J. B. roux (cỐ ngôn)



tải về 2.12 Mb.
trang1/7
Chuyển đổi dữ liệu10.05.2018
Kích2.12 Mb.
  1   2   3   4   5   6   7
J. B. roux (cỐ ngôn)

hỘI thỪA sai hẢi ngoẠI paris


- thỪA sai tẠI huẾ -




VESTIGES RELIGIEUX ET PROPHANES DU VIEUX HUE
HUẾ CỔ

VẾT TÍCH ĐẠO VÀ ĐỜI


Chuyển ngữ: Lm. Đôminicô Minh Anh

TỔNG GIÁO PHẬN HUẾ

2008

Nguyên tác Pháp ngữ:

J.B. Roux


Vestiges Religieux
et Profanes du Vieux Hué

Traces et Souvenirs des Confesseurs de la Foi

Hué, AJS., 1943



Chuyển ngữ: Lm. Đôminicô Minh Anh

Giới thiệu: Lm. Augustinô Hồ Văn Quý

Ngoài hai bản đồ cuối sách,

các hình ảnh đều do người dịch chụp lại năm 2002.

MỤC LỤC


J.B. Roux 3

MỤC LỤC 4

Lời Mở 8

Tổng Quan và Bố Cục 11

Toà Án Các Tổng Đốc 19




Bản Đồ Kinh Thành Huế Cổ của J.B. Roux

Bản Đồ Kinh Thành Huế Cổ của J. Sambet
Giới thiệu đôi nét về tác giả và tác phẩm

Cha J. B. ROUX (Cố Ngôn) rất quen thuộc đối với linh mục thuộc giáo phận Huế, nhất là các thế hệ linh mục trước 1946. Thế nhưng, sự nghiệp nghiên cứu lịch sử của ngài thì ít ai biết đến, thậm chí nhiều người thoạt nghe có thể hoài nghi về khả năng biên soạn lịch sử một cách nghiêm túc của ngài.

Cố Ngôn chào đời thiếu tháng (đẻ non), thuở nhỏ thể chất yếu đuối khiến ngài tập được tính cẩn thận và chính xác, làm việc có tính toán và chừng mực, không thừa không thiếu. Là người phương Tây đến ở xứ nhiệt đới, ngài chỉ mặc áo nhiều hay ít tuỳ theo nhiệt kế. Ngài xem nhiệt độ cao thấp để mặc thêm áo hay cởi bớt áo.

Đức tính chừng mực đó rất cần cho người viết sử, không thêm không bớt sự thật lịch sử theo tư liệu chính xác.

Chúa quan phòng đã cho Cố Ngôn giữ chức Bề Trên Cả Tiểu Chủng Viện và Đại Chủng Viện (dĩ nhiên ở hai thời kỳ khác nhau vì hai chủng viện cách nhau cả trăm cây số). Đó là hai nơi tốt nhất để nghiên cứu lịch sử, vì không nơi nào trong giáo phận kể cả Toà Giám Mục, bảo đảm có thư viện với đầy đủ tư liệu về lịch sử và đời sống giáo hội địa phương bằng chủng viện.

Tên Roux chỉ có một âm tiết và thuộc về miền Nam nước Pháp (Provence). Có hai cách đọc, đều đánh lưỡi chữ “r” (Pháp gọi là rouler le ‘r’, khác với người Paris). Một cách nhấn mạnh con chữ ‘x’, thành ra Roukse; một cách bỏ chữ ‘x’, nghe như từ đồng âm là “roue” (bánh xe). Một lần đức Khâm Sứ Toà Thánh (thời ấy gọi là Khâm Mạng) đến kinh lý chủng viện, Cố Bề Trên ra đón ở cổng:

- Cha tên gì? Đức Khâm sứ hỏi.

- R, O, U, X, Cố đáp, nhấn rõ từng con chữ.

Rõ ràng và chính xác, đó chẳng phải là một đức tính cần thiết bậc nhất của người viết sử sao?

Những mẩu giai thoại trên là lời giới thiệu có uy tín nhất về giá trị lịch sử của công trình “VESTIGES RELIGIEUX ET PROFANES DU VIEUX HUÉ”, một công trình tuy nhỏ bé nhưng thật sự cần thiết cho những ai hành hương đến Huế và nhất là cho những người con của vùng đất thánh thiêng này, vùng đất đã in vết tích các Thánh Tử Đạo của cả ba miền đất nước mà tác giả cũng như người dịch đã cố công ghi lại, chụp lại.



Huế ngày 08.01.2003

Lm. Augustinô Hồ Văn Quý

Giáo Phận Huế.

Lời Mở



“Vestiges Religieux et Profanes du Vieux Hué” của Cố Ngôn (J. B. Roux) được chuyển dịch như một đóng góp nhỏ nhân dịp Kỷ Niệm 15 Năm Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II tôn phong 117 Hiển Thánh Tử Đạo Việt Nam (1988-2003) với tựa đề “Vết Tích Chứng Nhân Đức Tin Của Huế Cổ”. Nay, nhân Kỷ Niệm 20 Năm Tôn Phong Các Thánh Tử Đạo Việt Nam (1988-2008), một lần nữa tập sách được tái bản với đề tựa mới, “Vết Máu Trên Huế Cổ”.

Tập sách này đề cập đến các chứng nhân và một số di tích đạo đời của Huế Cổ. Tác giả chỉ tập trung vào những gì đã xảy ra trên Kinh Thành Huế xưa, đặc biệt những nơi từng chứng kiến bao kỷ niệm đạo đức và anh hùng của các ngài trong thời bách hại dưới triều vua Cảnh Thịnh và các vua nhà Nguyễn.

Vì tôn trọng nguyên tác nên danh xưng “Chân phước” mà tác giả dùng vẫn được giữ lại, dù các ngài đã được tôn phong Hiển Thánh ngày 19. 6.1988.

Xin lưu ý, các chú thích được đánh số Ả Rập là của tác giả, các chú thích đánh dấu hoa thị (*) là của người dịch (ND.).


Con xin chân thành cám ơn Đức Tổng Giám Mục Giáo Phận, Đức Giám Mục Phụ Tá, Quý Cha và Quý Vị đã góp ý, cung cấp dữ liệu… để con có thể hoàn thành bản dịch này.

Nguyện các Thánh Tử Đạo Việt Nam, cách riêng các Đấng Anh Hùng của Giáo Phận Huế, luôn cầu bầu cho con cháu và tất cả những gì các ngài đã xây đắp bằng giá máu mình vì Danh Chúa Giêsu Kitô.

Huế, ngày 24.11.2007

Lễ Kính Các Thánh Tử Đạo Việt Nam.

Lm. Minh Anh, người dịch.


Nhập đề:

Tổng Quan và Bố Cục


Thành phố Huế hiện nay* chia làm 3 phần khá rõ rệt: 1. Phố Tây (la Ville Française) ở hữu ngạn sông Hương, mới chỉ thành lập khoảng 50 năm, nhưng sắp được mở rộng và làm đẹp dần từng ngày; 2. Phố Buôn của người An Nam (la Ville commerçante Annamite) ở tả ngạn sông Hương, được hình thành từ các chợ lớn và các tiệm buôn thiết lập cạnh hoàng thành. Người ta thường gọi chúng là các Phố; 3. Thành Nội (La Citadelle hay Ville murée, thành phố có tường bao quanh) cũng ở tả ngạn sông Hương, nhưng phía trên các khu buôn bán.

Thành phố nguyên thuỷ là Thành Nội, sau đó các Phố Buôn và Phố Tây đã phát triển dần dần gần bên nó. Tên gọi Phú Xuân (do tên ngôi làng, trên đó, thành phố được xây dựng) ngày xưa thông dụng hơn tên gọi Huế.

* *

*

“Sau khi chiếm phần đất của vương quốc Chăm lúc ấy gọi là Ô Châu (xứ đen) hay Ác Địa (đất dữ), các vua nhà Lê đã chính thức đặt tên cho nó là Thuận Hóa hay Thuận Huế (được khai hóa). Nhưng vì điều đó gợi lên rằng, miền này trước đây là một xứ man rợ, không văn minh; tên gọi ấy không thích hợp với vùng đất đã trở thành kinh đô của triều Nguyễn, nên vua Gia Long đặt cho nó một tên gọi mới, Quảng Đức (đức độ rộng mở).



Thành phố, nơi nhà vua đặt chỗ ở và xây cung điện, đầu tiên mang tên Vạn Xuân (mười ngàn mùa xuân), sau đó là Phú Xuân (mùa xuân giàu có) do tên của ngôi làng mà trên đó thành phố được xây dựng dần. Trong các tên gọi nên thơ này, người ta thích nhìn thấy đó là điềm báo về những phồn vinh tương lai của thành phố. Các nhà nho còn gọi nó vắn tắt là Xuân Kinh, Xuân Thành (kinh đô mùa xuân, thành phố mùa xuân). Dân chúng gọi đơn giản là Kinh.

Tên Huế, viết tắt Thuận Huế không mấy xuôi tai các nhà nho; dẫu thế, cư dân Nam kỳ vẫn thường dùng nó khi nói đến một doanh (hay dinh = tỉnh) được chính thức gọi là Quảng Đức. Người Âu châu thì nhận nó như là tên của kinh thành; đó là danh hiệu thông dụng cho đến ngày nay” 1.

Từ năm thứ 13 triều Minh Mạng (1832), doanh Quảng Đức được gọi là Thừa Thiên (thừa ủy của trời).

* *


*

Đầu thế kỷ 19, chính vua Gia Long đã cho xây một vòng thành bao quanh địa thế rộng lớn ấy để làm kinh đô của vương quốc mình. Kế vị ông, vua Minh Mạng đã hoàn tất công trình của thân phụ và biến nó nên Thành Nội như người ta còn thấy ngày nay.

Vòng thành này hình chữ nhật, chu vi đo được hơn 10km, có 10 cửa đi vào. Giữa các tường thành phía nam, tức là trước cổng chính của hoàng cung (cửa Ngọ Môn), một công trình phòng ngự nổi lên được gọi là “Chòi của vua” (cavalier du roi), tiếng An Nam gọi là Kỳ Đài. Ở đây, một cột cờ được dựng thẳng, trên đó phấp phới lá cờ hoàng gia.

Trong khu đất vuông vức rộng lớn này, người ta đã xây hoàng cung với tường cao, hào rộng, cổng lớn, như một thành phố trong thành phố *. Gần hoàng cung, những cơ quan dân sự và quân sự của kinh đô được thiết lập, đặc biệt là Lục Bộ và doanh trại các đội quân khác nhau. Trong Thành Nội, còn có các phòng xử án do các quan trông coi, các nhà tù, nhiều dinh thự cũng như nhiều kho vũ khí và lương thực thuộc hoàng gia v.v. Phần đất bỏ trống còn lại khá rộng nên nó được chiếm làm nhà tư, vườn tược, chùa chiền…

Cho đến năm 1885, hầu như tất cả vẫn giữ nguyên dạng như thời Gia Long và Minh Mạng đã kiến thiết. Nhưng cũng từ thời kỳ này, thời kỳ chứng kiến sự lưu trú của người Pháp và việc sửa đổi thể chế An Nam, dẫu chính quyền bảo hộ đã lập trụ sở bên hữu ngạn sông Hương, thì kinh thành cổ vẫn chịu nhiều biến đổi quan trọng. Thật ra, diện mạo chung của nó không thay đổi bao nhiêu, ngoại trừ phần phía bắc đã trở thành Nhượng Địa Pháp (Concession Française) bao gồm những doanh trại của một phần các đội quân Pháp và quân Đông Dương đóng tại Huế; nhưng vẻ bên ngoài ấy chỉ che giấu một phần nào cuộc sống và sinh hoạt chính thức của nó. Thật vậy, ngoài hoàng cung và lục bộ, hầu như mọi cơ quan dân sự và quân sự đều biến mất hoặc đã được chuyển đi nơi khác. Người ta cũng còn thấy ở đó nhiều ruộng lúa, đầm lầy và lắm phế tích ít nhiều quan trọng. Đôi khi, ngay chính các phế tích cũng đã biến mất để chỉ lưu lại một kỷ niệm ít nhiều rõ ràng.

Hồi sinh các phế tích ấy, làm sống lại các kỷ niệm ấy luôn là điều lý thú đối với sử gia; đôi khi, đó cũng là việc nghiên cứu rất ý vị đối với tâm hồn của người công giáo và nhất là của nhà truyền giáo. Bởi vì ở đó, người ta thường gặp các vết tích ghi dấu các Chân phước tử đạo và của nhiều vị tuyên tín đáng kính khác đã đi qua hay đã lưu lại: người Pháp lẫn người An Nam, linh mục lẫn giáo hữu. Ở đây, trong vòng thành này, họ đã phải ra trước các Toà án, chịu đau khổ trong các nhà tù suốt nhiều tháng; nhiều vị trải qua ở đó nhiều năm, thậm chí có người còn chết ở đó nữa; ở kia, trong vùng quê lân cận hoặc các khu chợ kề bên, một số lớn đã hoàn tất hy lễ của mình. Các con đường này là những con đường họ đã giẫm lên để đến trước các Toà án khác nhau, và để trở về lại - sau một cuộc tra tấn tàn bạo - trong các ngục tối khủng khiếp, hoặc với vai mang gông, tay mang xiềng tiến ra pháp trường, nơi họ sẽ nhận triều thiên tử đạo.



Tang thương tràn cả đất thiêng
Nơi tình chỉ để cho riêng đạo lành...
Dõi nhìn với cả lòng thành
Mới hay tro bụi long lanh phúc trời;
Mới hay dưới những rụng rơi
Hồn thiêng tử đạo: Làn hơi sinh thành

Lieux sacrés où l'amour pour les seuls biens de l'âme


Sut tant souffrir…
J'ai sondé du regard leur poussière bénie
Et j'ai compris
Que leur âme a laissé comme un souffle de vie
Sous ces débris”
2.

Đã có nhiều vị tuyên xưng đức tin và nhiều vị tử đạo dưới thời anh em Tây Sơn tiếm vị cuối thế kỷ 18. Nhưng đặc biệt dưới thời các vua Minh Mạng (1820-1841) Thiệu Trị (1841-1847) và Tự Đức (1847-1883), kinh đô nước An Nam đã chứng kiến, nói được là không ngừng, đức anh hùng của các mục tử và các tín hữu. Bằng lời nói và hành động của mình, họ khẳng định ngay trước mặt César hay các đại diện của ông rằng, khi cần tuyên xưng đức tin Kitô giáo thì phải vâng lời Thiên Chúa hơn là vâng lời người ta. Hành vi thù hận đầu tiên của Minh Mạng đối với người Công giáo xảy ra vào tháng 02 năm 1825 (Chỉ dụ cấm các thừa sai vào vương quốc), nhưng mãi đến năm 1831, các biện pháp bạo hành mới bắt đầu. Các cuộc bách hại kết thúc chính thức vào năm 1862, nhờ sự can thiệp của nước Pháp.

Hiển nhiên, các phế tích ấy rốt cuộc sẽ biến mất như số phận của những sự đời này; một số thậm chí đã nhường chỗ cho nhiều công trình mới. Nhưng phải sợ rằng chính ký ức, vì chẳng còn gắn liền với cái gì vật chất nữa, sẽ mờ nhạt dần và sau cùng bị xoá nhoà hẳn. Chính để ngăn cản trong mức độ có thể một sự mất mát đáng tiếc như thế, mà công trình khiêm tốn này được soạn thảo.

Được trước tác theo những dữ kiện lịch sử, những chỉ dẫn của các bô lão vốn biết được thời đại hào hùng của các cuộc bách hại và theo những chi tiết mô tả hiện thời được thu thập suốt nhiều cuộc hành hương đạo đức, tập sách sẽ nói đến tình trạng quá khứ và hiện tại của các nơi chốn đã được thánh hiến bởi các vị trưởng thượng của chúng ta trong sự nghiệp tông đồ. Chúng sẽ được mô tả như các Chân phước Tử đạo từng thấy, và như đôi mắt của khách hành hương xúc động chiêm ngưỡng hôm nay.

Trước tiên, chúng tôi sẽ nói về các Toà án và nhiều địa danh khác, nơi các linh mục và giáo dân đã tuyên tín trước các quan Toà của họ: chúng tôi sẽ gọi chúng dưới tên chung là Pháp đình; tiếp đến là nhiều Toà nhà khác nhau, nơi họ đã bị giam giữ như những tội nhân rao truyền Kitô giáo: chúng tôi sẽ gộp tất cả dưới hạn từ chung là Nhà Giam; và sau cùng là các Pháp Trường, nơi mà một số các vị tử đạo của chúng ta đã đổ máu đào vì Danh Đức Giêsu Kitô.

I

Các Pháp Đình của Huế Cổ




Các Pháp đình của Huế Cổ, nơi hầu Toà của các vị tuyên tín, gồm có : 1. Phủ Đường Thừa Thiên; 2. Bộ Hình; 3. Toà Tam Pháp. Chúng ta sẽ thêm vào đó 4. Cửa Ngọ Môn; 5. Các chợ, công trường và đường phố, vì ở đó đức tin Kitô giáo cũng đã được tuyên xưng, và cuối cùng 6. Phu Văn Lâu, nơi công bố các Sắc chỉ cấm đạo.
1- Phủ Đường Thừa Thiên



  1   2   3   4   5   6   7


Cơ sở dữ liệu được bảo vệ bởi bản quyền ©hocday.com 2019
được sử dụng cho việc quản lý

    Quê hương