng cục Đường bộ Việt Nam hoàn thiện Đề án tổng thể kiểm soát tải trọng phương tiện trên đường bộ; phối hợp với Tổng cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự an toàn xã hội triển khai thí điểm kiểm soát tải trọng phương tiện trên các Quốc lộ 5, 10, 18, 20, 70 (tại Hải Phòng, Hải Dương, Yên Bái, Lâm Đồng) từ tháng 4 đến tháng 7 năm 2013.

Bộ GTVT đã tổ chức tập huấn chuyển giao công nghệ vận hành và trang cấp 63 bộ cân lưu động cho 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước và kể từ ngày 01/4/2014 thực hiện đồng loạt trên phạm vi toàn quốc (63/63 địa phương).

Thứ hai, việc triển khai thực hiện là đồng bộ có sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương, các tổ chức đoàn thể, cơ quan truyền thông cụ thể:

Thực hiện Công điện số 95/CĐ-TTg và 1966/CĐ-TTg ngày 19/11/2013 của Thủ tướng Chính phủ về chấn chỉnh tình trạng phương tiện vận tải đường bộ vi phạm chở hàng quá tải trọng và tăng cường kiểm soát tải trọng xe trên đường bộ, Kế hoạch số 500/KH-UBATGTQG ngày 30/12/2013 của Ủy ban An toàn giao thông Quốc gia triển khai công tác bảo đảm TTATGT năm 2014 với chủ đề “Siết chặt quản lý kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện”.

Ngày 21/11/2013, liên Bộ GTVT- Công an có Kế hoạch số 12593/KHPH-BGTVT-BCA về phối hợp thực hiện việc tuần tra, kiểm soát và xử lý hành vi vi phạm chở hàng vượt quá trọng tải của ô tô vận chuyển hàng hóa trên đường bộ.

Đối với các địa phương Bộ GTVT đã thực hiện ký Quy chế phối hợp để triển khai thực hiện đồng bộ công tác kiểm soát tải trọng phương tiện trên đường bộ. Ngoài ra Bộ GTVT, Bộ Công an đã phối hợp với các Bộ, ngành, địa phương, UBATGTQG và các cơ quan thành viên, các Hiệp hội nghề nghiệp và các cơ quan thông tin đại chúng của trung ương: VTV, VOV, VTC, ANTV, Báo GTVT, CAND… tích cực tuyên truyền về công tác tăng cường quản lý kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện với nhiều nội dung và hình thức.

Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện bên cạnh những kết quả đạt được cũng còn có những tồn tại, khó khăn, vướng mắc, cần điều chỉnh để giảm bớt khó khăn cho các doanh nghiệp, bảo đảm phù hợp với thực tế.

Để giải quyết những khó khăn đó Bộ GTVT đã tổ chức đối thoại doanh nghiệp, phối hợp các hiệp hội vận tải, hiệp hội nghề nghiệp kịp thời tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị vận tải và các chủ hàng xuất, nhập khẩu, đặc biệt là nông thủy sản; cũng như để tạo điều kiện cho các chủ phương tiện có thời gian chuyển đổi loại phương tiện cho phù hợp với các quy định về kiểm soát tải trọng và tạo điều kiện giải tỏa ách tắc đối với hoạt động vận tải công-ten-nơ, tại Văn bản số 7638/BGTVT-VT ngày 26/6/2014, Bộ GTVT đã tiếp tục kiến nghị Thủ tướng Chính phủcho phép tạm thời chưa xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Nghị định số 171/2013/NĐ-CP trong thời gian đến 31/12/2014 đối với một số trường hợp 1.



Thứ ba, bên cạnh việc tăng cường “Siết chặt quản lý kinh doanh vận tải và kiểm soát tải trọng phương tiện” Bộ GTVT đã chỉ đạo Tổng cục ĐBVN, các Cục chuyên ngành, các Tổng công ty trong ngành triển khai thực hiện các Đề án, Dự án, Kế hoạch hành động để góp phần phát triển hợp lý các phương thức vận tải hỗ trợ giảm áp lực cho vận tải đường bộ, đồng thời giữ ổn định giá cước vận tải cụ thể như:

+ Bộ GTVT đã ban hành Quyết định số 2495/QĐ-BGTVT ngày 30/6/2014 công bố tuyến vận tải ven biển từ Quảng Ninh đến Quảng Bình để đưa vào khai thác, tăng cường kết nối và giảm tải cho đường bộ.

+ Triển khai xây dựng Đề án Đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý kinh doanh vận tải đường sắt; thực hiện các giải pháp về giá cước vận tải, giá cước xếp dỡ tại các ga đường sắt và đang hoàn thiện để công bố công khai trên trang web; tăng số đôi tàu hàng chạy chuyên tuyến vận chuyển xăng dầu, công-ten-nơ, hàng nông sản từ cảng Hải Phòng đến ga Lào Cai. Chủ động mở thêm các điểm dỡ hàng (như tại cảng ICD Lào Cai, Công ty xe lửa Dĩ An…) để tăng năng lực dỡ hàng; triển khai dự án đóng mới toa xe, ưu tiên đóng mới toa xe chuyên dụng chở công-ten-nơ; tăng cường các phương tiện xếp dỡ cơ giới chuyên dụng tại các ga hàng hóa;

+Tổ chức khảo sát các cảng biển, xây dựng và triển khai các giải pháp xử lý tình trạng ứ đọng hàng hóa tại các cảng biển thông qua việc tăng cường năng lực xếp dỡ, cải tiến công tác điều phối nội bộ cảng kết hợp với thực hiện hợp lý hóa xếp hàng lên phương tiện.

+ Lập kế hoạch khai thác, mở rộng mạng đường bay, tăng năng lực khai thác theo Đề án Nâng cao hiệu quả và chất lượng quản lý, khai thác kết cấu hạ tầng hàng không đã được Bộ phê duyệt; đưa lộ trình tự do hóa khai thác thương quyền vào các hiệp định song phương và đa phương trong lĩnh vực hàng không.

+ Trong những ngày gần đây Bộ Giao thông vận tải tiếp tục tổ chức các Hội nghị đối thoại với doang nghiệp và hội nghị tại các khu vực đồng bằng sông Cửu Long, đồng bằng sông Hồng để nắm bắt thông tin, tiếp thu kiến nghị để kịp thời tháo gỡ giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp đồng thời đưa ra các giải pháp và lộ trình thực hiện có tính thực tiễn và phù hợp hơn.



Thứ tư, trong quá trình triển khai thực hiện Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công an đã thường xuyên phối hợp tốt và đã thực hiện chế độ báo cáo, rút ra bài học kinh nghiệm, đưa ra các giải pháp, nhiệm vụ trong thời gian tới phù hợp và thực hiện có hiệu quả hơn trong công tác kiểm soát tải trọng phương tiện; đồng thời cũng đề nghị Chính phủ biểu dương các địa phương làm tốt để nhân rộng gương điển hình, cách làm có hiệu quả.

Điều đáng quan tâm là thông qua công tác kiểm soát tải trọng phương tiện giúp cho cơ quan quản lý nhà nước, các doanh nghiệp vận tải, chủ hàng, chủ xe, người lái xe đã dần nhận thức được việc triển khai thực hiện kiểm soát tải trọng phương tiện là nhiệm vụ chính trị, chủ trương đúng đắn nhằm góp phần bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, giảm thiểu tai nạn giao thông, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, đồng thời là tiền đề cho sự phát triển hợp lý giữa các phương thức vận tải, góp phần giảm tải cho vận tải đường bộ và có cơ cấu giá thành hợp lý cho các loại hình vận tải từ đóphát huy tính hiệu quả của chính sách, đảm bảo hài hòa giữa công tác quản lý nhà nước và quyền lợi của doanh nghiệp, của nhân dân.



108. Cử tri tỉnh Tiền Giang kiến nghị: Đề nghị khơi thông dòng chảy các cống dưới đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Trung Lương, vì hiện nay các cống đã bị cát lấp đầy, nước không thoát được, mùa nắng không có nước để tưới tiêu, mùa mưa bị ngập úng.

Trả lời: Tại công văn số 10724/BGTVT-KCHT ngày 27/8/2014

Đường cao tốc TP. Hồ Chí Minh – Trung Lương đi qua địa phận tỉnh Tiền Giang từ lý trình Km39+550 đến Km49+900, bao gồm 17 cống ngang thoát nước. Sau khi nhận được kiến nghị của cử tri, Bộ GTVT đã chỉ đạo các cơ quan chức năng kiểm tra, rà soát hiện trạng thoát nước của 17 vị trí cống thoát nước ngang, kết quả như sau: 12/17 cống thoát nước bình thường; 05/17 cống có đọng bùn đất trong lòng cống và cỏ mọc nhiều tại vị trí cửa cống, gây cản trở dòng chảy. Đồng thời, tiến hành thực hiện ngay công tác nạo vét bùn đất, dọn dẹp cỏ rác và khơi thông dòng chảy của các cống nêu trên. Hiện tại, toàn bộ các cống nêu trên đã thoát nước bình thường, đảm bảo khả năng thoát nước, không làm ảnh hưởng tới việc tưới tiêu và úng ngập.



109. Cử tri tỉnh Vĩnh Phúc kiến nghị: Đề nghị khi ban hành các nghị định hướng dẫn thi hành luật giao thông cần ngắn gọn, xúc tích, để người dân dễ hiểu, dễ thực hiện.

Trả lời: Tại công văn số 10894/BGTVT-PC ngày 29/8/2014

Đối với công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật (QPPL), Bộ Giao thông vận tải hoàn toàn thống nhất và xin tiếp thu ý kiến của cử tri.

Bộ Giao thông vận tải đã ban hành Thông tư số 58/2013/TT-BGTVT ngày 30/12/2013 về soạn thảo, thẩm định, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL trong ngành giao thông vận tải để tiếp tục hoàn thiện quy trình xây dựng văn bản QPPL. Theo đó, quy trình xây dựng văn bản QPPL của Bộ Giao thông vận tải đã bám sát quy định của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm được kiểm soát chặt chẽ ở từng bước soạn thảo, xin ý kiến tổ chức, cá nhân, thẩm định, ban hành. Việc kiểm soát thủ tục hành chính cũng được quy định bổ sung, gắn với quy trình xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Bộ Giao thông vận tải sẽ tiếp tục tập trung nâng cao hơn nữa chất lượng văn bản QPPL cũng như rà soát thường xuyên những văn bản QPPL đã được ban hành để kịp thời phát hiện, điều chỉnh cho phù hợp, bảo đảm người dân dễ tiếp cận, dễ hiểu, nâng cao tính khả thi và tạo sự đồng thuận của người dân đối với văn bản được ban hành.





1   ...   8   9   10   11   12   13   14   15   ...   86


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương